Yếu tố liên quan đến tình trạng thiếu máu do thiếu sắt ở phụ nữ mang thai đến khám tại Bệnh viện Từ Dũ

Mục tiêu: Xác định một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ thiếu máu

thiếu sắt ở phụ nữ mang thai đến khám tại bệnh viện Từ Dũ thành

phố Hồ Chí Minh.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 900 phụ

nữ có thai nhằm tìm các yếu tố liên quan với thiếu máu thiếu sắt.

Chúng tôi nghiên cứu trên thai phụ từ 6 – 20 tuần, không có tiền căn

về bệnh lý nội khoa cũng như bệnh lý huyết học. Tiêu chuẩn chẩn

đoán thiếu máu thiếu sắt khi có đồng thời ba chỉ điểm là Hb <>

dL, MCV < 80="" fl="" và="" ferritin=""><>

Kết quả nghiên cứu: Có 11,8% thai phụ có con lần 2 có tình trạng

thiếu máu thiếu sắt nhiều hơn một cách có ý nghĩa so với thai phụ

con so (5,0%). 9,0% thai phụ ăn uống bình thường và 12,7% thai

phụ ăn uống ít hơn bình thường có tình trạng thiếu máu thiếu sắt

nhiều hơn một cách có ý nghĩa so với thai phụ ăn tăng lên trong thai

kỳ (5,3%).

pdf 5 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Yếu tố liên quan đến tình trạng thiếu máu do thiếu sắt ở phụ nữ mang thai đến khám tại Bệnh viện Từ Dũ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Yếu tố liên quan đến tình trạng thiếu máu do thiếu sắt ở phụ nữ mang thai đến khám tại Bệnh viện Từ Dũ

Yếu tố liên quan đến tình trạng thiếu máu do thiếu sắt ở phụ nữ mang thai đến khám tại Bệnh viện Từ Dũ
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(02), 45 - 49, 2016
45
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
Phạm Thanh Hải
Bệnh viện Từ Dũ 
YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TÌNH TRẠNG THIẾU MÁU 
DO THIẾU SẮT Ở PHỤ NỮ MANG THAI
ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN TỪ DŨ
Tóm tắt
Mục tiêu: Xác định một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ thiếu máu 
thiếu sắt ở phụ nữ mang thai đến khám tại bệnh viện Từ Dũ thành 
phố Hồ Chí Minh. 
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 900 phụ 
nữ có thai nhằm tìm các yếu tố liên quan với thiếu máu thiếu sắt. 
Chúng tôi nghiên cứu trên thai phụ từ 6 – 20 tuần, không có tiền căn 
về bệnh lý nội khoa cũng như bệnh lý huyết học. Tiêu chuẩn chẩn 
đoán thiếu máu thiếu sắt khi có đồng thời ba chỉ điểm là Hb < 11g/
dL, MCV < 80 fL và ferritin < 30µg/L. 
Kết quả nghiên cứu: Có 11,8% thai phụ có con lần 2 có tình trạng 
thiếu máu thiếu sắt nhiều hơn một cách có ý nghĩa so với thai phụ 
con so (5,0%). 9,0% thai phụ ăn uống bình thường và 12,7% thai 
phụ ăn uống ít hơn bình thường có tình trạng thiếu máu thiếu sắt 
nhiều hơn một cách có ý nghĩa so với thai phụ ăn tăng lên trong thai 
kỳ (5,3%).
Abstract 
THE FACTORS ASSOCIATED WITH IRON 
DEFICIENCY ANEMIA IN PREGNANT WOMEN
Objective: Identified the factors associated with iron deficiency 
anemia in pregnant women. 
Materials and methods: A cross-sectional study on 900 pregnant 
women aged 6-20 weeks gestation, with no history of medical 
conditions as well as hematological pathologies. Criteria for 
diagnosis of iron deficiency anemia is Hb <11g / dL, MCV <80 fL 
and ferritin <30µg/L. 
Results: multiparous women had more iron deficiency anemia 
than nulliparous women. Pregnant women eatting well had less iron 
deficiency anemia than other.
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Phạm Thanh Hải,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/03/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
20/04/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 25/04/2016
PHẠM THANH HẢI
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
46
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
1. Đặt vấn đề
Thiếu máu trong thai kỳ là vấn đề sức khỏe được 
quan tâm hàng đầu trên toàn thế giới vì thiếu máu 
trong thời kỳ mang thai là một trong những nguyên 
nhân của sẩy thai, sanh non, thai suy dinh dưỡng 
trong tử cung, trẻ sinh nhẹ cân; đối với người mẹ 
làm tăng nguy cơ chảy máu trong và sau sinh, tăng 
nguy cơ nhiễm trùng hậu sản và chậm hồi phụ sức 
khỏe của người mẹ sau sinh. 
Viện dinh dưỡng Quốc gia Việt Nam thực hiện 
chương trình bổ sung sắt đồng loạt cho phụ nữ có 
thai và khuyến khích phụ nữ trong độ tuổi sinh sản 
bổ sung sắt trước khi muốn có thai. Như vậy, sau 
can thiệp của Viện Dinh dưỡng quốc gia và sự phát 
triển kinh tế xã hội cải thiện chất lượng cuộc sống 
trong đó có chất lượng khẩu phần ăn thì tỷ lệ thiếu 
máu thiếu sắt ở phụ nữ mang thai có được cải thiện 
không và yếu tố nào ảnh hưởng gây nên tình trạng 
thiếu máu do thiếu sắt. Do đó chúng tôi tiến hành 
nghiên cứu: “Xác định các yếu tố liên quan đến 
thiếu máu do thiếu sắt ở phụ nữ mang thai đến 
khám tại bệnh viện Từ Dũ thành phố Hồ Chí Minh 
năm 2013 – 2014” mục tiêu nghiên cứu:
- Xác định một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ 
thiếu máu thiếu sắt ở phụ nữ mang thai đến khám 
tại bệnh viện Từ Dũ thành phố Hồ Chí Minh năm 
2013 – 2014.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu cắt ngang.
Dân số nghiên cứu
Tiêu chuẩn chọn 
- Khám thai lần đầu lúc tuổi thai từ 6 – 20 tuần.
- Xác định chính xác được tuổi thai:
+ Nhớ rõ ngày kinh chót hoặc.
+ Có siêu âm 3 tháng đầu thai kỳ.
- Tình trạng thể chất và tinh thần có khả năng 
trả lời bảng phỏng vấn.
Tiêu chuẩn loại trừ
- Đã từng hay đang có các bệnh lý: gan, thận, 
tim mạch, viêm loét dạ dày, viêm thực quản.
- Tiền sử gia đình có người mắc bệnh: 
thalasemia, ung thư máu.
- Tiền căn xuất huyết âm đạo trong thai kỳ lần này.
- Không đồng ý tham gia vào nghiên cứu.
Các bước thu thập số liệu
- Tất cả các thai phụ đến khám thai tại bệnh 
viện Từ Dũ đủ tiêu chuẩn chọn mẫu cho bước 1 
sẽ được tư vấn mời tham gia vào nghiên cứu, chỉ 
định xét nghiệm huyết đồ tầm soát thiếu máu khi 
có thai và điền thông tin vào bảng thu thập dữ 
liệu (phụ lục 1). 
- Các thai phụ thiếu máu (Hb < 11g/dl), hồng 
cầu nhỏ (MCV < 80 Fl).
- Khám lâm sàng đánh giá các dấu hiệu 
thiếu máu.
- Tất cả các phụ nữ có thai đồng ý tham gia 
vào nghiên cứu sẽ được lấy 2ml máu tĩnh mạch cho 
vào ống xét nghiệm không có EDTA (ống màu đỏ) 
chuyển đến khoa Xét nghiệm – Bệnh viện Từ Dũ 
định lượng nồng độ Ferritin huyết thanh bằng máy 
Elycsys 2010 Roche với test kít REF 03737551.
Định nghĩa một số biến số nghiên cứu
3. Kết quả nghiên cứu
- Tỷ lệ thiếu máu trong ĐTNC là 21,0% trong 
đó 85% là thiếu máu nhẹ và 15% thiếu máu trung 
bình, không có trường hợp thiếu máu nặng.
- Tỷ lệ thiếu máu hồng cầu nhỏ trong ĐTNC là 
9,1% chiếm 45,4% các trường hợp thiếu máu trong 
nghiên cứu.
- Tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt trong ĐTNC là 7,7% 
chiếm 84,1% các trường hợp thiếu máu hồng cầu 
nhỏ trong nghiên cứu.
Tên biến Loại biến Cách xác định
Thiếu máu thiếu sắt Nhị giá
Xét nghiệm huyết đồ và ferritin huyết thanh
1. Có (Hb < 11g/dl và ferritin < 30µg/L).
2. Không (không đủ yếu tố trên).
Hemoglobin (g/dl) N %
≥ 11 711 79,0
10,0 – 10,9 160 17,8
7,0 – 9,9 29 3,2
< 7 0 0
Bảng 1: Phân bố ĐTNC theo nồng độ Hemoglobin
MCV (fL)
< 80 80 – 100
Hb < 11 Ferritin
≥ 30 13 (6,9%)
107 
(56,6%)
15 – 29,9 47 (24,9%)
12 – 14,9 11 (5,8%)
< 12 11 (5,8%)
Hb ≥ 11g/dl 30 (4,2%) 681 (95,8%)
Bảng 2: Phân bố ĐTNC theo các đặc điểm xét nghiệm huyết đồ và ferritin
- Chúng tôi không tìm thấy mối liên giữa đặc 
điểm nhân khẩu xã hội học và tình trạng TMTS 
trong nghiên cứu.
- 11,8% thai phụ có con lần 2 có tình trạng 
thiếu máu thiếu sắt nhiều hơn một cách có ý nghĩa 
so với thai phụ con so (5,0%).
Bảng 5:
- 9,0% thai phụ ăn uống bình thường và 12,7% 
thai phụ ăn uống ít hơn bình thường có tình trạng 
thiếu máu thiếu sắt nhiều hơn một cách có ý nghĩa 
so với thai phụ ăn tăng lên trong thai kỳ (5,3%).
- 2,6% thai phụ sử dụng trà có tình trạng thiếu 
máu thiếu sắt ít hơn một cách có ý nghĩa so với thai 
phụ không sử dụng trà (8,4%).
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(02), 45 - 49, 2016
47
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
TMTS Không TMTS PR p
Tuổi
Trung bình 28,8 ± 5,3
> 35 tuổi
18 – 35 tuổi
< 18 tuổi
5 (4,1%)
64 (8,3%)
0
116 (95,9%)
708 (91,7%)
7 (100%)
Ref 
2,09 0,12
Nơi cư ngụ
Tp. HCM
Nơi khác
30 (7,8%)
39 (7,5%)
353 (92,2%)
478 (92,5%)
Ref
0,99 0,87
Học vấn
Trên cấp 3
Từ cấp 3 trở xuống
26 (6,2%)
43 (9,0%)
394 (93,8%)
437 (91,0%)
Ref
1,49 0,12
Tình trạng kinh tế
Khá giả
Trung bình
Khó khăn
1 (9,1%)
54 (7,2%)
14 (10,4%)
10 (90,9%)
701 (92,8%)
120 (89,6%)
Ref
0,8
1,3
0,89
0,81
Bảng 3: Mối liên quan giữa TMTS và đặc điểm nhân khẩu học
TMTS Không TMTS PR p
Tuổi
Trung bình 11,8 ± 3,0
> 12 tuần
8 – 12 tuần
< 8 tuần
22 (8,1%)
42 (7,0%)
5 (18,5%)
248 (91,9%)
561 (93,0%)
22 (81,5%)
Ref
0,84
2,56
0,54
0,08
Số con hiện có
Con so
Con lần 2
Đã có từ 2 con trở lên
25 (5,0%)
41 (11,8%)
3 (5,3%)
471 (95,0%)
306 (88,2%)
54 (94,7%)
Ref
2,53
1,01
0,00
0,94
Con nhỏ hơn 2 tuổi
Không
Có, bú sữa mẹ < 6 tháng
Có, bú sữa mẹ 6 – 12 tháng
Có, bú sữa mẹ > 12 tháng
65 (7,8%)
0
1 (3,4%)
3 (17,6%)
773 (92,2%)
16 (100%)
28 (96,6%)
14 (82,4%)
Ref 
0,42
2,55
0,40
0,15
Đa thai
Không
Có
66 (7,5%)
3 (14,3%)
813 (92,5%)
18 (85,7%)
Ref
1,48 0,25
Chảy máu trong thai kỳ
Không 
3 tháng đầu
3 tháng giữa
60 (7,6%)
5 (6,9%)
4 (10,0%)
728 (92,4%)
67 (93,1%)
36 (90,0%)
Ref
0,91
1,35
0,84
0,58
Bảng 4: Mối liên quan giữa TMTS và đặc điểm sản khoa
TMTS Không TMTS PR p
Ăn uống trong thai kỳ
Nhiều hơn
Bình thường
Ít hơn
21 (5,3%)
40 (9,0%)
8 (12,7%)
374 (94,7%)
402 (91,0%)
55 (87,3%)
Ref
1,77
2,59
0,04
0,03
Nghén trong thai kỳ
Không
Nhẹ
Trung bình
Nặng
28 (8,4%)
30 (7,4%)
11 (8,0%)
0
307 (91,6%)
374 (92,6%)
127 (92,0%)
23 (100%)
Ref
1
1
1
0,99
0,99
0,99
Bổ sung sữa
Sữa bà bầu
Sữa đặc có đường
Sữa tươi
56 (7,7%)
2 (11,1%)
11 (6,9%)
667 (92,3%)
16 (88,9%)
148 (93,1%)
Ref
1,13
0,67
0,72
0,60
Sử dụng trà
Không 
Có
66 (8,4%)
3 (2,6%)
718 (91,6%)
113 (97,4%)
Ref 
0,8 0,02
Sử dụng cà phê
Không 
Có
59 (7,2%)
10 (12,7%)
762 (92,8%)
68 (87,3%)
Ref
1,87 0,08
Bổ sung đa sinh tố
Có đều đặn
Có, không đều
Không
15 (7,7%)
37 (8,8%)
17 (5,5%)
156 (91,2%)
382 (91,2%)
293 (94,5%)
Ref
1,01
0,66
0,17
0,98
Bổ sung sắt
Có đều đặn
Có, không đều
Không
25 (7,3%)
28 (7,6%)
16 (8,3%)
316 (92,7%)
339 (92,4%)
176 (91,7%)
Ref
1,65
1,15
0,67
0,88
Bảng 5: Mối liên quan giữa TMTS và dinh dưỡng trong thai kỳ
4. Bàn luận
Sắt là một vi chất dinh dưỡng cần thiết cho quá 
trình sản xuất hồng cầu, đảm bảo sự vận chuyển 
oxy trong cơ thể để duy trì sự sống. Theo WHO, 
TMTS trong thai kỳ liên quan đến nhiều nguyên 
nhân từ đặc điểm nhân khẩu, xã hội học đến các 
chế độ dinh dưỡng trong thai kỳ.
Trình độ học vấn
Trong nghiên cứu của chúng tôi, trên 50% các 
trường hợp có trình độ học vấn từ cấp 3 trở xuống. 
Theo nghiên cứu của Chotnopparatpattara[5] tại 
Thái Lan ghi nhận những phụ nữ mang thai mù 
chữ có nguy cơ TMTS cao hơn. Có lẽ với trình độ 
học vấn cao, vấn đề nhận thức của thai phụ về 
lịch khám thai định kỳ sẽ tốt hơn, điều này giúp 
cho việc sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe 
bà mẹ và thai nhi tốt hơn có thể làm giảm tỷ lệ 
TMTS.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, chúng tôi 
không tìm thấy sự khác biệt về tỷ lệ TMTS giữa 
hai nhóm đối tượng có học vấn trên cấp 3 và 
từ cấp 3 trở xuống. Kết quả này cũng phù hợp 
với nghiên cứu của Đặng Thị Hà và Võ Thị Thu 
Nguyệt tại Tp.HCM điều này có thể do hiệu quả 
PHẠM THANH HẢI
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
48
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
truyền thông trong dự phòng TMTS được triển 
khai rộng khắp cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ 
và trẻ em tại Tp.HCM.
Một số yếu tố có thể tương quan với tình trạng 
học vấn như tuổi bà mẹ, nghề nghiệp cũng được 
chúng tôi khảo sát tương quan nhưng không thấy 
sự khác biệt có ý nghĩa với tình trạng thiếu máu 
thiếu sắt.
Tình trạng kinh tế
Theo y văn, tình trạng kinh tế thấp sẽ dẫn 
đến tình trạng việc bổ sung chất đạm cho bữa ăn 
không đảm bảo đủ nhu cầu cơ thể, từ đó nguy cơ 
TMTS sẽ gia tăng. Những thai phụ có tình trạng 
kinh tế khó khăn thường có chế độ ăn giàu tinh 
bột và ít đạm do đó rất dễ thiếu vi chất. 
Theo nghiên cứu của Vương Thị Ngọc Lan và 
Đặng Thị Hà cho thấy tỷ lệ TMTS cao hơn ở nhóm 
thai phụ có tình trạng kinh tế thấp. Nghiên cứu 
của Guerra[6] tại Brazil ghi nhận nhóm phụ nữ 
mang thai có thu nhập thấp hơn 25 USD/tháng 
có xuất động TMTS cao hơn.
Nghiên cứu của chúng tôi không tìm thấy mối 
tương quan giữa tình trạng kinh tế và TMTS có 
thể do việc xác định tình trạng kinh tế của thai 
phụ có thể mang tính chủ quan và cỡ mẫu nghiên 
cứu của chúng tôi chưa phù hợp để tìm mối liên 
quan này.
Đặc điểm sản khoa
Nhu cầu sắt khi có thai tăng gấp 6 lần so 
với phụ nữ không mang thai, do đó nguy cơ 
TMTS sẽ gia tăng nếu thai phụ đã từng mang 
thai và sinh con nhiều lần. Nhiều nghiên cứu 
trong và ngoài nước đã chứng minh luận điểm 
trên là đúng. Nghiên cứu của Đặng Thị Hà cho 
thấy phụ nữ sinh con lần thứ 3 sẽ tăng nguy cơ 
TMTS 54% so với sinh con so, sinh con lần 4 – 7 
tăng nguy cơ 75% so với sinh con so. Nghiên 
cứu tại các quốc gia đang phát triển như Brazil, 
Venezuela, Ethiopia cũng cho kết quả tương tự. 
Thực tế nghiên cứu của chúng tôi cũng nhận thấy 
so với những thai phụ con so, các thai phụ sinh 
con lần thứ 2 có nguy cơ gia tăng tỷ lệ TMTS hơn 
(PR = 2,53).
Bên cạnh đó, vẫn còn có các nghiên cứu 
trong (Vương Thị Ngọc Lan, Võ Thị Thu Nguyệt) 
và ngoài nước không tìm thấy mối liên quan 
giữa số lần sanh và TMTS. Như vậy có sự không 
thống nhất giữa các nghiên cứu, điều này có rất 
nhiều nguyên nhân nhưng có thể do việc bổ sung 
sắt trong thai kỳ có thể có ảnh hưởng. Những 
thai phụ dù sanh nhiều lần nhưng vẫn đảm bảo 
bổ sung sắt tốt cũng có thể giảm thiểu nguy cơ 
TMTS.
Dinh dưỡng trong thai kỳ
Trong quá trình mang thai, cơ thể người mẹ 
có tình trạng luôn thay đổi và các chuyển hóa 
sinh lý phải được đáp ứng để bảo vệ cho các bào 
thai khỏi các sự thay đổi bất thường từ bữa ăn 
của người mẹ. Ngay từ khi mới bắt đầu có thai, 
nhu cầu thực tế về dinh dưỡng phải tăng và càng 
tăng cao về cuối thai kỳ. Theo nghiên cứu của 
Viện Dinh dưỡng Quốc gia, trong bữa ăn của nữ 
nông dân và phụ nữ có thai chủ yếu là tinh bột 
(80%) điều này làm gia tăng tỷ lệ TMTS.
Như vậy có thể thấy, khẩu phần ăn và chất 
lượng bữa ăn có liên quan đến tình trạng TMTS. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 9,0% thai phụ ăn 
uống bình thường và 12,7% thai phụ ăn uống ít 
hơn bình thường có tình trạng thiếu máu thiếu sắt 
nhiều hơn một cách có ý nghĩa so với thai phụ ăn 
tăng lên trong thai kỳ (5,3%) điều này cũng phù 
hợp với một số nghiên cứu trong và ngoài nước.
Tại các thành phố lớn, hiện tại có khuynh 
hướng dùng sữa trong thai kỳ như là một biện 
pháp cải thiện chất lượng khẩu phần ăn, tăng 
chất đạm, tăng khả năng cung cấp sắt do đó làm 
giảm nguy cơ TMTS. Nghiên cứu của Võ Thị Thu 
Nguyệt cho thấy những thai phụ không sử dụng 
hoặc sử dụng sữa không bổ sung chất sắt khi 
mang thai có nguy cơ TMTS trong thai kỳ nhiều 
hơn so với những thai phụ sử dụng sữa bổ sung 
sắt thường xuyên trong thai kỳ. Nghiên cứu của 
chúng tôi không tìm thấy mối liên quan này.
Một số chất trong khẩu phần ăn được chứng 
minh làm giảm hấp thu sắt từ đó gây tăng tỷ lệ 
TMTS như trà, cà phê, thuốc lá. . . tuy nhiên cũng 
như nhiều nghiên cứu khác trong và ngoài nước 
chúng tôi không tìm thấy mối tương quan này hoạc 
do sai lệch trong quá trình thu thập dữ liệu mà 
chúng tôi nhận thấy 2,6% thai phụ sử dụng trà có 
tình trạng thiếu máu thiếu sắt ít hơn một cách có ý 
nghĩa so với thai phụ không sử dụng trà (8,4%).
Việc bổ sung sắt và đa sinh tố trong thai kỳ 
được khuyến cáo rộng rãi trên các phương tiện 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(02), 45 - 49, 2016
49
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
thông tin đại chúng cũng có thể là nguyên nhân 
khiến nhiều phụ nữ sử dụng trước và ngay khi 
có thai do đó chúng tôi không tìm thấy mối liên 
quan giữa tình trạng thiếu máu thiếu sắt và bổ 
sung các vi chất dinh dưỡng trong nghiên cứu.
5. Kết luận
Qua khảo sát 900 phụ nữ mang thai đến khám 
tại bệnh viện Từ Dũ, chúng tôi có một số kết luận:
- 11,8% thai phụ có con lần 2 có tình trạng 
thiếu máu thiếu sắt nhiều hơn một cách có ý nghĩa 
so với thai phụ con so (5,0%).
- 9,0% thai phụ ăn uống bình thường và 12,7% 
thai phụ ăn uống ít hơn bình thường có tình trạng 
thiếu máu thiếu sắt nhiều hơn một cách có ý nghĩa 
so với thai phụ ăn tăng lên trong thai kỳ (5,3%).
Tài liệu tham khảo
1. Đặng Thị Hà (2000), “Tầm soát thiếu máu thiếu sắt trong thai kỳ 
tại Thành phố Hồ Chí Minh”. Luận án tiến sĩ y học.
2. Trần Thị Minh Hạnh, Phan Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Nhân 
Thành, Phạm Ngọc Oanh, Nguyễn Thanh Danh, Lê Thị Kim Quí 
(2009), “Tình trạng vi chất dinh dưỡng ở thai phụ tại thành phố Hồ Chí 
Minh”. Giáo dục sức khỏe, 4, 14 - 24.
3. Võ Thị Thu Nguyệt (2009), “Tình trạng thiếu máu thiếu sắt trong 
3 tháng giữa thai kỳ và các yếu tố liên quan tại bệnh viện Đại học Y 
dược”. Luận án tốt nghiệp Thạc sĩ y học.
4. Đặng Oanh, Đặng Tuấn Đạt, Hoàng Xuân Hạnh, H’ Bum, Nguyễn 
Thị Thùy, Hoàng Hải Phúc, et al. (2009), “Tình trạng thiếu máu dinh 
dưỡng của phụ nữ có thai người dân tộc thiểu số tại tỉnh Đăk LăK 
năm 2008”. Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm, 5, 24 - 32.
5. Chotnopparatpattara (2003), “The prevalance and risk factor of 
anemia in pregnant women”, J Med Assoc Thai; 86(11): 1001-7.
6. Gurrea E. M, Battetto O.C, Vaz A.J (1990), “Prevalencia deanemia 
em gestantes de primeira consulta em centros de saude de area 
metropolitana, Brazil , Rev. Saude Publica, 24(5) :380-6.

File đính kèm:

  • pdfyeu_to_lien_quan_den_tinh_trang_thieu_mau_do_thieu_sat_o_phu.pdf