Phẫu thuật nội soi toàn bộ không có robot hỗ trợ, tim đập vá thông liên nhĩ: kinh nghiệm ở một trung tâm
60 bệnh nhân (người lớn/trẻ nhỏ: 41/19;
tuổi trung bình: 29,1 ± 18,7, từ 2 đến 61
tuổi)với chẩn đoán TLN thứ phát được lựa
chọn vào nghiên cứu.Trong đó có 38 bệnh
nhân (BN)TLN đơn thuần, 5 BNTLN kèm
tĩnh mạch phổi (TMP) lạc chỗ bán phần, 17
BN TLN kèm hở van ba lá (VBL) nhiều.
Đặt 3 trocar 5mm và 1 trocar 12mm, chỉ
thắt TMC trên, làm đầy khoang màng phổi
bằng CO2, tim đập trong quá trình mổ. Lỗ
thông được đóng bằng miếng vá nhân tạo
hoặc khâu trực tiếp, TMP lạc chỗ được tạo
đường hầm dẫn máu về nhĩ trái (NT), sửa
VBL bằng cách đặt vòng van hoặc phương
pháp De Vega. Không có biến chứng liên
quan phẫu thuật và tử vong sau mổ
Bạn đang xem tài liệu "Phẫu thuật nội soi toàn bộ không có robot hỗ trợ, tim đập vá thông liên nhĩ: kinh nghiệm ở một trung tâm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Phẫu thuật nội soi toàn bộ không có robot hỗ trợ, tim đập vá thông liên nhĩ: kinh nghiệm ở một trung tâm
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 18 - THÁNG 10/2017 26 PHẪU THUẬT NỘI SOI TOÀN BỘ KHÔNG CÓ ROBOT HỖ TRỢ, TIM ĐẬP VÁ THÔNG LIÊN NHĨ: KINH NGHIỆM Ở MỘT TRUNG TÂM Đặng Quang Huy*, Phạm Thị Kim Lan*, Nguyễn Công Hựu*, Trương Thanh Hương**, Lê Ngọc Thành* TÓM TẮT 60 bệnh nhân (ngƣời lớn/trẻ nhỏ: 41/19; tuổi trung bình: 29,1 ± 18,7, từ 2 đến 61 tuổi)với chẩn đoán TLN thứ phát đƣợc lựa chọn vào nghiên cứu.Trong đó có 38 bệnh nhân (BN)TLN đơn thuần, 5 BNTLN kèm tĩnh mạch phổi (TMP) lạc chỗ bán phần, 17 BN TLN kèm hở van ba lá (VBL) nhiều. Đặt 3 trocar 5mm và 1 trocar 12mm, chỉ thắt TMC trên, làm đầy khoang màng phổi bằng CO2, tim đập trong quá trình mổ. Lỗ thông đƣợc đóng bằng miếng vá nhân tạo hoặc khâu trực tiếp, TMP lạc chỗ đƣợc tạo đƣờng hầm dẫn máu về nhĩ trái (NT), sửa VBL bằng cách đặt vòng van hoặc phƣơng pháp De Vega. Không có biến chứng liên quan phẫu thuật và tử vong sau mổ. Thời gian mổ và thời gian chạy máy trung bình lần lƣợt là 234,2± 54,3 (phút) và 132 ± 46,9 (phút). BN đƣợc rút nội khí quản trong vòng 8 giờ đầu, dẫn lƣu trong ngày đầu < 80ml. Ngày thứ 4 sau mổBN không cần dùng thuốc giảm đau và trở về với sinh hoạt bình thƣờng sau mổ 1 tuần. Phẫu thuật NSTB vá TLN tim đập là phƣơng pháp an toàn, ngƣời bệnh hồi phục sớm, sẹo mổ có giá trị thẩm mỹ cao đặc biệt ở phụ nữ và trẻ gái. Từ khóa: Thông liên nhĩ, phẫu thuật nội soi toàn bộ, tim đập, robot. I. ĐẶT VẤN ĐỀ Thông liên nhĩ là một trong số những bệnh TBS thƣờng gặp nhất, chiếm từ 6-10% tổng số các dị tật TBS. Hơn 20 năm trở lại đây, tim mạch can thiệp là lựa chọn hàng đầu tại hầu hết các quốc gia trên thế giới với nhiều ƣu điểm.[1, 2] Mặc dù vậy vẫn còn nhiều dạng TLN không bịt đƣợc dù cũng nhƣ nhiều biến chứng lâu dài của bịt dù TLN đƣợc ghi nhận.[2, 3]Nhiều năm trở lại đây, có nhiều báo cáo về áp dụng PT NSTB với sự hỗ trợ của hệ thống robot Da Vinci trong điều trị bệnh TLN đem lại kết quả rất tốt với thời gian hồi phục sớm và sẹo mổ có tính thẩm mỹ cao.[4-6] Tuy vậy chi phí đào tạo và chi phí phẫu thuật cao là rào cản lớn cho việc ứng dụng rộng rãi kỹ thuật hiện đại này ở những nƣớc đang phát triển. Trên thế giới chƣa có nhiều báo cáo về NSTB không cần hỗ trợ của robot để đóng TLN, đặc biệt ở trẻ nhỏ. Trong nghiên cứu này, chúng tôi báo cáo kinh nghiệm áp dụng NSTB sửa chữa bệnh TLN không có robot hỗ trợ qua 4 lỗ trocar nhỏ tại trung tâm của chúng tôi.4 II. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Lựa chọn bệnh nhân Trong khoảng thời gian từ tháng 5/2016 đến tháng 9/2017, 60 BN TLN lỗ thứ phát * Trung tâm tim mạch, Bệnh viện E ** Khoa nhi, viện tim mạch quốc gia, Bệnh viện Bạch Mai Người chịu trách nhiệm khoa học: GS.TS. Lê Ngọc Thành Ngày nhận bài: 01/10/2017 - Ngày Cho Phép Đăng: 05/10/2017 Phản Biện Khoa học: GS.TS. Bùi Đức Phú PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng PHẪU THUẬT NỘI SOI TOÀN BỘ KHÔNG CÓ ROBOT HỖ TRỢ, TIM ĐẬP VÁ THÔNG LIÊN NHĨ... 27 (bao gồm: 38 BN TLN đơn thuần, 5 BN TLN kèm TMP lạc chỗ bán phần, 17 BN TLN kèm hở VBL nhiều) đƣợc lựa chọn và điều trị bằng phƣơng pháp phẫu thuật NSTB không có robot hỗ trợ, tim đập. Đối tƣợng lựa chọn bao gồm cả ngƣời lớn và trẻ nhỏ với những tiêu chuẩn lựa chọn gồm: (1) chẩn đoán TLN lỗ thứ phát đơn thuần, TLN thể xoang tĩnh mạch, TLN kèm theo TMP lạc chỗ bán phần, TLN kèm theo sửa VBL; (2) cân nặng > 13kg. Tất cả BN đƣợc siêm âm doppler kiểm tra tình trạng động mạch (ĐM) chậu đùi trƣớc mổ. Những trƣờng hợp xơ vữa hẹp ĐM chậu đùi, kích thƣớc ĐM đùi quá nhỏ không thiết lập đƣợc tuần hoàn ngoại vi bị loại ra khỏi nghiên cứu. BN TLN lỗ tiên phát hoặc TLN kèm bệnh lý khác không đƣợc lựa chọn. Bảng 1: Các thông số nhân trắc học và thông số trƣớc mổ (n=60) Tuổi (năm) 29,1 ± 18,7 (2 – 61) Giới (nam/nữ) 18/42 Cân nặng (kg) 40,59± 15,93 (13,5 – 68) Diện tích da (m2) 1,261± 0,351 (0,5 – 1,79) Loại bệnh TLN thứ phát đơn thuần 38 (63,4%) TLN kèm TMP lạc chỗ bán phần 5 (8,3%) TLN kèm hở VBL nhiều 17 (28,3%) ĐK lỗ thông (mm) 30,5± 6,8 (16 - 43) Áp lực ĐMP (mmHg) 54,9± 18,9 (28 – 110) ĐK thất phải (mm) 34,1 ± 9,2 (14 – 52) Nguyên nhân chỉ định phẫu thuật Bịt dù thất bại 4 Không có gờ TMC dƣới 20 Gờ TMC dƣới ngắn, mỏng 14 TMP lạc chỗ 5 Hở VBL vừa – nhiều 17 TLN: thông liên nhĩ, VBL: van ba lá, TMP: tĩnh mạch phổi, ĐMP: động mạch phổi, TMC: tĩnh mạch chủ, ĐK: đường kính Các thông số nhân trắc học (tuổi, cân nặng, diện tích da, kích thƣớc lỗ thông) trƣớc mổ, các đặc điểm về bệnh học và nguyên nhân chỉ định mổ đƣợc trình bày trong Bảng 1. Phƣơng pháp PT đƣợc hội đồng khoa học bệnh viện thông qua và đƣợc sự đồng thuận của gia đình BN. 2.2. Phƣơng pháp phẫu thuật BN đƣợc gây mê bằng ống nội khí quản một nòng. Bác sĩ gây mê đặt catheter tĩnh mạch (TM) trung ƣơng vào TM cảnh trong trái và đặt s n một kim luồn vào TM cảnh trong phải, tất cả đƣợc thực hiện vô trùng. BN đƣợc đặt tƣ thế nằm nghiêng trái 20-30º, hai tay xuôi theo thân ngƣời, đầu nghiêng về phía bên trái bộc lộ kim luồn đã đƣợc đặt s n. Phẫu thuật viên vẽ vị trí dự định đặt các lỗ trocar. PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 18 - THÁNG 10/2017 28 ình 1 (A) Cannula ĐM đùi được thiết lập gián tiếp qua một đoạn mạch nhân tạo (Dacron hoặc PTFE), (B) TMC trên và TMC dưới được dẫn lưu qua TM cảnh trong phải và TM đùi theo kỹ thuật Seldinger và (C) cannula ĐM đùi hai bên được đặt trực tiếp. Để thiết lập tuần hoàn ngoại vi chúng tôi tạo một đƣờng rạch dài 2cm ngang ở nếp bẹn bên phải, bộc lộ ĐM đùi chung và TM đùi. Ở những BN có cân nặng > 15kg, chúng tôi thiết lập đƣờng động mạch một cách gián tiếp vào ĐM đùi chung qua một đoạn mạch nhân tạo (mạch Dacron số 8 cho BN có cân nặng 30kg và mạch Dacron số 6 cho những BN có cân nặng < 30kg). Cannula TMC trên và TMC dƣới đƣợc đặt qua TM cảnh trong phải và TM đùi theo phƣơng pháp Sheldinger. Trƣớc khi đặt trocar, chúng tôi kiểm tra đƣờng ĐM bằng cách chạy máy thử, nếu với toàn bộ lƣu lƣợng áp lực đƣờng ĐM < 220mmHg là chấp nhận đƣợc. Nếu áp lực đƣờng ĐM tăng quá 220mmHg, chúng tôi đặt một đƣờng ĐM phụ đùi bên trái với kích thƣớc cannula nhỏ hơn 4F so với chuẩn dựa theo cân nặng BN. Ở những BN nhỏ tuổi, cân nặng < 15kg, chúng tôi đặt cannula trực tiếp vào ĐM đùi hai bên, chủ động lựa chọn kích thƣớc cannula nhỏ hơn 2-4F so với chuẩn dựa theo cân nặng của BN. Hình 2, cách thức đặt 4 trocar. Mầu xanh lá cây (trocar 1 trong hình C) là vị trí tay làm việc chính đặt ở KLS V đường nách trước. Mầu vàng (trocar 2 trong hình C) là vị trí tay làm việc phụ đặt ở KLS III đường nách giữa. Mầu xanh da trời (trocar 3 trong hình C) là vị trí của camera đặt ở KLS V đường nách giữa. Mầu đỏ (trocar 4 trong hình C) là vị trí đường hút máu về đặt ở KLS VI đường nách giữa. C PHẪU THUẬT NỘI SOI TOÀN BỘ KHÔNG CÓ ROBOT HỖ TRỢ, TIM ĐẬP VÁ THÔNG LIÊN NHĨ... 29 Đặt 4 trocar tại các vị trí đã đánh dấu s n (hình 2), cụ thể là: 01 trocar 12mm tại khoang liên sƣờn (KLS) V đƣờng nách trƣớc là tay làm việc chính (cho các dụng cụ: phẫu tích, kìm kẹp kim, dao điện nội soi, hút bỏ), 01 trocar 5mm tại KLS IV đƣờng nách giữa là tay làm việc phụ (cho phẫu tích), 01 trocar 5mm tại KLS V đƣờng nách giữa (cho đèn nội soi) và 01 trocar 5mm tại KLS VI đƣờng nách giữa (cho đƣờng hút máu về). Sau khi vào đến khoang màng phổi, hệ thống tuần hoàn ngoài cơ thể bắt đầu hoạt động, nhiệt độ thực quản đƣợc hạ dần xuống 32 C, màng tim đƣợc mở song song và cách thành ngực trƣớc 1.5-2cm. Ngay khi thiết lập xong các trocar, CO2 đƣợc bơm vào khoang màng phổi với tốc độ 0,5l/phút. Mở nhĩ phải (NP) dọc theo rãnh liên nhĩ sau khi đã thắt TMC trên và BN ở tƣ thế Trendelenburg. Tim đập liên tục trong suốt quá trình mổ, máu về qua xoang vành, các lỗ đổ trực tiếp trên thành NP và lỗ TMC dƣới (TMC dƣới không thắt). Để ngăn khí về qua cannula TMC dƣới; đầu cannula TMC đƣới đƣợc điều chỉnh sao cho nằm dƣới van Eustachian 1,5-2cm. Ngăn máu từ TMC dƣới đổ về NP bằng (1) hút âm đƣờng TM với áp lực 20-40mmHg và (2) sử dụng một đƣờng hút máu về để tạo phẫu trƣờng sạch máu. Các mốc giải phẫu cần xác định trong quá trình mổ gồm: lỗ van ba lá, lỗ xoang vành, lỗ TMC dƣới và các lỗ TMP phải. Lỗ thông đƣợc đóng bằng miếng vá nhân tạo hoặc khâu trực tiếp. TMP lạc chỗ đƣợc tạo đƣờng hầm trong tim dẫn máu về nhĩ trái qua lỗ TLN. Những trƣờng hợp van ba lá hở vừa – nhiều, phƣơng pháp Devega đƣợc áp dụng cho những vòng van có đƣờng kính ngang< 45mm, đặt vòng van ba lá đƣợc áp dụng cho những vòng van có đƣờng kính ngang 45mm. ình 3 Kỹ thuật vá TLN NSTB. (A) Nhĩ phải được mở sau khi làm đầy khoang màng phổi và màng tim bằng CO2, lỗ TLN thứ phát (mũi tên mầu trắng);(B): vá lỗ TLN sử dụng miếng vá nhân tạo, khâu vắt; (C): hoàn thành quá trình vá TLN. Đƣờng mở NP đƣợc đóng hai lớp. Tim đƣợc làm đầy sau khi thả thắt TMC trên, tƣ thế đầu bằng và kiểm tra cầm máu kỹ, màng tim đƣợc đóng mũi rời. Những BN > 18kg đƣợc siêu âm thực quản trong suốt quá trình vá TLN để theo dõi tình trạng khí trong thất trái, ĐMC cũng nhƣ tình trạng hoạt động của van ĐMC. Siêu âm giúp loại trừ shunt tồn lƣu PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 18 - THÁNG 10/2017 30 trƣớc khi quyết định kết thúc cuộc mổ. Ngừng tuần hoàn ngoài cơ thể sau khi đặt 01 dẫn lƣu màng tim và 01 dẫn lƣu màng phổi. Quy trình còn lại giống nhƣ phẫu thuật nội soi lồng ngực đơn thuần. Tất cả BN sau mổ đƣợc kiểm tra bằng siêu âm qua thành ngực và siêu âm doppler mạch máu trƣớc khi ra viện. Bảng 2: Các thông số về thiết lập tuần hoàn ngoài cơ thể ngoại vi Cannula ĐM đùi (n=60) Qua mạch Dacron số 8 39 Chuyển thành cannula ĐM đùi 2 bên 8 (20,5%) Qua mạch Dacron số 6 17 Chuyển thành cannula ĐM đùi 2 bên 10 (58,8%) Cannula trực tiếp ĐM đùi hai bên 4 Kích thƣớc cannula TMC trên (F) 18,3± 2,8 (12 – 21) Kích thƣớc cannula TMC dƣới (F) 19,8± 2,1 (14 – 21) ĐM: động mạch, TMC: tĩnh mạch chủ 2.3 Theo d i sau mổ BN đƣợc hẹn khám lại sau mổ 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 1 năm. BN đƣợc khám, đánh giá tình trạng sẹo mổ, sự cân đối giữa hai ngực, tình trạng dị cảm quanh vị trí vết mổ ngực và đùi, sự hài lòng của gia đình và BN về vị trí và kích thƣớc sẹo mổ. BN đƣợc siêu âm tim qua thành ngực và siêu âm doppler mạch kiểm tra. 2.4 Phân tích số liệu Số liệu đƣợc tính ra trung bình ± phƣơng sai (S.D.) cho những biến định lƣợng và tính ra số lƣợng với tỉ lệ phần trăm cho những biến định tính. Số liệu đƣợc quản lý và phân tích bởi phần mềm SPSS 14.0. III. KẾT QUẢ Trong 60 BN nghiên cứu, có 56 BN đƣợc dự kiến thiết lập cannula ĐM đùi một bên qua đoạn mạch nhân tạo (39 BN sử dụng mạch Dacron số 8, 17 BN sử dụng mạch Dacron số 6). Trong đó 18 BN phải chuyển thành cannula ĐM đùi 2 bên do áp lực đƣờng ĐM tăng cao hơn mức cho phép. Những BN sử dụng mạch Dacron số 8 và mạch Dacron số 6 có tỉ lệ chuyển thành cannula ĐM đùi 2 bên lần lƣợt là 20,5% và 58,8% (p=0,0048).Chi tiết về thiết lập tuần hoàn ngoài cơ thể đƣợc trình bày trong Bảng 2. PHẪU THUẬT NỘI SOI TOÀN BỘ KHÔNG CÓ ROBOT HỖ TRỢ, TIM ĐẬP VÁ THÔNG LIÊN NHĨ... 31 Bảng 3: Các thông số trong và sau mổ (n=60) Nhóm A 1-35 Nhóm B 36-60 P value Thời gian mổ (phút) 254,9± 43,0 201,4 ± 54,9 0,000068 Thời gian chạy máy (phút) 157,8 ± 35,2 92,7 ± 33,2 0,0000000015 Thời gian thiết lập THNCT (phút) 46,4 ± 13,1 43,5 ± 11,7 0,24 Thời gian bộc lộ lỗ TLN (phút) 26,0± 5,2 21,3 ± 7,9 0,013 Thời gian vá TLN (phút) 51,3± 18,7 23,5 ± 10,9 0,00000022 Thời gian đóng NP (phút) 20,0± 6,8 15,9 ± 7,0 0,023 Thời gian sửa VBL (phút) 15.4± 11,5 16,8 ± 10,5 0,41 Thời gian thở máy (giờ) 9,4± 16,3 7,2 ± 5,3 0,27 Thời gian nằm hồi sức (giờ) 25,1 ± 22,4 29,8 ± 28,4 0,25 Dẫn lƣu trong 24 giờ đầu (ml) 96,6 ± 68,4 57,7 ± 43,5 0,011 Thời điểm không cần dùng thuốc giảm đau sau mổ (ngày) 4,2 ± 1,3 4,1 ± 1,0 0,44 Thời gian nằm viện sau mổ (ngày) 9,1 ± 2,9 7,9 ± 5,3 0,15 Biến chứng thần kinh và mạch đùi 0 0 TLN tồn lƣu nhỏ 1 0 Thời gian phẫu thuật và thời gian chạy máy trung bình lần lƣợt là 234,2 ± 54,3 phút và 132,0± 46,9 phút. Tất cả BN không cần dùng thuốc vận mạch sau ngừng hệ thống THNCT và đƣợc rút máy thở trong vòng 8 giờ. Không có BN nào có biến chứng về thần kinh sau mổ. Sau 4 ngày BN không cần dùng thuốc giảm đau, ngƣời bệnh có thể trở lại sinh hoạt bình thƣờng sau mổ 7 ngày. Chúng tôi chia BN thành 2 nhóm thuộc hai giai đoạn; nhóm A gồm 35 BN đầu tiên và nhóm B gồm 25 BN sau đó. Các thông số trong và sau mổ của hai nhóm đƣợc so sánh trong bảng 3. Thời gian mổ và thời gian chạy máy của nhóm B ngắn hơn một cách có ý nghĩa so với nhóm A với giá trị p lần lƣợt là 0,000068 và 0,0000000015. Thời gian của các thì phẫu thuật ở nhóm B đều đƣợc rút ngắn so với nhóm A, trong đó thời gian vá TLN đƣợc rút ngắn một cách có ý nghĩa nhất (p= 0,00000022).Kết quả sau mổ và tỉ lệ gặp biến chứng ở hai nhóm không có sự khác biệt (bảng 4). Một trƣờng hợp tồn lƣu TLN với đƣờng kính 3mm trên siêu âm thực quản, kích thƣớc lỗ thông nhỏ đi sau 1năm khám lại. Tất cả BN và gia đình đều rất hài lòng về hiệu quả và tính thẩm mỹ của sẹo mổ. IV. BÀN LUẬN Từ cuối những năm 1990 đến nay, nhiều PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 18 - THÁNG 10/2017 32 báo cáo về phẫu thuật NSTB có sự hỗ trợ của hệ thống robot Da Vinci trong điều trị bệnh TLN với kết quả thành công rất cao với rất ít biến chứng.[5, 7] PT nội soi sử dụng công nghệ robot giúp khuyếch đại tối đa các cấu trúc trong tim, đồng thời dụng cụ nội soi thông qua các tay robot có độ linh hoạt rất cao giúp phẫu thuật viên dễ dàng tiếp cận những phẫu trƣờng sâu và xử lý đƣợc những thƣơng tổn trong không gian chật hẹp. Mặc dù vậy, chi phí cao là rào cản lớn khiến phẫu thuật robot không đƣợc áp dụng rộng rãi, đặc biệt ở các nƣớc đang phát triển.[8] Phẫu thuật tim đập giúp tránh tình trạng thiếu máu cơ tim và hiện tƣợng tái tƣới máu sau mổ.[9] Mặc dù vậy, có rất ít báo cáo về PT NSTB trong điều kiện tim đập để vá TLN vì: (1) nguy cơ tắc mạch khí và (2) khó thao tác do phẫu trƣờng nhiều máu.[10]Theo Mo cùng cộng sự, tắc mạch khí xảy ra khi khí có mặt trong thất trái và áp lực áp lực trong thất trái cao hơn áp lực trong gốc ĐMC.[9]Một số nguyên tắc phòng tắc mạch khí đƣợc các tác giả nhắc đến, bao gồm: duy trì áp lực trung bình đƣờng ĐM > 60 hoặc 70mmHg ở ngƣời lớn và > 50mmHg ở trẻ nhỏ [9, 11], giữ cho nhĩ trái và thất trái ở trạng thái đầy máu[12], làm đầy khoang màng tim và màng phổi bằng CO2[11, 13] và đuổi khí bằng bóp bóng trƣớc khi hoàn thành đƣờng khâu đóng TLN.[10] CO2 đã đƣợc chứng minh có vai trò thay thế phƣơng pháp đuổi khí truyền thống nhờ chiếm chỗ không khí trong phẫu trƣờng và khả năng tan trong nƣớc tốt.[4] CO2 làm tan các bóng khí trong tim và rút ngắn thời gian đuổi khí 3 lần so với phƣơng pháp truyền thống. Thêm vào đó, việc sử dụng CO2 trong phẫu thuật tim đập đã đƣợc chứng minh không gây bất kỳ vấn đề thần kinh nào.[11]Chúng tôi phòng tắc mạch khí dựa trên 2 nguyên tắc chính: (1) duy trì áp lực đƣờng ĐM cao và (2) làm đầy khoang màng tim màng phổi bằng CO2. Siêu âm thực quản trong mổ cho thấy không có khí trong thất trái cũng nhƣ ĐMC lên, van ĐMC hầu nhƣ luôn đóng trong suốt quá trình vá TLN; sau mổ chúng tôi không ghi nhận trƣờng hợp có biến cố thần kinh. ình 4. Kết quả sau mổ NSTB không có robot hỗ trợ, tim đập. BN nam 24 tuổi ngay sau mổ;(B) BN nữ 7 tuổi sau mổ 1 tháng A B PHẪU THUẬT NỘI SOI TOÀN BỘ KHÔNG CÓ ROBOT HỖ TRỢ, TIM ĐẬP VÁ THÔNG LIÊN NHĨ... 33 Thiếu máu chi dƣới cấp và hẹp mạch sau mổ là những biến chứng nặng của phẫu thuật nội soi tim, đặc biệt hay gặp ở trẻ nhỏ. Bằng việc cannula ĐM đùi gián tiếp qua đoạn mạch nhân tạo và sử dụng cannula ĐM đặt trực tiếp có kích thƣớc nhỏ hơn 2-4F so với chuẩn dựa theo cân nặng của BN giúp tránh đƣợc những biến chứng kể trên. Trong nghiên cứu này, chúng tôi có 11 BN ≤ 7 tuổi, với thời gian theo dõi từ 3 tháng đến 13 tháng không gặp biến chứng về mạch máu ngoại vi. Áp lực đƣờng ĐM tăng cao (do khẩu kính nhỏ và tính chất co thắt của thành mạch) là một trong những nguyên nhân gây thất bại nội soi. Cannula ĐM hai bên là giải pháp cứu cánh trong những trƣờng hợp này.[14] Trong nghiên cứu này, chúng tôi ghi nhận tỉ lệ chuyển từ cannula ĐM đùi một bên thành hai bên ở BN có cân nặng thấp cao hơn một cách có ý nghĩa so với những BN có cân nặng lớn (p=0,0048). Cách thức thiết lập trocar của chúng tôi tƣơng tự cách thiết lập trocar trong PT có robot hỗ trợ.[4] Bonaros [7] và Ma [8]thấy rằng khi kinh nghiệm của phẫu thuật viên tăng lên thì thời gian phẫu thuật sẽ đƣợc rút ngắn lại. Trong nghiên cứu của chúng tôi, tất cả BN đƣợc phẫu thuật bởi 1 tác giả duy nhất; chúng tôi cũng ghi nhận một đƣờng cong đào tạo (learning curve) rất rõ với các khoảng thời gian phẫu thuật đƣợc rút ngắn rất đáng kể (bảng 3). V. KẾT LUẬN Phƣơng phápPT NSTB vá TLN không có robot hỗ trợ, tim đập là phƣơng pháp an toàn, hiệu quả, hứa hẹn có thể triển khai rộng trong tƣơng lai gần góp phần nâng cao chất lƣợng điều trị bệnh TBS. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. M. A. Ostovan, J. Kojuri, P. Dehghani và các cộng sự. (2016), "Device closure in adults with atrial septal defect in Shiraz, a single center registry", J Cardiovasc Thorac Res, 8(1), tr. 40-2. 2. Z. Jalal, S. Hascoet, A. E. Baruteau và các cộng sự. (2016), "Long-term Complications After Transcatheter Atrial Septal Defect Closure: A Review of the Medical Literature", Can J Cardiol. 3. U. Krumsdorf, S. Ostermayer, K. Billinger và các cộng sự. (2004), "Incidence and clinical course of thrombus formation on atrial septal defect and patient foramen ovale closure devices in 1,000 consecutive patients", J Am Coll Cardiol, 43(2), tr. 302-9. 4. C. Xiao, C. Gao, M. Yang và các cộng sự. (2014), "Totally robotic atrial septal defect closure: 7-year single-institution experience and follow-up", Interact Cardiovasc Thorac Surg, 19(6), tr. 933-7. 5. J. A. Morgan, J. C. Peacock, T. Kohmoto và các cộng sự. (2004), "Robotic techniques improve quality of life in patients undergoing atrial septal defect repair", Ann Thorac Surg, 77(4), tr. 1328-33. 6. C. Gao, M. Yang, G. Wang và các cộng sự. (2010), "Totally endoscopic robotic PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 18 - THÁNG 10/2017 34 atrial septal defect repair on the beating heart", Heart Surg Forum, 13(3), tr. E155-8. 7. N. Bonaros, T. Schachner, A. Oehlinger và các cộng sự. (2006), "Robotically assisted totally endoscopic atrial septal defect repair: insights from operative times, learning curves, and clinical outcome", Ann Thorac Surg, 82(2), tr. 687-93. 8. Z. S. Ma, M. F. Dong, Q. Y. Yin và các cộng sự. (2011), "Totally thoracoscopic repair of atrial septal defect without robotic assistance: a single-center experience", J Thorac Cardiovasc Surg, 141(6), tr. 1380-3. 9. A. Mo, H. Lin, Z. Wen và các cộng sự. (2008), "Efficacy and safety of on-pump beating heart surgery", Ann Thorac Surg, 86(6), tr. 1914-8. 10. Z. S. Ma, M. F. Dong, Q. Y. Yin và các cộng sự. (2012), "Totally thoracoscopic closure for atrial septal defect on perfused beating hearts", Eur J Cardiothorac Surg, 41(6), tr. 1316-9. 11. K. Chaudhuri, E. Storey, G. A. Lee và các cộng sự. (2012), "Carbon dioxide insufflation in open-chamber cardiac surgery: a double-blind, randomized clinical trial of neurocognitive effects", J Thorac Cardiovasc Surg, 144(3), tr. 646-653 e1. 12. S. Thapmongkol, J. Sayasathid, J. Methrujpanont và các cộng sự. (2012), "Beating heart as an alternative for closure of secundum atrial septal defect", Asian Cardiovasc Thorac Ann, 20(2), tr. 141-5. 13. M. Landenhed, F. Al-Rashidi, S. Blomquist và các cộng sự. (2014), "Systemic effects of carbon dioxide insufflation technique for de-airing in left-sided cardiac surgery", J Thorac Cardiovasc Surg, 147(1), tr. 295-300. 14. C. Rosu, D. Bouchard, M. Pellerin và các cộng sự. (2015), "Preoperative vascular imaging for predicting intraoperative modification of peripheral arterial cannulation during minimally invasive mitral valve surgery", Innovations (Phila), 10(1), tr. 39-43. TOTALLY ENDOSCOPIC SURGERY FOR ATRIAL SEPTAL DEFECT REPAIR ON BEATING HEART WITHOUT ROBOTIC ASSISTANCE: A SINGLE-CENTER EXPERIENCE Dang Quang Huy*, Le Ngoc Thanh Cardiovascular and Thoracic Surgery Department, Cardiovascular Center, 87-89 Tran Cung, Cau Giay, Dong Da, Hanoi * Corresponding author. Tel: +84 982024618. Email: [email protected] Objectives: Totally endoscopic surgery (TES) has not been applied much for the treatment of congenital heart diseases (CHD). In this study, we evaluate the safety and efficacy of the application of TES on the beating heart, without the assistance of robotic system for the treatment of atrial septal defect (ASD). Subjects and study method: 60 patients (adults/children: 41/19; mean age: 29.1 ± 18.7, ranged from 2 to 61 years old) diagnosed with secundum ASD were enrolled in our study. PHẪU THUẬT NỘI SOI TOÀN BỘ KHÔNG CÓ ROBOT HỖ TRỢ, TIM ĐẬP VÁ THÔNG LIÊN NHĨ... 35 There were 38 patients with isolated ASD, 4 patients had concomitant partial anomalous pulmonary venous return, 17 patients had ASD associated with severe tricuspid regurgitation. Peripheral extracorporeal circulation was established. Three 5mm trocars and one 12mm trocar were placed, only the superior vena cava (SVC) was snared, the pleural space was filled with CO2, the heart was beating during surgery. The defect was closed by an artificial patch, continuous suture, the anomalous pulmonary veins were drained to left atrium by constructing a tunnel, tricuspid valve repair using annular ring placement or De Vega method. Results: No surgery-related complications or death was noted. Mean operation time and cardiopulmonary bypass time were 234.2 ± 54.3 (minutes) and 132 ± 46.9 (minutes), respectively. Patients were extubated within the first 4 hours post- operation, the volume of blood drainage in the first day was less than 80ml. Four days after surgery, patients did not need any analgesics and can return to normal daily activities 1 week postoperatively. Conclusion: TES for ASD closure on the beating heart is safe, patients recovered quickly, surgical scars were of high aesthetic value, especially in women and young girls. Keywords: Atrial septal defect, totally endoscopic surgery, beating heart, robot.
File đính kèm:
phau_thuat_noi_soi_toan_bo_khong_co_robot_ho_tro_tim_dap_va.pdf

