Xử trí thương tổn ngã 3 chủ chậu trong ghép thận: Báo cáo 2 trường hợp và điểm lại y văn

Từ tháng 7/2018 đến tháng 7/2019, chúng tôi thực hiện 85 ca ghép thận, trong đó có 1 bệnh nhân nam 45 tuổi và 1 bệnh nhân nam 58 tuổi đã được làm cầu nối động mạch chủ - Động mạch chậu ngoài phải bằng mạch nhân tạo và làm miệng nối động mạch thận – mạch nhân tạo cùng thì. Theo dõi sau 4 và 12 tháng, kết quả phẫu thuật tốt

pdf 9 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Xử trí thương tổn ngã 3 chủ chậu trong ghép thận: Báo cáo 2 trường hợp và điểm lại y văn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Xử trí thương tổn ngã 3 chủ chậu trong ghép thận: Báo cáo 2 trường hợp và điểm lại y văn

Xử trí thương tổn ngã 3 chủ chậu trong ghép thận: Báo cáo 2 trường hợp và điểm lại y văn
XỬ TRÍ THƯƠNG TỔN NGÃ 3 CHỦ CHẬU TRONG GHÉP THẬN: BÁO CÁO 2 TRƯỜNG HỢP VÀ ĐIỂM LẠI Y VĂN 
 71 
XỬ TRÍ THƯƠNG TỔN NGÃ 3 CHỦ CHẬU TRONG GHÉP THẬN: BÁO CÁO 
2 TRƯỜNG HỢP VÀ ĐIỂM LẠI Y VĂN 
Ngô Gia Khánh *, Đồng Minh Hùng *
TÓM TẮT 
Từ tháng 7/2018 đến tháng 7/2019, chúng 
tôi thực hiện 85 ca ghép thận, trong đó có 1 bệnh 
nhân nam 45 tuổi và 1 bệnh nhân nam 58 tuổi đã 
được làm cầu nối động mạch chủ - động mạch 
chậu ngoài phải bằng mạch nhân tạo và làm 
miệng nối động mạch thận – mạch nhân tạo cùng 
thì. Theo dõi sau 4 và 12 tháng, kết quả phẫu 
thuật tốt. 
Từ khóa: ghép thận, thương tổn ngã 3 chủ 
chậu, mạch nhân tạo 
TREATMENT OF AORTOILIAC DISEASE 
CONCOMITANT WITH KIDNEY 
TRANSPLANTATION: 2 CASES REPORT 
AND REVIEW THE LITERATURE 
SUMMARY 
From 7/2018 to 7/2019, we perform 85 cases 
of renal transplantation. A 45 year old male patient 
and a 58 year old male patient were performed 
aorto- right extenal iliac bypass and renal artery-
prosthesis graft anastomosis. Postoperation 4 month 
and 12 month, 2 patients are stable. 
Key words: renal transplantation, aortoiliac 
disease, vascular prosthesis graft 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Bệnh thận giai đoạn cuối là một vấn đề sức 
khỏe chính của nhiều quốc gia trên thế giới. Ghép 
thận đem lại thời gian sống và chất lượng cuộc 
sống tốt hơn so với lọc máu chu kỳ. Tuy nhiên 
trong khi chờ ghép thận, quá trình lọc máu chu kỳ 
kết hợp với các yếu tố nguy cơ: tăng huyết áp, rối 
loạn chuyển hóa lipid, đái tháo đường.. làm xuất 
hiện các thương tổn động mạch vùng chủ chậu. 
Những bệnh nhân này trước đây được coi như 
chống chỉ định cho ghép thận. Sau này, nhờ 
những kết quả rất khả quan của ghép thận mà chỉ 
định ghép cũng được mở rộng hơn. Khi đó ghép 
thận ở những bệnh nhân có thương tổn ngã 3 chủ 
chậu được coi như một thách thức. 
II. ĐỐI TƯỢNG PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
Từ tháng 7/2018 đến tháng 7/2019, tại BV 
Bạch Mai thực hiện 85 ca ghép thận, trong đó có 
2 trường hợp vôi hóa nặng động mạch chậu.* 
III. KẾT QUẢ 
Trường hợp 1: BN nam, 45 tuổi, bệnh thận giai 
đoạn cuối, lọc máu chu kỳ 4 năm, rối loạn lipid 
máu (giảm HDL-C). Siêu âm ĐM chủ chậu trước 
mổ: có vôi hóa rải rác ĐM chủ chậu nhưng không 
gây hẹp lòng mạch. Quá trình phẫu thuật: nối TM 
thận – TM chậu ngoài, ĐM thận ghép – ĐM chậu 
ngoài kiểu tận-bên (thời gian làm miệng nối 17 
phút). Sau thả kẹp mạch máu, thận hồng, căng, 
có nước tiểu sau 10 giây. Sau khi cắm niệu quản 
vào bàng quang(thời gian thực hiện 24 phút), 
kiểm tra lại thấy thận xẹp, tím hơn, không có 
thêm nước tiểu. Bộc lộ ĐM kiểm tra, ĐM chậu 
chung vôi hóa nhiều, dòng chảy yếu do sập mảng 
xơ vữa. Bệnh nhân được làm cầu nối ĐM chủ - 
ĐM chậu ngoài phải bằng mạch nhân tạo số 8, cắt 
rời miệng nối ĐM thận - ĐM chậu ngoài và nối 
ĐM thận vào mạch nhân tạo. Không sử dụng 
dung dịch bảo quản tạng, thời gian làm các miệng 
nối 32 phút. Sau thả kẹp, tưới máu thận tốt. 
Không sử dụng chống đông trong và sau mổ. Kết 
quả sau mổ: creatinin máu sau mổ ngày thứ 2 là 
125 mcmol/l. Siêu âm ĐM thận ngay sau mổ và 
trước khi ra viện: tưới máu thận bình thường, 
không thấy hẹp miệng nối. Bệnh nhân ra viện sau 
mổ 10 ngày. Hiện tại sau mổ 12 tháng, kết quả 
ghép thận tốt. 
* Bệnh viện Bạch Mai 
Người chịu trách nhiệm khoa học: BS Ngô Gia Khánh 
Ngày nhận bài: 01/11/2019 - Ngày Cho Phép Đăng: 20/12/2019 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 GS.TS. Lê Ngọc Thành 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 27 - THÁNG 12/2019 
 72 
Hình 1: Lược đồ phẫu thuật trường hợp 1 Hình 2: Hình ảnh trong mổ (miệng nối ĐM 
thận ghép vào mạch nhân tạo) 
Hình 3: Phim chụp MRI trường hợp 1 
Trường hợp 2: BN nam 58 tuổi, đái tháo đường 7 
năm, rối loạn lipid máu (tăng triglyceride, giảm 
HDL-C), sỏi niệu quản 2 bên đã mổ cách 10 năm 
và 7 năm, suy thận mạn 4 năm, lọc máu chu kỳ 2 
tháng trước ghép thận. Siêu âm ĐM chủ chậu trước 
mổ: có vôi hóa rải rác ĐM chủ chậu nhưng không 
gây hẹp lòng mạch. Chụp MSCT mạch chủ chậu 
trước mổ: vôi hóa ĐM chủ chậu gây hẹp 20% ĐM 
chậu chung 2 bên. Quá trình phẫu thuật: BN được 
làm cầu nối ĐM chủ - ĐM chậu ngoài bằng mạch 
nhân tạo số 8. Làm 2 miệng nối TM thận – TM 
chậu ngoài, 3 miệng nối ĐM thận – mạch nhân tạo. 
Thời gian thiếu máu ấm 44 phút. Sau thả kẹp mạch 
máu, thận hồng, căng, có nước tiểu sau 30 giây. 
Dùng Heparin và aspirin sau mổ. Kết quả sau mổ: 
creatinin máu ngày t2 sau mổ là 115 mcmol/l. Siêu 
âm ĐM thận ngay sau mổ và trước khi ra viện: tưới 
máu thận bình thường, không thấy hẹp miệng nối. 
Bệnh nhân ra viện sau mổ 9 ngày. Hiện tại sau mổ 4 
tháng, kết quả ghép thận tốt. 
XỬ TRÍ THƯƠNG TỔN NGÃ 3 CHỦ CHẬU TRONG GHÉP THẬN: BÁO CÁO 2 TRƯỜNG HỢP VÀ ĐIỂM LẠI Y VĂN 
 73 
Hình 4: Lược đồ phẫu thuật trường hợp 2 Hình 5: Phim chụp MRI động mạch thận ghép 
Hình 6: Phim chụp MRI động mạch thận ghép 
IV. BÀN LUẬN 
Trường hợp ghép ĐM thận vào mạch nhân tạo được mô tả lần đầu bởi Sterioff và cộng sự năm 1974 
[1]. Sau đó các trường hợp tương tự cũng được báo cáo dưới dạng ca lâm sang hoặc chùm ca lâm sàng. 
Bảng 1. Tuổi trung bình trong các nghiên cứu 
 Tác giả N Tuổi trung bình 
1 Han, D. J (2014) 27 51.4+_9.1 
2 Matteo Tozzi (2013) 21 54+_9 
3 Patrono, D (2013) 27 56 
4 Z.Galazka (2011) 12 45-68 
5 Meritxell Davins (2009) 11 57.8 
6 Tsivian M (2009) 30 55 (43-65) 
7 I. Matia (2008) 14 53 (32-67) 
8 Özçelik, A (2007) 11 58 (37-82) 
9 Pittaluga P (1998) 83 49.9 
10 Brekke IB (1993) 26 60 (33-74) 
ĐM thận ghép 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 27 - THÁNG 12/2019 
 74 
Do số lượng BN trong các nghiên cứu 
thường là không lớn, trải dài qua nhiều năm nên 
các tác giả không đi sâu vào phân tích các yếu tố 
nguy cơ, tuy nhiên đều có điểm chung là tuổi cao, 
có thời gian lọc máu chu kỳ kéo dài, có kèm các 
bệnh lý gây vữa xơ mạch máu như đái tháo 
đường, rối loạn lipid máu Brekke IB [3] nghiên 
cứu trên 1400 BN chờ ghép thận trong 7 năm 
(1984-1991) đã đưa ra khuyến cao nên chụp 
mạch kiểm tra ở những BN chờ ghép trên 40 tuổi. 
Chúng tôi gặp 2 BN có tuổi là 45 và 58 tuổi, 
trong đó 1 BN có rối loạn lipid máu, 1 BN có cả 
đái tháo đường và rối loạn lipid máu. 
Khảo sát mạch máu chủ chậu trước khi 
ghép thận là thăm dò thường quy. Trong đó chụp 
mạch máu là tiêu chuẩn vàng dùng để đánh giá 
các tắc nghẽn mạch chủ chậu [2]. Tuy nhiên thăm 
dò này có tính xâm lấn và chi phí cao. Vai trò của 
siêu âm mạch máu chủ chậu còn nhiều bàn cãi, 
với độ nhạy 91% và độ đặc hiệu 93% [3] [4], so với 
độ nhạy 96% và độ đặc hiệu 97% của MSCT [5] 
[6]. Phim chụp MSCT ghi nhận thông tin một cách 
khách quan và chi tiết hơn, đặc biệt trên mặt cắt 
Axial, về kích thước mạch chủ chậu (mức độ giãn) 
hoặc mức độ hẹp cũng như tình trạng vôi hóa. 
Chỉ định điều trị sửa chữa (can thiệp nội 
mạch/phẫu thuật) đối với phồng ĐM chủ bụng đã 
được khuyến cáo từ lâu. Bảng 2 so sánh khuyến 
cáo điều trị sửa chữa phồng ĐM chủ bụng của 
Hoa Kỳ, Châu Âu và Nhật Bản. Với thương tổn 
dạng hẹp, vôi hóa ngã 3 chủ chậu được phân loại 
theo TASC. Mức độ TASC A và TASC B được 
khuyến cáo can thiệp nội mạch, TASC C và 
TASC D được khuyến cáo lựa chọn phẫu thuật.
Bảng 2. Tóm tắt khuyến cáo điều trị sửa chữa với phồng ĐMC bụng [13] 
Khuyến cáo ACCF-PAD 2013 JCS-AD 2011 ESC-AD 2014 
Chỉ định sửa chữa khi phồng ĐMC bụng không 
triệu chứng, có kích thước ĐMC lớn nhất 
≥5.5cm ≥5.5cm (nam) 
≥5cm (nữ) 
≥5.5cm 
Cân nhắc sửa chữa khi phồng ĐMC bụng 
không triệu chứng có kích thước ĐMC lớn 
nhất 
5-5.4cm 5-5.4cm 
4-5cm (nguy cơ 
phẫu thuật thấp) 
Chỉ định sửa chữa phồng ĐMC bụng không 
triệu chứng khi kích thước tăng lên 
 >0.5cm/6 tháng >1cm/1 năm 
Không khuyến cáo sửa chữa với phồng ĐMC 
bụng không triệu chứng có kích thước 
<5cm (nam ) 
<4.5cm (nữ) 
<4cm 
Tuy nhiên với nhóm bệnh nhân ghép thận thì chưa có khuyến cáo cụ thể. Bảng 3 đưa ra tóm tắt 
lựa chọn thời điểm (trước hay cùng thì ghép thận) cũng như giải pháp cho các thương tổn vùng ngã 3 
chủ chậu ở BN ghép thận qua một số nghiên cứu. 
XỬ TRÍ THƯƠNG TỔN NGÃ 3 CHỦ CHẬU TRONG GHÉP THẬN: BÁO CÁO 2 TRƯỜNG HỢP VÀ ĐIỂM LẠI Y VĂN 
 75 
Bảng 3. Sửa chữa thương tổn ngã 3 chủ chậu: lựa chọn giải pháp và thời điểm 
 Tác giả Trước ghép thận Cùng thì ghép thận 
1 Han, D. J 
(2014) [14] 
n=27 
 27 AOD (TASC A & B, AS) 
 25 bóc nội mạc 
 2 PT bắc cầu 
2 Matteo Tozzi 
(2013) [12] 
n=21 
3 AAA (>50mm) 
 3 can thiệp nội mạch 
 13±9 tháng 
18 1 AAA (>45mm) 
 1 PT thay đoạn mạch 
17 AOD (TASC C & D, AS) 
 15 bóc nội mạc 
 2 bắc cầu 
3 Patrono, D 
(2013) [15] 
n=24 
22 AAA+AOD 
 PT thay đoạn mạch 
 16.5 tháng 
2 AOD + phình ĐM thận ghép 
 PT thay đoạn mạch 
4 Z.Galazka 
(2011) [16] 
n=12 
12 AOD 
 PT bắc cầu 
 11 tháng (2-25 tháng) 
5 Tsivian M 
(2009) [7] 
n=30 
 30 11 AAA/CIAA 
 4 can thiệp nội mạch 
 7 PT thay đoạn mạch 
19 AOD 
 15 bóc nội mạc 
 4 PT bắc cầu 
6 I. Matia 
(2008) [10] 
n=14 
 14 6 AAA (45-65mm) + 8 AOD 
 PT thay đoạn mạch 
7 Özçelik, A 
(2007) [17] 
n=11 
 11 AOD 
 PT bắc cầu 
8 Brekke IB 
(1993) [3] 
n=26 
26 15 AAA 
 PT thay đoạn mạch 
11 AOD 
 1 bóc nội mạc 
 10 PT bắc cầu 
16 tháng (4-45 tháng) 
AAA: phồng ĐM chủ bụng, AOD: hẹp tắc ngã 3 chủ chậu, CIAA: phồng ĐM chậu chung 
AS: không triệu chứng 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 27 - THÁNG 12/2019 
 76 
Các tác giả đều chỉ định điều trị sửa chữa 
với phồng ĐM chủ bụng khi kích thước ≥45mm. 
Giải pháp lựa chọn có thể là can thiệp nội mạch 
hoặc phẫu thuật thay đoạn mạch. Phần lớn các tác 
giả lựa chọn giải pháp phẫu thuật. Matteo Tozzi 
(2013) [12] chỉ định can thiệp đặt stent cho 3 BN 
phồng ĐM chủ bụng, kích thước >50mm do lo 
ngại nguy cơ vỡ phồng trong khi chờ ghép thận. 
Hơn nữa can thiệp đặt stent có ưu thế hơn phẫu 
thuật trong những trường hợp nguy cơ cao (ít tai 
biến, tránh được khó khăn cho cuộc mổ ghép thận 
do phải mổ lại). Cũng có tác giả chủ động điều trị 
phồng ĐM chủ bụng khi đường kính > 4cm cùng 
thì với ghép thận do lo ngại nguy cơ phải sửa 
chữa sau này [11]. 
 Với thương tổn hẹp/vôi hóa ngã 3 chủ 
chậu, các tác giả đều lựa chọn giải pháp phẫu 
thuật (bóc nội mạc hoặc PT bắc cầu). Các BN 
trong nghiên cứu của Matteo Tozzi (2013) [12] 
và Han, D. J (2014) [14] có mức độ thương tổn 
khác nhau, nhưng đều không có triệu chứng lâm 
sàng. Han, D. J (2014) [14] cũng nhấn mạnh 
trong nghiên cứu của mình là không nên chỉ định 
ghép thận cho những BN có thương tổn hẹp/vôi 
hóa nặng vùng ngã 3 chủ chậu (TASC C/TASC D 
và có triệu chứng lâm sàng). 
Chúng tôi gặp 2 trường hợp có hẹp ngã 3 
chủ chậu khi ghép thận, với phân loại TASC A, 
và đều được lựa chọn phẫu thuật bắc cầu thay vì 
can thiệp nội mạch. Một trường hợp do chúng tôi 
chỉ xác định được thương tổn hẹp ĐM chậu trong 
khi ghép thận. Một trường hợp xác định có hẹp ĐM 
chậu chung 2 bên trước ghép thận, mức độ hẹp ít 
(20%), không làm thay đổi dòng chảy (xác định 
trên siêu âm Doppler). Tuy nhiên do lo ngại mức độ 
hẹp sẽ tăng dần lên, ảnh hưởng đến kết quả ghép 
thận về lâu dài, cũng như không thấy các tác giả 
trên thế giới báo cáo về can thiệp nội mạch cho các 
trường hợp tương tự nên chúng tôi quyết định bắc 
cầu qua chỗ hẹp và ghép thận cùng thì. 
Nhiều tác giả ưu tiên lựa chọn phẫu thuật 2 
giai đoạn (xử lý thương tổn ngã 3 chủ chậu trước, 
sau đó mới ghép thận) do lo ngại nguy cơ nhiễm 
trùng. Cũng có nhiều tác giả quyết định ghép thận 
và xử lý thương tổn ngã 3 chủ chậu cùng thì. 
Trong trường hợp phẫu thuật 2 giai đoạn, thời 
gian giữa xử lý thương tổn ngã 3 chủ chậu và 
ghép thận là bao lâu cũng rất khác nhau giữa các 
tác giả, trong đó BN ngắn nhất trong nghiên cứu 
của Z.Galazka (2011) [16] là 2 tháng. Một số tác 
giả khác khuyến cáo là thời gian tối thiểu là 6 
tuần [9], [10]. 
Bảng 4. Tỷ lệ biến chứng và sống sót của thận ghép qua các nghiên cứu 
Tác giả N 
Loại 
mạch sử 
dụng 
Chống đông 
sau mổ 
Thời gian 
theo dõi 
Tỷ lệ 
nhiễm 
trùng 
cầu nối 
Hỏng thận 
ghép do 
nguyên 
nhân mạch 
máu 
Tỷ lệ 
sống của 
thận 
ghép * 
1 Han, D. J 
(2014) [14] 
2 Mạch 
nhân tạo 
- 35.9±21.6 0% 0% 1y: 96.3% 
3y: 96.3% 
5y: 86.7% 
XỬ TRÍ THƯƠNG TỔN NGÃ 3 CHỦ CHẬU TRONG GHÉP THẬN: BÁO CÁO 2 TRƯỜNG HỢP VÀ ĐIỂM LẠI Y VĂN 
 77 
Tác giả N 
Loại 
mạch sử 
dụng 
Chống đông 
sau mổ 
Thời gian 
theo dõi 
Tỷ lệ 
nhiễm 
trùng 
cầu nối 
Hỏng thận 
ghép do 
nguyên 
nhân mạch 
máu 
Tỷ lệ 
sống của 
thận 
ghép * 
2 Matteo 
Tozzi 
(2013) [12] 
3 Mạch 
nhân tạo 
Enoxaparin x 1 
tháng 
(GFR<30ml/ph: 
2000UI 
GFR >30ml/ph : 
4000UI ) 
+ clopidogrel 
75mg 
14 tháng 0% 0% 1y: 100% 
3 Patrono D 
(2013)[15] 
24 Mạch 
nhân tạo 
LMWH + 
acetylsalicylic 
100mg 
53 tháng 
(1-126) 
0% 1/24 
(4.17%) 
5y: 74% 
4 Z.Galazka 
(2011)[16] 
8 Mạch 
nhân tạo 
- 46 tháng 0% 0% - 
5 I. Matia 
(2008)[10] 
14 Mạch 
đồng loài 
acetylsalicylic 55.5 tháng 
(1-116) 
0% 0% 78.6% 
6 Özçelik, A 
(2007)[17] 
11 Mạch 
nhân tạo 
- 6 tháng 0% 2/11 
(18.2%) 
8/11 
(72.7%) 
7 Brekke IB 
(1993)[3] 
16 Mạch 
nhân tạo 
- 3 – 60 
tháng 
0% 0% 13/16 
(81.3%) 
(*) được đánh giá chung trên tất cả các BN trong nghiên cứu 
(3): 1 TH tắc cầu nối sau mổ 1 ngày do sập mảng xơ vữa 
(6): 1 BN thải ghép không do mạch máu, 1 BN tắc cầu nối, 1 TH không tiến hành ghép thận do đánh giá 
ĐM chậu không đáp ứng cho thận ghép 
(7): 1 BN tử vong sau mổ 1 tuần do nhồi máu cơ tim, 2 BN thải ghép không do mạch máu 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 27 - THÁNG 12/2019 
 78 
Mặc dù lợi ích của đoạn mạch ghép đồng 
loài trong điều trị các tổn thương nhiễm trùng 
mạch máu đã được nghiên cứu và chứng minh từ 
lâu, nhưng đa phần các tác giả vẫn lựa chọn mạch 
nhân tạo để xử lý thương tổn ngã 3 chủ chậu khi 
ghép thận. Một trong các lý do được đưa ra là sự 
không phổ biến của đoạn mạch ghép đồng loài. 
Trong các nghiên cứu cũng không báo cáo trường 
hợp nào nhiễm trùng liên qua đến mạch nhân tạo. 
Patrono D (2013) [15] báo cáo 1 TH tắc cầu nối 
ngay sau mổ 1 ngày do sập mảng xơ vữa tại 
miệng nối, Özçelik, A (2007) [17] báo cáo 1 TH 
tắc cầu nối và 1 TH không tiến hành ghép do 
khảo sát ĐM chậu không đủ an toàn để ghép thận. 
Chúng tôi có 2 TH sử dụng mạch nhân tạo, trong 
thời gian theo dõi (4 tháng và 12 tháng) chưa ghi 
nhận các biến chứng liên quan đến mạch máu. 
Nghiên cứu của Han, D. J (2014) [14] so 
sánh giữa 721 BN ghép thận đơn thuần và 27 BN 
ghép thận có kèm xử lý thương tổn ngã 3 chủ 
chậu cho thấy không có sự khác biệt về tỷ lệ sống 
của BN và của thận ghép giữa 2 nhóm. 
Tỷ lệ sống của 2 nhóm BN Tỷ lệ sống của thận ghép trong 2 nhóm BN 
V. KẾT LUẬN 
Kết hợp xử lý thương tổn ngã 3 chủ chậu và 
ghép thận có thể thực hiện an toàn, hiệu quả ở các 
trung tâm ghép tạng có phẫu thuật viên kinh 
nghiệm. 
Sử dụng mạch nhân tạo không hoàn toàn 
chống chỉ định ở bệnh nhân ghép thận. 
Kết quả phẫu thuật ngắn và trung hạn đều 
được báo cáo tốt, tuy nhiên các nghiên cứu đều 
cho rằng cần theo dõi xa hơn để có thể đưa ra 
được kết luận. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Sterioff S, Zachary JB, Williams GM. 
Dacron vascular grafts in renal transplant 
patients. Am J Surg 1974; 127(5): 525−8. 
2. Schindler N, Calligaro KD, Lombardi J 
et al. Has arteriography gotten a bad name? 
Current accuracy and morbidity of diagnostic 
contrast angiography for aortoiliac and lower 
extremity arterial disease. Ann Vasc Surg 
2001;15(4):417–20. 
XỬ TRÍ THƯƠNG TỔN NGÃ 3 CHỦ CHẬU TRONG GHÉP THẬN: BÁO CÁO 2 TRƯỜNG HỢP VÀ ĐIỂM LẠI Y VĂN 
 79 
3. Brekke IB, Lien B, Sødal G, et al. 
Aortoiliac reconstruction in preparation for renal 
transplantation. Transpl Int 1993;6(3):161–3 
4. Currie IC, Jones AJ, Wakeley CJ, et al. 
Non-invasive aortoiliac assessment. Eur J Vasc 
Endovasc Surg 1995;9(1):248. 
5. Willman JK, Baumert B, Schertler T, et 
al. Aortoiliac and lower extremity arteries 
assessed with 16-detector row CT angiography: 
prospective comparison with digital subtraction 
angiography. Radiology 2005;236(3):1083–93. 
6. Tins B, Oxtoby J, Patel S. Comparison 
of CT angiography with conventional arterial 
angiography in aortoiliac occlusive disease. Br J 
Radiol 2001;74(879):219–25. 
7. Tsivian M, Neri F, Nardo B, et al. 
Aortoiliac surgery concomitant with kidney 
transplantation: a single center experience. Clin 
Transplant 2009; 23(2): 164−7. 
8. Pittaluga P, Hassen-Khodja R, 
Cassuto-Viguier E, et al. Aortoiliac 
reconstruction and kidney transplantation: A 
multicenter study. Ann Vasc Surg 1998; 12(6): 
529−36 
9. Gouny P, Lenot B, Decaix B, et al. 
Aortoiliac surgery and kidney transplantation. 
Ann Vasc Surg 1991; 5(1): 26−31. 
10. Matia I, Adamec M, Varga M,et al. 
Aortoiliac reconstruction with allograft and 
kidney transplantation as a one-stage procedure: 
Long term results. Eur J Vasc Endovasc Surg 
2008; 35(3): 353−7 
11. Aleksandar Tomić et al. 
Aortobifemoral reconstruction and renal 
transplantation in a patient with abdominal aortic 
aneurysm and occlusion of iliac arteries: A case 
report. Vojnosanit Pregl 2017; 74(1): 81–84 
12. Matteo Tozzi et al. Treatment of 
aortoiliac occlusive or dilatative disease 
concomitant with kidney transplantation: how and 
when? International Journal of Surgery (2013) 
11(S1), S115–S119 
13. Jose Rozado et al, Comparing 
American, European and Asian practice 
guidelines for aortic diseases, Journal of Thoracic 
Disease, 2017;9(Suppl 6):S551-S560 
14. Duck Jong Han et al, Effects of 
Simultaneous Iliac Artery Angioplasty on Graft 
and Patient Survival After Living-Donor Kidney 
Transplantation, Transplantation 2014;97: 
826Y831 
15. Damiano Patrono et al, Renal Allograft 
Implantation on Prosthetic Vascular Grafts: 
Short- and Long-term Results, World J Surg 
(2013) 37:1727–1734 
16. Z. Galazka, Is Severe Atherosclerosis 
in the Aortoiliac Region a Contraindication for 
Kidney Transplantation?, Transplantation 
Proceedings, 43, 2908–2910 (2011) 
17. A. Özçelik, Results of Kidney 
Transplantation With Simultaneous Implantation 
of Vascular Graft, Transplantation Proceedings, 
39, 509–510 (2007). 

File đính kèm:

  • pdfxu_tri_thuong_ton_nga_3_chu_chau_trong_ghep_than_bao_cao_2_t.pdf