Đánh giá hoạt tính của tro bay theo phương pháp trực tiếp và gián tiếp

Tóm tắt: Tính chất hóa học và vật lý của tro bay phụ thuộc vào nguồn gốc của than đá cũng như

công nghệ đốt của nhà máy nhiệt điện. Do vậy, việc đánh giá tính chất hóa học, thành phần

khoáng, tính chất vật lý và độ hoạt tính của tro bay là cần thiết. Trong nghiên cứu này, đánh giá độ

hoạt tính của tro bay theo hai phương pháp (phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp) đã

được thực hiện cũng như xem xét mối liên hệ giữa kết quả của hai phương pháp. Phương pháp trực

tiếp là xác định lượng canxi hyđroxit phản ứng với tro bay bằng thiết bị phân tích nhiệt trọng lượng

và phương pháp gián tiếp là xác định chỉ số hoạt tính cường độ nén. Kết quả đạt được cho thấy:

các chỉ tiêu thí nghiệm của tro bay nghiên cứu thỏa mãn yêu cầu là loại phụ gia khoáng hoạt tính

theo TCVN 10302:2014; đồng thời kết quả của phương pháp trực tiếp là cơ sở để giải thích hiệu

quả của tro bay trong phát triển cường độ nén theo phương pháp gián tiếp thông qua hiệu ứng

puzơlanic.

pdf 7 trang phuongnguyen 20460
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá hoạt tính của tro bay theo phương pháp trực tiếp và gián tiếp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá hoạt tính của tro bay theo phương pháp trực tiếp và gián tiếp

Đánh giá hoạt tính của tro bay theo phương pháp trực tiếp và gián tiếp
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 63 (12/2018) 10 
BÀI BÁO KHOA HỌC 
ĐÁNH GIÁ HOẠT TÍNH CỦA TRO BAY THEO PHƯƠNG PHÁP 
TRỰC TIẾP VÀ GIÁN TIẾP 
Nguyễn Văn Hướng1 
Tóm tắt: Tính chất hóa học và vật lý của tro bay phụ thuộc vào nguồn gốc của than đá cũng như 
công nghệ đốt của nhà máy nhiệt điện. Do vậy, việc đánh giá tính chất hóa học, thành phần 
khoáng, tính chất vật lý và độ hoạt tính của tro bay là cần thiết. Trong nghiên cứu này, đánh giá độ 
hoạt tính của tro bay theo hai phương pháp (phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp) đã 
được thực hiện cũng như xem xét mối liên hệ giữa kết quả của hai phương pháp. Phương pháp trực 
tiếp là xác định lượng canxi hyđroxit phản ứng với tro bay bằng thiết bị phân tích nhiệt trọng lượng 
và phương pháp gián tiếp là xác định chỉ số hoạt tính cường độ nén. Kết quả đạt được cho thấy: 
các chỉ tiêu thí nghiệm của tro bay nghiên cứu thỏa mãn yêu cầu là loại phụ gia khoáng hoạt tính 
theo TCVN 10302:2014; đồng thời kết quả của phương pháp trực tiếp là cơ sở để giải thích hiệu 
quả của tro bay trong phát triển cường độ nén theo phương pháp gián tiếp thông qua hiệu ứng 
puzơlanic. 
Từ khóa: Tro bay, phụ gia khoáng, puzơlanic, nhiệt trọng lượng, bê tông. 
1. ĐẶT VẤN ĐỀ* 
Tro bay là bụi khí thải mịn sinh ra do quá 
trình đốt cháy nhiên liệu than đá trong các nhà 
máy nhiệt điện. Tro bay được thu gom từ bụi 
thải qua ống khói nhà máy bằng bộ lắng tĩnh 
điện hoặc túi lọc, nó có thể tái sử dụng hoặc thải 
bỏ. Dưới dạng đổ đống tro bay nhìn giống như 
xi măng, tuy nhiên chúng khác nhau về thành 
phần hóa học. Tùy theo nguồn gốc than đá, công 
nghệ đốt và mục đích sử dụng mà tro bay có thể 
sử dụng trực tiếp chưa tuyển hoặc đã qua công 
nghệ xử lý tuyển khô hoặc tuyển ướt để loại bớt 
thành phần không mong muốn, nhằm nâng cao 
thành phần và chất lượng hữu ích trong sử dụng. 
Theo TCVN 10302:2014 (Hội công nghiệp 
bê tông Việt Nam, 2014), tùy thuộc vào chỉ tiêu 
chất lượng, tro bay có thể được xác định là loại 
phụ gia khoáng hoạt tính dùng cho bê tông, vữa 
xây và xi măng; cũng theo tiêu chuẩn này, tro 
bay được phân thành hai loại là tro bay loại F 
(tro axit - acid ash) và tro bay loại C (tro bazơ - 
base ash). Ngoài ra, nếu tro bay dùng cho bê 
1 Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên nước, Trường Đại 
học Bách Khoa – Đại học Đà Nẵng 
tông đầm lăn thì tính chất của nó phải phù hợp 
với TCVN 8825:2011 (Hội Công nghiệp Bê 
tông Việt Nam, 2011). Khác với tro bay loại C 
có hàm lượng CaO cao nên ngoài thuộc tính 
puzơlanic nó còn có thuộc tính xi măng, còn đối 
với tro bay loại F do có hàm lượng CaO thấp 
nên nó có thuộc tính puzơlanic là chủ yếu, do đó 
việc đánh giá độ hoạt tính puzơlanic (pozzolanic 
reactivity) là cần thiết đối với tro bay loại F để 
có thể sử dụng hiệu quả của tro bay loại này 
dùng cho bê tông (Das, S. K, 2006). 
Đặc tính quan trọng của tro bay loại F là khả 
năng tác dụng với Ca(OH)2 theo phản ứng 
puzơlanic (2SiO2 + 3Ca(OH)2 → 3CaO. 2SiO2. 
3H2O) tạo thành canxi silicat hydrate thứ cấp 
(C–S–H: 3CaO.2SiO2.3H2O). Do đó, khi thay 
thế một phần xi măng bằng tro bay trong bê 
tông sẽ dẫn đến sự gia tăng cường độ sau cùng 
(Isaia, G. C. et al, 2003); giảm độ rỗng và tăng 
độ bền của bê tông (Leklou, N. et al, 2017); 
ngoài ra, nó cũng mang lại các hiệu quả đáng kể 
khác như tăng tính công tác, giảm tách nước, 
phân tầng và giảm nhiệt hyđrat hóa của hỗn hợp 
bê bông tươi (Sarker, P. & McKenzie, L, 2009). 
Độ hoạt tính puzơlanic của tro bay phụ thuộc 
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 63 (12/2018) 11 
vào loại và lượng của pha vô định hình 
(amorphous phases), độ mịn và lượng mất khi 
nung. Các nghiên cứu của (Dhir, R. K. et al, 
1981) và (Joshi, R. C & Lohita, R. P, 1997) đã 
xây dựng mối quan hệ giữa cường độ nén mẫu 
vữa và bê tông của hỗn hợp chất kết dính xi 
măng – tro bay với thành phần hóa học và độ 
mịn của tro bay, kết quả nghiên cứu của họ chỉ 
ra rằng: các tính chất về lượng mất khi nung, độ 
mịn và lượng của pha vô định hình có ảnh 
hưởng đến cường độ nén tuy nhiên đã không chỉ 
ra được mối quan hệ rõ ràng nào giữa cường độ 
nén với một trong ba tính chất nêu trên. 
Hiện nay, có nhiều phương pháp để đánh giá 
độ hoạt tính của vật liệu puzơlan (tro bay, mê-
ta-cao-lanh, muội silic, tro trấu) đã được đề xuất 
và có thể phân thành hai nhóm là nhóm phương 
pháp thực tiếp và nhóm phương pháp gián tiếp. 
Phương pháp trực tiếp là xác định quá trình khả 
năng phản ứng của vật liệu puzơlan với 
Ca(OH)2 thông qua các thiết bị thí nghiệm như 
nhiễu xạ tia X (X-ray diffraction: XRD), phân 
tích nhiệt trọng lượng (thermo-gravimetric 
analysis: TGA) hay chuẩn độ hóa học (chemical 
titration). Phương pháp gián tiếp là xác định đặc 
tính vật lý của mẫu thử như cường độ nén, độ 
dẫn điện hay xác định sự phát triển nhiệt bằng 
thiết bị đo nhiệt lượng (calorimetry) sinh ra. 
Trong bài báo này, tác giả phân tích thành 
phần hóa học của tro bay bằng phương pháp 
nhiễu xạ tia X, sau đó đánh giá độ hoạt tính của 
tro bay theo phương pháp phân tích nhiệt trọng 
lượng và phương pháp xác định cường độ nén 
của mẫu. Kết quả đạt được cho thấy: các chỉ tiêu 
thí nghiệm của tro bay nghiên cứu thỏa mãn yêu 
cầu là loại phụ gia hoạt tính theo TCVN 
10302:2014; đồng thời kết quả của phương pháp 
trực tiếp là cơ sở để giải thích hiệu quả của tro 
bay trong phát triển cường độ nén theo phương 
pháp gián tiếp thông qua hiệu ứng puzơlanic. 
2. NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 
2.1 Vật liệu thí nghiệm 
- Tro bay: nghiên cứu dùng loại tro bay lấy 
trực tiếp chưa tuyển ở một nhà máy nhiệt điện ở 
miền Trung được cung cấp bởi Công ty Cổ phần 
Xuất nhập khẩu Vật liệu xanh có độ ẩm 2.8% và 
thành phần hóa học của tro bay như ở Bảng 1. 
Các chỉ tiêu ở Bảng 1 cho thấy loại tro bay 
nghiên cứu phù hợp với tro bay hoạt tính loại F 
dùng cho bê tông, vữa xây và xi măng theo 
TCVN 10302:2014. 
- Xi măng: xi măng dùng thí nghiệm là loại 
xi măng Pooclăng PC40 phù hợp với TCVN 
2682:2009 (Viện Vật liệu xây dựng, 2009) và 
ISO 9001-2008. 
- Canxi hydroxit Ca(OH)2: dạng bột mịn màu 
trắng với hàm lượng Ca(OH)2 98% được dùng 
để chế bị mẫu hồ tro bay – vôi để xác định độ 
hoạt tính theo phương pháp nhiệt trọng lượng. 
- Cát: là loại cát tiêu chuẩn Beltech dùng để 
thử nghiệm xác định cường độ của ximăng, loại 
cát này phù hợp theo TCVN 6227:1996 (Viện 
Vật liệu xây dựng, 1996) và ISO 679. 
- Nước: Nước dùng để bảo dưỡng mẫu, trộn 
vữa và hồ phù hợp với TCVN 4506: 2012 (Viện 
Khoa học Công nghệ Xây dựng, 2012). 
Bảng 1. Thành phần hóa học của tro bay 
Thành phần SiO2 Al2O3 Fe2O3 SO3 Na2O K2O Cl- CaOtd LOI 
% theo khối lượng 56.3 22.62 5.91 0.49 0.15 0.19 0.007 0.0 2.94 
2.2 Thiết bị thí nghiệm 
Nghiên cứu đã sử dụng các thiết bị gồm: máy 
nhiễu xạ tia X, máy phân tích nhiệt trọng lượng 
và các thiết bị xác định cường độ nén mẫu vữa. 
- Máy nhiễu xạ tia X (X-ray diffraction: 
XRD): thành phần khoáng của tro bay được xác 
định bằng nhiễu xạ tia X loại Rigaku SmartLab, 
điều khiển thực hiện thí nghiệm với bức xạ 
CuK , cường độ dòng điện 30 mA, hiệu điện 
thế 40 kV và góc nhiễu xạ 2 = 10o – 70o (bước 
0.01o). 
- Máy phân tích nhiệt trọng lượng (thermo-
gravimetric analysis: TGA): thiết bị TGA loại 
PerkinElmer STA 6000, phân tích mẫu được 
thực hiện trong môi trường khí ni tơ, tốc độ gia 
tăng nhiệt độ 5oC/ phút từ 25oC đến 600oC. 
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 63 (12/2018) 12 
- Các thiết bị xác định cường độ mẫu vữa 
gồm: máy trộn vữa dung tích 5 lít, khuôn đúc 
vữa (4x4x16)cm, máy xác định cường độ nén và 
uốn vữa loại Matest E160-01D phù hợp với 
TCVN 3121:2003 (Viện Khoa học Công nghệ 
Xây dựng, 2003). 
2.3 Chương trình thí nghiệm 
Để đánh giá độ hoạt tính của tro bay theo 
thời gian (3 ngày, 7 ngày, 14 ngày và 28 ngày), 
nghiên cứu này đã tiến hành theo cả phương 
pháp trực tiếp và gián tiếp: 
- Phương pháp trực tiếp: dựa trên nguyên 
tắc giảm khối lượng của mẫu (ghi nhận được 
do máy phân tích nhiệt trọng lượng 
PerkinElmer STA 6000) do Ca(OH)2 chưa 
phản ứng phân hủy trong khoảng nhiệt độ từ 
4000C ÷ 5000C thành CaO và H2O (bốc hơi), 
từ đó xác định chỉ số hoạt tính IL tính bằng 
phần trăm của tỷ số của lượng vôi đã phản 
ứng với tro bay so với lượng vôi ban đầu. Mẫu 
hồ tro bay – vôi được tạo thành với tỷ lệ giữa 
(tro bay: vôi) là 1:1 và tỷ lệ nước trên tổng 
lượng tro bay và vôi là 0.55 (Pourkhorshidi, 
A. R. et al, 2010). Mẫu hồ được cho vào bốn 
bình nhựa dung tích 15 ml có nắp đậy để ngăn 
trao đổi ẩm và quá trình cacbonat hoá, bình 
đựng mẫu đặt trong phòng thí nghiệm có nhiệt 
độ (27 ± 1)oC. 
Bảng 2. Cấp phối mẫu hồ tro bay – vôi xác 
định độ hoạt tính IL, đơn vị (g) 
Tro bay Ca(OH)2 Nước 
140.0 138.97 139.9 
- Phương pháp gián tiếp: xác định chỉ số 
hoạt tính cường độ (IR) với xi măng poóc lăng 
sau n ngày theo TCVN 6882 : 2001 (Viện 
Khoa học Công nghệ Vật liệu xây dựng, 
2001). IR tính bằng phần trăm của tỷ số giữa 
độ bền nén của mẫu xi măng poóc lăng pha 
20% tro bay sau n ngày (RB) và độ bền nén 
của mẫu xi măng poóc lăng nền (không pha 
phụ gia) sau n ngày (RA). Về cơ bản cách xác 
định chỉ số hoạt tính cường độ của tro bay 
theo TCVN 6882 : 2001 là tương đồng với 
tiêu chuẩn ASTM C618 (Standard, 2008). 
Bảng 3. Cấp phối mẫu vữa xác định chỉ số 
hoạt tính cường độ IR, đơn vị (g) 
Mẫu Xi 
măng 
Tro 
bay 
Cát Nước 
A(0 % tro) 450 0 1350 225 
B(20% tro) 360 90 1350 225 
3. KẾT QUẢ VÀ NHẬN XÉT 
Kết quả phân tích thành phần khoáng của tro 
bay bằng nhiễu xạ tia X được biểu diễn như ở 
Hình 1. Kết quả thu được cho thấy: tro bay 
nghiên cứu chứa các thành phần chủ yếu gồm 
silica (quart: SiO2), mullite (Al6Si2O13) và một 
lượng nhỏ hematite và canxi ôxit. Phổ nhiễu xạ 
thể hiện các đỉnh cao nhất tại 2 = 200 ÷ 300 
được xác định bởi các khoáng vô định hình 
silica chiếm chủ yếu và mullite. 
Hình 1. Kết quả phổ nhiễu xạ tia X của tro bay 
Kết quả phân tích nhiệt trọng lượng được 
thể hiện dưới dạng thay đổi khối lượng TG 
(giảm khối lượng) và tốc độ thay đổi khối 
lượng (derivative thermogravimetric: dm/dt) 
của các mẫu hồ tro bay – vôi ở các thời điểm 
phân tích 3 ngày, 7 ngày, 14 ngày và 28 ngày 
bằng thiết bị PerkinElmer STA 6000 được 
trình bày như ở Hình 2. 
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 63 (12/2018) 13 
 Hình 2. Kết quả phân tích nhiệt trọng lượng 
của mẫu hồ tro bay – vôi ở các thời điểm 
phân tích 3, 7, 14 và 28 ngày 
Theo (Askarinejad, A. et al, 2012) phản ứng 
puzơlanic giữa các thành phần của tro bay như 
silica, alumina và oxit sắt với Ca(OH)2 tạo thành 
các gel C-S-H (calcium silicate hydrate), C-A-H 
(calcium aluminate hydrate) theo phản ứng: 
Tro bay + Ca(OH)2 C-S-H + C-A-H + 
 (Askarinejad, A. et al, 2012) 
Do vậy, lượng Ca(OH)2 phản ứng tại các thời 
điểm phân tích là thông số thể hiện độ hoạt tính 
của tro bay hay các loại vật liệu puzơlan khác. Kết 
quả ở Hình 2 cho thấy: các đường biểu diễn TG 
thể hiện một sự giảm khối lượng nhanh trong 
khoảng nhiệt độ từ 400oC÷500oC và các đường 
DTG đều xuất hiện các đáy sâu tại nhiệt độ 
khoảng 450oC, kết quả này là do sự phân hủy của 
Ca(OH)2 thành CaO và H2O (bốc hơi làm giảm 
khối lượng mẫu). Kết quả cũng chỉ ra lượng vôi 
còn dư (chưa phản ứng với tro bay) giảm dần theo 
các thời điểm phân tích từ 3 ngày đến 28 ngày. Từ 
kết quả phân tích bởi thiết bị PerkinElmer STA 
6000 như ở Hình 2, cấp phối mẫu tro bay – vôi ở 
Bảng 2, khối lượng mẫu thí nghiệm ban đầu (khối 
lượng mẫu ở 25oC ở Bảng 4) và phương trình 
phân hủy vôi (Ca(OH)2 CaO + H2O) thì 
lượng vôi phản ứng (hay độ hoạt tính) được xác 
định như ở Bảng 4 và biểu diễn như ở Hình 3. 
Bảng 4. Kết quả tính toán độ hoạt tính của tro bay theo phương pháp nhiệt trọng lượng 
Khối lượng (mg) Thời 
gian 
(ngày) 
Mẫu 
(25oC) 
Tại 
400oC 
Tại 
500oC 
 m 
400-
500oC 
Ca(OH)2 
dư 
Ca(OH)2 
ban đầu 
Ca(OH)2 
Phản 
ứng 
Lượng 
Ca(OH)2 
phản ứng 
IL(%) 
3 27.850 214.413 212.489 1.924 7.913 8.893 0.98 11.02 
7 23.203 213.720 212.266 1.454 5.980 7.409 1.429 19.29 
14 20.721 206.519 205.423 1.096 4.508 6.617 2.109 31.88 
28 23.415 205.887 204.830 1.057 4.347 7.477 3.130 41.86 
Kết quả xác định cường độ nén vữa của mẫu 
nền (A), mẫu thay 20% xi măng poóc lăng bằng 
tro bay (B) và chỉ số hoạt tính IR theo cường độ 
nén của loại tro bay nghiên cứu ở các thời điểm 
3, 7, 14 và 28 ngày như ở Bảng 5 và biểu diễn 
dưới dạng biểu đồ như ở Hình 4. Kết quả cho 
thấy ở thời điểm 3 ngày mẫu có tro bay chỉ đạt 
cường độ nén bằng 77.4% so với cường độ của 
mẫu nền; tuy nhiên, sau 3 ngày thì tốc độ phát 
triển cường độ của nó nhanh hơn (do đó chỉ số 
hoạt tính cường độ tăng dần) điều này được 
minh chứng bằng độ dốc của đường quá trình 
phát triển cường độ nén theo thời gian của Rb 
lớn hơn Ra như ở Hình 4; ở thời điểm hai 28 
ngày, chỉ số hoạt tính cường độ của tro bay 
nghiên cứu đạt 98.11%, do vậy nó thỏa mãn 
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 63 (12/2018) 14 
yêu cầu kỹ thuật là tro bay hoạt tính loại F 
dùng cho xi măng. 
Hình 3. Kết quả xác định lượng Ca(OH)2 
phản ứng ở các thời điểm phân tích 3, 7, 14 
và 28 ngày 
Bảng 5. Kết quả tính toán chỉ số hoạt tính 
cường độ IR 
Thời gian 
(ngày) 
RA 
(MPa) 
RB 
(MPa) 
IR(%) 
3 27.87 21.57 77.40 
7 33.59 29.96 89.19 
14 37.76 35.50 94.01 
28 44.95 44.10 98.11 
Hình 4. Quá trình phát triển cường độ và chỉ số 
hoạt tính cường độ IR 
Ngoài ra, tác giả đã thể hiện tương quan giữa 
phát triển cường độ và lượng Ca(OH)2 phản ứng 
để xem xét hiệu quả của phản ứng puzơlanic (độ 
hoạt tính của tro bay thông qua tác dụng với 
vôi) đến sự phát triển cường độ nén của mẫu 
vữa chứa tro bay như ở Hình 5. 
Hình 5. Tương quan giữa phát triển cường độ IR 
và lượng Ca(OH)2 phản ứng IL 
Kết quả ở Hình 5 cho thấy khi lượng vôi 
phản ứng (IL) càng tăng thì chỉ số hoạt tính 
cường độ (IR) cũng tăng theo và quan hệ giữa 
hai đại lượng này được biểu diễn bằng hàm lũy 
thừa (IR=52.03*IL0.17). Kết quả này là phù hợp 
bởi vì khi lượng Ca(OH)2 phản ứng càng tăng 
đồng nghĩa với lượng phản ứng puzơlanic xảy 
ra càng nhiều do đó các gen C-S-H thứ cấp sinh 
ra càng nhiều sẽ góp phần cải thiện cường độ 
của mẫu chứa tro bay dẫn đến chỉ số hoạt tính 
cường độ cũng tăng theo thời gian. 
4. KẾT LUẬN 
Từ các kết quả thí nghiệm xác định lượng vôi 
phản ứng với tro bay theo phương pháp phân 
tích nhiệt trọng lượng và xác định chỉ số hoạt 
tính cường độ đối với xi măng. Nghiên cứu này 
đưa ra một số kết luận như sau: 
- Lượng Ca(OH)2 phản ứng trong mẫu tro 
bay - vôi theo thời gian được xác định bằng 
phương pháp nhiệt trọng lượng (thermo 
gravimetric analysis) được xem là thông số quan 
trọng để xác định độ hoạt tính của tro bay nói 
riêng và các loại vật liệu puzơlanic khác nói 
chung thông qua hiệu ứng puzơlanic 
(pozzolanic effect). Thông số này ảnh hưởng 
trực tiếp đến việc hình thành các gen C-S-H và 
C-A-H thứ cấp ảnh hưởng quan trọng đến sự 
phát triển cường độ và độ đặc của vật liệu sử 
dụng hỗn hợp chất kết dính xi măng – tro bay; 
- Kết quả phân tích độ hoạt tích của tro bay 
nghiên cứu theo phương pháp trực tiếp và gián 
tiếp chỉ ra mối tương quan giữa phần trăm lượng 
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 63 (12/2018) 15 
vôi phản ứng với tro bay (IL) và chỉ số hoạt tính 
cường độ đối với xi măng (IR) theo hàm lũy 
thừa (IR=52.03*IL0.17); 
- Các chỉ tiêu thí nghiệm được đối với loại 
tro bay nghiên cứu lấy trực tiếp từ nhà máy 
nhiệt điện không qua tuyển đều thỏa mãn là loại 
phụ gia khoáng hoạt tính tro bay loại F dùng 
cho bê tông, vữa xây và xi măng theo TCVN 
10302:2014. 
Lời cảm ơn: "Nghiên cứu này được tài trợ 
bởi Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ 
Đại học Đà Nẵng trong đề tài mã số B2017-
ĐN02-26" 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
Hội công nghiệp bê tông Việt Nam. (2014). TCVN 10302:2014 Phụ gia hoạt tính tro bay dùng cho 
bê tông, vữa xây và xi măng. Bộ Khoa học và Công nghệ. 
Hội Công nghiệp Bê tông Việt Nam. (2011). TCVN 8825:2011 Phụ gia khoáng cho bê tông đầm 
lăn. Bộ Khoa học và Công nghệ. 
Viện Khoa học Công nghệ Vật liệu xây dựng. (2001). TCVN 6882: 2001 Phụ gia khoáng cho xi 
măng. Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường. 
Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng. (2003). TCVN 3121:2003 vữa xây dựng - phương pháp thử, 
phần 11: xác định cường độ uốn và nén của vữa đã đóng rắn. Bộ Khoa học và Công nghệ. 
Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng. (2012). TCVN 4506: 2012 Nước cho bê tông và vữa - yêu cầu 
kỹ thuật. Bộ Khoa học và Công nghệ. 
Viện Vật liệu xây dựng. (1996). TCVN 6227:1996 Cát tiêu chuẩn iso để xác định cường độ của xi 
măng. Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường chất lượng. 
Viện Vật liệu xây dựng. (2009). TCVN 2682:2009 Xi măng pooc lăng - Yêu cầu kỹ thuật. Bộ Khoa 
học và Công nghệ. 
Askarinejad, A., Pourkhorshidi, A. R., & Parhizkar, T. (2012). Evaluation the pozzolanic reactivity of 
sonochemically fabricated nano natural pozzolan. Ultrasonics Sonochemistry, 19(1), 119–124. 
Das, S. K. (2006). A simplified model for prediction of pozzolanic characteristics of fly ash, based 
on chemical composition. Cement and Concrete Research, 36(10), 1827–1832. 
Dhir, R. K., Munday, J. G. L., & Ong, L. T. (1981). Strength variability of OPC/PFA concrete. 
Concrete, 15(6). 
Isaia, G. C., GASTALDInI, A. L. G., & Moraes, R. (2003). Physical and pozzolanic action of 
mineral additions on the mechanical strength of high-performance concrete. Cement and 
Concrete Composites, 25(1), 69–76. 
Joshi, R. C., & Lohita, R. P. (1997). Fly ash in concrete: production, properties and uses (Vol.2). 
CRC Press. 
Leklou, N., Nguyen, V.-H., & Mounanga, P. (2017). The effect of the partial cement substitution 
with fly ash on Delayed Ettringite Formation in heat-cured mortars. KSCE Journal of Civil 
Engineering, 21(4), 1359–1366. 
Nath, P., & Sarker, P. (2011). Effect of fly ash on the durability properties of high strength concrete. 
Procedia Engineering, 14(2011), 1149. 
Pourkhorshidi, A. R., Najimi, M., Parhizkar, T., Jafarpour, F., & Hillemeier, B. (2010). 
Applicability of the standard specifications of ASTM C618 for evaluation of natural pozzolans. 
Cement and Concrete Composites, 32(10), 794–800. 
Sarker, P., & McKenzie, L. (2009). Strength and hydration heat of concrete using fly ash as a 
partial replacement of cement. In Proceedings of the 24th Biennial Conference of the Concrete 
Institute Australia. Concrete Institute of Australia. 
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 63 (12/2018) 16 
Standard, A. (2008). C618-08a: Standard Specification for Coal Fly Ash and Raw or Calcined 
Natural Pozzolan for Use in Concrete. Annual Book of ASTM Standards. 
Abstract: 
EVALUATION OF POZZOLANIC ACTIVITY OF FLY ASH BY DIRECT AND 
INDIRECT METHODS 
Physical and chemical characteristics of fly ash depend on the origin of the coal as well as its 
combustion technology in the power plant. Thus, chemical, mineralogical, physical and activity 
characterizations of the fly ash were considered to evaluate. In this research, two test methods 
(direct method and indirect method) have been used to assess the pozzolanic activity of fly ash, and 
the results from each test is correlated with each other. The direct method was the 
thermogravimetric analysis test by measuring reacted calcium hydroxide content and the indirect 
method used was the compressive strength activity index test. The obtained results showed that, 
experimental criterias of the fly ash studied conforming to the requirements of activity mineral 
admixture - fly ash for concrete, mortar and cement according to standard TCVN 10302: 2014; 
Contemporaneously, results of the direct method are the basis for explaining the effect of fly ash in 
the development compressive strength by indirect method through the puzzolanic effect. 
Keywords: Fly ash, Mineral admixture, Pozzolanic, Thermogravimetric analysis, Concrete. 
Ngày nhận bài: 16/10/2018 
Ngày chấp nhận đăng: 08/11/2018 

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_hoat_tinh_cua_tro_bay_theo_phuong_phap_truc_tiep_va.pdf