Yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn bệnh viện tại Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Sản Nhi Ninh Bình

Mục tiêu: Xác định một số yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn bệnh viện tại Khoa cấp cứu, Bệnh

viện Sản Nhi Ninh Bình năm 2018 - 2019.

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu bệnh nhi điều trị tại Khoa cấp cứu, Bệnh

viện Sản Nhi Ninh Bình từ 01/2018 đến 12/2019.

Kết quả: Suy dinh dưỡng độ II trở lên, PRISM > 10, ≥ 3 can thiệp xâm lấn, dùng thuốc

kháng thụ thể H2 và nuôi ăn qua đường tĩnh mạch là các yếu tố nguy cơ của nhiễm khuẩn

bệnh viện. Đặt nội khí quản, lưu nội khí quản > 5 ngày, đặt lại nội khí quản, hít sặc chất

nôn là yếu tố nguy cơ của viêm phổi bệnh viện. Bộc lộ tĩnh mạch, ≥ 3 đường truyền tĩnh

mạch, đặt thông tĩnh mạch trung tâm là các yếu tố nguy cơ của nhiễm khuẩn huyết. Phẫu thuật

đường tiêu hóa, thời gian phẫu thuật > 2 giờ, dẫn lưu sau mổ, thời gian dẫn lưu > 5 ngày và

không dùng kháng sinh dự phòng là yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ. Đặt thông tiểu và lưu

thông tiểu > 3 ngày là yếu tố nguy cơ của nhiễm khuẩn tiết niệu.

Kết luận: Nhiễm khuẩn bệnh viện có suy dinh dưỡng từ độ II trở lên và từ 3 can thiệp

xâm lấn, việc sử dụng kháng thụ thể H2 và dinh dưỡng qua đường tĩnh mạch liên quan đến

nhiễm khuẩn bệnh viện. Viêm phổi, nhiễm khuẩn tiết niệu, nhiễm khuẩn huyết là yếu tố

nguy cơ cao với nhiễm trùng bệnh viện.

pdf 8 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn bệnh viện tại Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Sản Nhi Ninh Bình", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn bệnh viện tại Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Sản Nhi Ninh Bình

Yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn bệnh viện tại Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Sản Nhi Ninh Bình
 Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 5 (2020) 34-41 
34 
Research Paper 
Some Risk Factors for Hospital Infections at Emergency 
Department of Ninh Binh Obstetrics and Pediatrics Hospital 
Pham Thi Hue* 
Ninh Binh Obstetrics and Pediatrics Hospital, Phan Chu Trinh, Nam Thanh, Ninh Binh, Vietnam 
Received 17 August 2020 
Revised 24 August 2020; Accepted 04 September 2020 
Abstract 
Purpose: To identify some risk factors for hospital infections at Emergency Department 
of Ninh Binh Obstetrics and Pediatrics Hospital in 2018-2019. 
Method: A prospective cohort study was conducted. 
Results: Malnutrition grade II or higher, PRISM > 10, ≥ 3 invasive intervention, use of 
H2-receptor antagonists and intravenous feeding were risk factors for nosocomial 
infections. Endotracheal intubation, intubation for > 5 days, re-intubation, and aspiration 
of vomit were risk factors for nosocomial pneumonia. Intravenous exposure, 3 or more IV 
lines, and central venous catheterization were risk factors for sepsis. Gastrointestinal 
surgery, surgery time > 2 hours, postoperative drainage, drainage time > 5 days and no 
prophylactic antibiotics were risk factors for wound infection. Insert urinary catheter and 
urinary retention > 3 days were risk factors for urinary tract infections. 
Conclusion: Nosocomial infections with grade II or higher malnutrition and 3 invasive 
interventions, the use of H2-receptor resistance and intravenous nutrition associated with 
nosocomial infections. Pneumonia, urinary tract infections, and sepsis are high risk factors 
for nosocomial infections. 
 Keywords: Hospital infections, children. 
*
_______ 
*
 Corresponding author. 
 E-mail address: [email protected] 
 https://doi.org/10.25073/jprp.v4i5.233 
P.T. Hue / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 5 (2020) 34-41 
35 
Yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn bệnh viện 
tại Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Sản Nhi Ninh Bình 
Phạm Thị Huế* 
Bệnh viện Sản Nhi Ninh Bình, Chu Trinh, Nam Thành, Ninh Bình, Việt Nam 
Nhận ngày 17 tháng 8 năm 2020 
Chỉnh sửa ngày 24 tháng 8 năm 2020; Chấp nhận đăng ngày 04 tháng 9 năm 2020 
Tóm tắt 
Mục tiêu: Xác định một số yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn bệnh viện tại Khoa cấp cứu, Bệnh 
viện Sản Nhi Ninh Bình năm 2018 - 2019. 
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu bệnh nhi điều trị tại Khoa cấp cứu, Bệnh 
viện Sản Nhi Ninh Bình từ 01/2018 đến 12/2019. 
Kết quả: Suy dinh dưỡng độ II trở lên, PRISM > 10, ≥ 3 can thiệp xâm lấn, dùng thuốc 
kháng thụ thể H2 và nuôi ăn qua đường tĩnh mạch là các yếu tố nguy cơ của nhiễm khuẩn 
bệnh viện. Đặt nội khí quản, lưu nội khí quản > 5 ngày, đặt lại nội khí quản, hít sặc chất 
nôn là yếu tố nguy cơ của viêm phổi bệnh viện. Bộc lộ tĩnh mạch, ≥ 3 đường truyền tĩnh 
mạch, đặt thông tĩnh mạch trung tâm là các yếu tố nguy cơ của nhiễm khuẩn huyết. Phẫu thuật 
đường tiêu hóa, thời gian phẫu thuật > 2 giờ, dẫn lưu sau mổ, thời gian dẫn lưu > 5 ngày và 
không dùng kháng sinh dự phòng là yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ. Đặt thông tiểu và lưu 
thông tiểu > 3 ngày là yếu tố nguy cơ của nhiễm khuẩn tiết niệu. 
Kết luận: Nhiễm khuẩn bệnh viện có suy dinh dưỡng từ độ II trở lên và từ 3 can thiệp 
xâm lấn, việc sử dụng kháng thụ thể H2 và dinh dưỡng qua đường tĩnh mạch liên quan đến 
nhiễm khuẩn bệnh viện. Viêm phổi, nhiễm khuẩn tiết niệu, nhiễm khuẩn huyết là yếu tố 
nguy cơ cao với nhiễm trùng bệnh viện. 
 Từ khóa: Nhiễm khuẩn bệnh viện, trẻ em. 
1. Đặt vấn đề* 
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, nhiễm 
khuẩn bệnh viện (NKBV) là những nhiễm 
khuẩn mắc phải trong thời gian người bệnh 
điều trị tại bệnh viện và nhiễm khuẩn này 
không hiện diện cũng như không nằm trong 
giai đoạn ủ bệnh tại thời điểm nhập viện. 
NKBV thường xuất hiện sau 48 giờ kể từ 
_______ 
* Tác giả liên hệ. 
 Địa chỉ email: [email protected] 
 https://doi.org/10.25073/jprp.v4i5.233 
khi người bệnh nhập viện. Hậu quả của 
nhiễm khuẩn bệnh viện, NKBV dẫn đến 
nhiều hệ lụy cho người bệnh và cho hệ 
thống y tế như: Tăng biến chứng và tử vong 
cho người bệnh; kéo dài thời gian nằm viện 
trung bình từ 7 đến 15 ngày; tăng sử dụng 
kháng sinh dẫn đến tăng sự kháng thuốc của 
vi sinh vật và tăng chi phí điều trị cho một 
NKBV thường gấp 2 đến 4 lần so với những 
trường hợp không NKBV. Tại tất cả các 
bệnh viện, Khoa cấp cứu là nơi tập trung 
nhiều bệnh nhân nặng nhất. Do đó nơi đây 
cũng ẩn chứa rất nhiều yếu tố nguy cơ gây 
P.T. Hue / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 5 (2020) 34-41 
36 
ra nhiễm khuẩn bệnh viện, ảnh hưởng 
không chỉ tới bệnh nhân tại khoa mà còn tới 
các bác sĩ và các bệnh nhân toàn viện [1]. 
Tuy nhiên, không phải bệnh nhân nào tại 
Khoa cấp cứu cũng đều mắc nhiễm khuẩn 
bệnh viện mà thường là những bệnh nhân 
chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: suy 
dinh dưỡng, tình trạng bệnh nặng, thủ thuật 
xâm lấn, thuốc điều trị, môi trường Việc 
xác định được các yếu tố nguy cơ này sẽ 
góp phần kiểm soát, giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn 
cũng như tỷ lệ tử vong trong điều trị. Tuy 
nhiên hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu về 
lĩnh vực này, đặc biệt là hồi sức tích cực 
nhi. Chính bởi vậy chúng tôi tiến hành 
nghiên cứu nhằm mục tiêu: “Xác định một 
số yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn bệnh viện 
tại Khoa cấp cứu, Bệnh viện Sản Nhi Ninh 
Bình năm 2018 -2019”. 
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 
2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian 
nghiên cứu 
Bệnh nhi điều trị tại Khoa cấp cứu, 
Bệnh viện Sản Nhi Ninh Bình từ 01/2018 
đến 12/2019. 
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn 
Bệnh nhi ≥1 tháng tuổi, điều trị tại Khoa 
cấp cứu ≥48 giờ. 
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ 
Những bệnh nhân có nhiễm khuẩn bệnh 
viện trước khi nhập khoa hay nhiễm khuẩn 
bởi những tác nhân gây ra nhiễm khuẩn 
bệnh viện trong vòng 48 giờ sau khi vào 
Khoa cấp cứu. 
2.2. Phương pháp nghiên cứu 
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu 
Thuần tập, tiến cứu. 
2.2.2. Cỡ mẫu và chọn mẫu nghiên cứu 
Cỡ mẫu được tính theo công thức kiểm 
định giả thuyết về nguy cơ trong nghiên cứu 
thuần tập với P2 = 0,04. Rra = 2,25 với mức 
ý nghĩa 5%, độ mạnh 90%, kiểm định 2 
phía, lấy được cỡ mẫu tối thiểu n = 509. 
Chúng tôi lấy tròn 550 bệnh nhi đủ tiêu 
chuẩn theo phương pháp thuận tiện cho tới 
khi đủ số lượng. 
2.2.3. Thu thập số liệu 
Bệnh nhi đủ thiêu chuẩn sẽ được khám, 
thực hiện các xét nghiệm chẩn đoán bệnh và 
đánh giá tình trạng, đánh giá chỉ số PRISM 
(Pediatric Risk of Mortality) trong vòng 48 
giờ đầu, ghi nhận tuổi giới, cân nặng, tình 
trạng dinh dưỡng, bệnh cơ bản, bệnh đi kèm 
nếu có, ngày nhập khoa. 
Tất cả bệnh nhi được chăm sóc, theo dõi 
và điều trị theo phác đồ của bệnh viện phù 
hợp với tình trạng bệnh và có cùng điều 
kiện kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện. Các 
can thiệp và điều trị thuốc đều ghi nhận thời 
gian khởi đầu và sử dụng. Bệnh nhi được 
theo dõi tiếp 48 giờ sau khi ra khỏi Khoa 
cấp cứu, nếu có xuất hiện nhiễm khuẩn 
bệnh viện trong khoảng thời gian này cũng 
được xác định là nhiễm khuẩn bệnh viện tại 
Khoa cấp cứu. Kết quả cuối cùng của bệnh 
nhân được tính cho đến khi xuất viện, thời 
gian xuất hiện nhiễm khuẩn bệnh viện, thời 
gian nằm Khoa cấp cứu, thời gian nằm viện 
đều được ghi nhận. Ca bệnh được xác định 
theo tiêu chuẩn của Cơ quan kiểm soát dịch 
bệnh Hoa Kỳ 1996 [2]. 
2.2.5. Xử lý số liệu 
Số liệu được nhập và xử lý bằng phần 
mềm thống kê SPSS 20.0. 
P.T. Hue / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 5 (2020) 34-41 
37 
3. Kết quả nghiên cứu Trong số 550 bệnh nhi nghiên cứu, kết 
quả có 108 trường hợp nhiễm khuẩn bệnh 
viện (NKBV) chiếm 19,6%. 
 Bảng 1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 
Đặc điểm 
Tổng cộng 
n=550 
Có NKBV 
n=108 
Giới tính 
Nam 312 (58,7) 62 (19,9) 
Nữ 238 (43,3) 46 (19,3) 
Nhóm bệnh 
Bệnh lý nhiễm trùng 287 (52,2) 59 (20,6) 
Tai nạn, ngộ độc 97 (17,6) 15 (15,5) 
Bệnh lý tiêu hóa 58 (10,6) 17 (29,3) 
U bướu 19 (3,5) 5 (26,3) 
Bệnh lý hô hấp 17 (3,1) 1 (5,9) 
Bệnh lý thần kinh, cơ 13 (2,4) 5 (38,5) 
Bệnh lý tim mạch 20 (3,6) 4 (20,0) 
Bệnh lý huyết học 11 (2,0) 1 (9,1) 
Bệnh lý khác 28 (5,1) 1 (3,6) 
Suy giảm miễn dịch 16 (2,9) 7 (43,8) 
Bệnh kèm theo 93 (16,9) 31 (33,3) 
Suy dinh dưỡng độ II, III 67 (12,2) 28 (41,8) 
PRISM score 7,13 ± 4,2 11,7 ± 4,4 
Can thiệp chính 
Phẫu thuật 105 (19,1) 30 (28,6) 
Đặt nội khí quản 152 (27,6) 74 (48,7) 
Đặt thông TMTT 106 (19,3) 38 (35,9) 
Đặt thông tiểu 51 (9,3) 25 (49,0) 
Thông động mạch 33 (6,0) 7 (21,2) 
Thông dạ dày, nuôi ăn 274 (49,8) 101 (36,9) 
≥3 can thiệp 293 (53,3) 132 (45,1) 
Điều trị 
Kháng sinh 494 (89,8) 125 (25,3) 
Truyền máu 207 (37,6) 67 (32,4) 
Vận mạch 147 (26,7) 51 (34,7) 
P.T. Hue / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 5 (2020) 34-41 
38 
Đặc điểm 
Tổng cộng 
n=550 
Có NKBV 
n=108 
Dinh dưỡng tĩnh mạch 121 (22,0) 14 (11,6) 
Corticoid 39 (7,1) 8 (20,5) 
Kháng thụ thể H2 107 (19,5) 56 (52,3) 
Nhận xét: Suy dinh dưỡng độ II trở lên, PRISM > 10, ≥ 3 can thiệp xâm lấn, bệnh lý 
nhiễm trùng dùng thuốc kháng thụ thể H2 và nuôi ăn qua đường tĩnh mạch là các yếu tố nguy 
cơ của nhiễm khuẩn bệnh viện. 
 Bảng 2. Hồi quy các yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn bệnh viện 
Yếu tố nguy cơ OR (95%CI) ORa (95%CI) p 
Suy dinh dưỡng độ II 2,6 (1,3–4,4) 2,0 (1,1–3,9) 0,043 
PRISM >10 23,4 (15,1 – 38,2) 13,1 (6,5 – 26,3) <0,001 
Nhiều can thiệp (≥3) 12,1 (6,7–22,3) 7,1 (3,8–15,6) <0,001 
Kháng thụ thể H2 5,8 (3,4–11,2) 2,3 (1,1–3,4) 0,029 
Truyền máu 2,3 (0,8–4,2) 1,3 (0,7–2,1) 0,423 
Dinh dưỡng tĩnh mạch 3,2 (1,8–4,7) 2,4 (1,1–3,9) 0,034 
Nhận xét: PRISM > 10 và nhiều can thiệp (≥ 3) có mối liên quan với nhiễm khuẩn bệnh 
viện, kết quả có ý nghĩa thống kê p < 0,05. 
Bảng 3. Hồi quy các yếu tố nguy cơ viêm phổi bệnh viện 
Yếu tố nguy cơ OR (95%CI) ORa (95%CI) p 
Đặt NKQ 46,4 (13,5 – 213,6) 15,6 (6,1 – 83,5) <0,001 
Đặt NKQ >5 ngày 27,6 (12,4 – 71,4) 7,8 (3,3 – 23,4) <0,001 
Đặt lại NKQ 55,1 (21,9–103,5) 18,7 (7,1–92,2) <0,001 
An thần 6,1 (3,2–14,8) 2,1 (0,7–3,8) 0,088 
Giãn cơ 16,4 (8,1–28,6) 2,8 (0,7–7,3) 0,092 
Kháng thụ thể H2 7,8 (4,1–12,3) 3,2 (1,2–7,9) 0,022 
Hít sặc chất nôn 13,8 (7,2–22,7) 3,6 (1,7–9,8) 0,013 
Thông dạ dày nuôi ăn 17,2 (4,6–33,8) 4,1 (1,4–14,2) 0,008 
Nhận xét: Các yếu tố liên quan giữa nhiễm khuẩn bệnh viện với viêm phổi chủ yếu là Đặt 
NKQ và thông dạ dày nuôi ăn, kết quả có ý nghĩa thống kê p < 0,05. 
Bảng 4. Hồi quy các yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn huyết 
Yếu tố nguy cơ OR (95%CI) ORa (95%CI) p 
Bộc lộ tĩnh mạch 15,1 (6,3–34,3) 9,4 (3,7–21,4) <0,001 
Thông TMMTT 5,1 (1,8–9,2) 3,6 (1,3–9,4) 0,014 
P.T. Hue / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 5 (2020) 34-41 
39 
≥ 3 đường truyền TM 8,1 (3,2–23,5) 3,8 (1,4–10,2) 0,021 
Đặt TMTT > 3 ngày 9,2 (1,8–24,7) 6,0 (1,4–18,9) 0,007 
Dinh dưỡng tĩnh mạch 3,6 (1,3–9,2) 3,3 (1,2–7,8) 0,016 
Nhận xét: Các yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn huyết đều có sự liên quan với nhiễm khuẩn 
bệnh viện, các kết quả có ý nghĩa thống kê p < 0,05. 
Bảng 5. Hồi quy các yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ 
Yếu tố nguy cơ OR (95%CI) ORa (95%CI) p 
Phẫu thuật đường tiêu hóa 8,0 (0,9–35,4) 6,3 (1,4–23,7) 0,027 
Thời gian phẫu thuật >2 giờ 3,5 (1,2–9,2) 3,1 (1,1–7,2) 0,039 
Dẫn lưu sau mổ 4,7 (1,3–12,8) 3,4 (1,1–9,3) 0,042 
Thời gian dẫn lưu >5 ngày 7,1 (2,5–21,7) 5,6 (1,5–17,9) 0,034 
Kháng sinh dự phòng 0,1 (0,05–0,4) 0,1 (0,02–0,6) 0,005 
Nhận xét: Tìm thấy mối liên quan giữa việc dùng kháng sinh với nguy cơ nhiễm khuẩn vết 
mổ, sử dụng kháng sinh dự phòng giảm nguy cơ nhiễm trùng vết mổ, kết quả có ý nghĩa thống 
kê p < 0,005. 
Bảng 6. Hồi quy đơn biến các yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn tiết niệu 
Yếu tố nguy cơ OR (95%CI) p 
Đặt thông tiểu 1,7 (1,1 – 3,8) 0,048 
Thời gian đặt thông tiểu >3 ngày 2,4 (1,2 – 4,7) 0,042 
Nhận xét: Có mối liên quan giữa yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn tiết niệu với nhiễm trùng 
bệnh viện. 
 4. Bàn luận 
Qua nghiên cứu 550 bệnh nhi, chúng tôi 
nhận thấy các yếu tố nguy cơ của nhiễm 
khuẩn bệnh viện tại Khoa cấp cứu là suy 
dinh dưỡng từ độ II trở lên, chỉ số PRISM 
>10, có từ 3 can thiệp xâm lấn trở lên, dùng 
kháng thụ thể H2 và dinh dưỡng qua đường 
tĩnh mạch. Bệnh nhi suy dinh dưỡng có sức 
đề kháng kém do đó dễ nhiễm khuẩn hơn 
khi nằm viện. Chỉ số PRISM đánh giá mắc 
độ nặng của bệnh nhân vào khoa cũng chính 
là một chỉ số đánh giá nguy cơ nhiễm khuẩn 
bệnh viện. Các can thiệp xâm lấn cũng góp 
phần tăng cơ hội vi khuẩn xâm nhập vào cơ 
thể. Bệnh nhi nằm tại Khoa cấp cứu đa số 
đều có nhiều can thiệp xâm lấn nhưng khi 
số lượng can thiệp >3 thì nguy cơ nhiễm 
khuẩn bệnh viện tăng lên 7,1 (95%CI: 3,8–
15,6) lần. Suy dinh dưỡng độ II trở lên, 
PRISM >10, ≥3 can thiệp xâm lấn, bệnh lý 
nhiễm trùng dùng thuốc kháng thụ thể H2 
và nuôi ăn qua đường tĩnh mạch là các yếu 
tố nguy cơ của nhiễm khuẩn bệnh viện. 
Việc sử dụng kháng H2 trong phòng ngừa 
loét dạ dày được chỉ định nhiều với các 
bệnh nhân nằm Hồi sức tuy nhiên qua 
nghiên cứu chúng tôi nhận thấy đây cũng là 
một nguy cơ của nhiễm khuẩn bệnh viện. 
Bên cạnh đó kết quả nghiên cứu của chúng 
tôi nhận thấy: chỉ số PRISM >10 và nhiều 
can thiệp (≥3) có mối liên quan với nhiễm 
P.T. Hue / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 5 (2020) 34-41 
40 
khuẩn bệnh viện, kết quả có ý nghĩa thống 
kê p < 0,05. Dinh dưỡng qua tĩnh mạch 
cũng được ghi nhận là yếu tố góp phần tăng 
nguy cơ nhiễm khuẩn bệnh viện do nuôi ăn 
qua đường này là môi trường tốt cho vi 
khuẩn phát triển. Kết quả nghiên cứu của 
chúng tôi tương đồng với ghi nhận từ Hà 
Mạnh Tuấn khi nghiên cứu tại Bệnh viện 
Nhi đồng Cần Thơ [1] Một số tác giả như 
Jolanta [3] và Omar [4] cũng ghi nhận 
những nguy cơ trên ở các bệnh nhi Khoa 
cấp cứu. 
Khảo sát nguy cơ viêm phổi bệnh viện 
cho thấy đặt nội khí quản được xem là một 
trong những nguy cơ quan trọng nhất, điều 
này phù hợp với nghiên cứu của Hà Mạnh 
Tuấn [1], Omar [4] và Nanili [5]. Kết quả 
của chúng tôi ghi nhận rằng: Các yếu tố liên 
quan giữa nhiễm khuẩn bệnh viện với viêm 
phổi chủ yếu là đặt nội khí quản và thông 
dạ dày nuôi ăn, kết quả có ý nghĩa thống kê 
p < 0,05. Thời gian đặt nội khí quản và thở 
máy càng lâu thì nguy cơ viêm phổi bệnh 
viện càng cao. Việc đặt lại nội khí quản 
cũng làm tăng nguy cơ viêm phổi bệnh viện 
do quá trình xâm lấn nhiều lần. Hít phải 
chất nôn là con đường xâm nhập gây viêm 
phổi phổ biến nhất, do đó những bệnh nhân 
hít sặc chất nôn có nguy cơ cao hơn bình 
thường. Đồng thời với đó là ăn qua sonde 
dạ dày làm tăng khả năng sặc chất nôn cũng 
là nguy cơ gây viêm phổi bệnh viện. Trong 
nghiên cứu của chúng tôi, việc sử dụng an 
thần, giãn cơ không cho thấy mối liên quan 
với viêm phổi bệnh viện. 
Về nhiễm khuẩn huyết, chúng tôi ghi 
nhận các yếu tố nguy cơ là đặt tĩnh mạch 
trung tâm, bộc lộ tĩnh mạch trung tâm, số 
đường truyền tĩnh mạch >3 và thời gian đặt 
thông tĩnh mạch trung tâm trên 3 ngày. Các 
yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn huyết đều có 
sự liên quan với nhiễm khuẩn bệnh viện, 
các kết quả có ý nghĩa thống kê p < 0,05. 
Việc đặt tĩnh mạch trung tâm và thời gian 
lưu kéo dài tạo điều kiện cho việc vi khuẩn 
xâm nhập [2, 6, 7]. Số đường truyền tĩnh 
mạch nhiều cho thấy việc sử dụng thuốc 
nhiều, mỗi lần như vậy lại có khả năng cho 
vi khuẩn xâm nhập vào máu. 
Về nhiễm khuẩn vết mổ, phẫu thuật 
đường tiêu hóa và thời gian dẫn lưu >5 ngày 
là các yếu tố nguy cơ. Phẫu thuật đường 
tiêu hóa có nguy cơ nhiễm cao hơn các 
phẫu thuật cùng loại do có số lượng lớn vi 
khuẩn trong đường ruột. Ngoài ra, chúng tôi 
cũng nhận thấy các phẫu thuật >2 giờ cũng 
là yếu tố nguy cơ của nhiễm khuẩn. Đồng 
thời việc sử dụng kháng sinh dự phòng cũng 
giảm rõ rệt nguy cơ trên. Tìm thấy mối liên 
quan giữa việc dùng kháng sinh với nguy cơ 
nhiễm khuẩn vết mổ, sử dụng kháng sinh dự 
phòng giảm nguy cơ nhiễm trùng vết mổ, 
kết quả có ý nghĩa thống kê p < 0,005. 
Ngoài ra, chúng tôi tìm thấy có mối liên 
quan giữa yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩ tiết 
niệu với nhiễm trùng bệnh viện. Việc đặt 
thông tiểu và lưu thông tiểu kéo dài cũng là 
nguy cơ của nhiễm khuẩn tiết niệu. Điều này 
cũng được đồng thuận trong nghiên cứu của 
các tác giả trong và ngoài nước [1, 6, 8]. 
5. Kết luận 
Suy dinh dưỡng độ II trở lên, PRISM 
>10, ≥3 can thiệp xâm lấn, dùng thuốc 
kháng thụ thể H2 và nuôi ăn qua đường tĩnh 
mạch là các yếu tố nguy cơ của nhiễm 
khuẩn bệnh viện. Đặt nội khí quản, lưu nội 
khí quản >5 ngày, đặt lại nội khí quản, hít 
sặc chất nôn là yếu tố nguy cơ của viêm 
phổi bệnh viện. Bộc lộ tĩnh mạch, ≥3 đường 
truyền tĩnh mạch, đặt thông tĩnh mạch trung 
tâm là các yếu tố nguy cơ của nhiễm khuẩn 
huyết. Phẫu thuật đường tiêu hóa, thời gian 
phẫu thuật >2 giờ, dẫn lưu sau mổ, thời gian 
dẫn lưu >5 ngày và không dùng kháng sinh 
P.T. Hue / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 5 (2020) 34-41 
41 
dự phòng là yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn 
vết mổ. Đặt thông tiểu và lưu thông tiểu >3 
ngày là yếu tố nguy cơ của nhiễm khuẩn 
tiết niệu. 
Tài liệu tham khảo 
[1] Tuan HM, Kim HT. Risk factors for 
hospital infections in the Pediatric 
Emergency Care Department. Medical and 
Pharmaceutical News 2005;6:139-142. (in 
Vietnamese) 
[2] Garner JS, Jarvis WR, Emori TG et al. 
CDC Definitions of Nosocomial Infections. 
In R.N. Olmsted (Ed.), APIC Infection 
Control and Applied Epidemiology: 
Principles and Practice. Mosby, St. Louis 
1996:A-1-A-20. 
[3] Asembergiene J, Gurskis V, Kevalas R et 
al. Nosocomial Infections in the Pediatric 
Intensive Care Units in Lithuania. 
Medicina 2009;45(1):29-36. https://doi.org/ 
10.3390/medicina45010005 
[4] Naveda Romero OE, Naveda Meléndez AF. 
Are Red Blood Cell Transfusions Associated 
With Nosocomial Infections in Critically Ill 
Children?. Archivos Argentinos de Pediatria 
2016;114(4):347-351. https://doi.org/ 10.55 
46/aap.2016.eng.347 
[5] Nalini SN, Bruce S, Kantilal P et al. Risk 
factors for nosocomial infection in 
critically ill children. A Prospective cohort 
study. Critical Care Medicine 
1996;24(5):875-878. 
[6] Rowin ME, Patel VV, Christenson JC. 
Pediatric intensive care unit nosocomial 
infections: Epidemiology, sources and 
solution. Critical Care Clinics 2003; 
19(3):473-487. 
[7] Burke JP. Nosocomial Urinary Tract 
infections. Hospital Epidemiology and 
Infection Control. 5
th
 edition; 1990, p. 139-
153 
[8] Eric JM, Basim IA. Nosocomial Infections 
and Multidrug-Resistant Bacterial 
Organisms in the Pediatric Intensive Care 
Unit. The Indian Journal of Pediatrics 
2011;78(2):176-84. https://doi.org/10.1007 
/s12098-010-0253-4 

File đính kèm:

  • pdfyeu_to_nguy_co_nhiem_khuan_benh_vien_tai_khoa_cap_cuu_benh_v.pdf