Xử trí tắc mạch ối tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên báo cáo trường hợp
Bệnh nhân nữ 38 tuổi, PARA 2042, thai đủ tháng, ối vỡ non được chỉ
định mổ lấy thai cấp cứu, đột ngột có các triệu chứng trên lâm sàng và
được chẩn đoán tắc mạch ối trong chuyển dạ. Bệnh nhân được gây mê
nội khí quản, phẫu thuật lấy thai, cắt tử cung bán phần chèn gạc cầm
máu, truyền 13 đơn vị hồng cầu khối và 20 đơn vị huyết tương tươi đông
lạnh. Bệnh nhân ổn định sau 12 ngày điều trị, ra viện mẹ và con ổn định
không có biến chứng. Chúng tôi đưa ra một số nhận xét và kinh nghiệm
về chẩn đoán và điều tri.
Bạn đang xem tài liệu "Xử trí tắc mạch ối tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên báo cáo trường hợp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Xử trí tắc mạch ối tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên báo cáo trường hợp
TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(02), 93 - 96, 2016 93 Tậ p 14 , s ố 02 Th án g 05 -2 01 6 Phạm Văn Mẫn Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên XỬ TRÍ TẮC MẠCH ỐI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH ĐIỆN BIÊN BÁO CÁO TRƯỜNG HỢP Tóm tắt Bệnh nhân nữ 38 tuổi, PARA 2042, thai đủ tháng, ối vỡ non được chỉ định mổ lấy thai cấp cứu, đột ngột có các triệu chứng trên lâm sàng và được chẩn đoán tắc mạch ối trong chuyển dạ. Bệnh nhân được gây mê nội khí quản, phẫu thuật lấy thai, cắt tử cung bán phần chèn gạc cầm máu, truyền 13 đơn vị hồng cầu khối và 20 đơn vị huyết tương tươi đông lạnh. Bệnh nhân ổn định sau 12 ngày điều trị, ra viện mẹ và con ổn định không có biến chứng. Chúng tôi đưa ra một số nhận xét và kinh nghiệm về chẩn đoán và điều tri. Từ khóa: Tắc mạch ối, hồng cầu khối, huyết tương tươi đông lạnh Abstract MANAGEMENT OF AMNIOTIC FLUID EMBOLISM AT DIENBIEN GENERAL HOSPITAL (A CASE REPORT) A 38 year-old pregnant women, PARA 2042, the pregnancy on term, with preterm rupture of membrane. The syndromes of amniotic fluid embolism appeared suddenly. She was indicated cesarean section, subtotal hysterectomy and placing compress in the abdominal capacity in order prevent hemorrhage; The patient has been transfused 13 units of red blood cells and 20 units of frqozen plasma. After 12 days treatment, mother and baby were stabilize and go home. We present the learn lesson and experiences about diagnosis and management of amniotic fluid embolism at the mountain hospital Key word: Amniotic fluid embolism, red blood cells, frozen plasma Tác giả liên hệ (Corresponding author): Phạm Văn Mẫn, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 10/03/2016 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 20/04/2016 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted):25/04/2016 Từ khoá: Tắc mạch ối, hồng cầu khối, huyết tương tươi đông lạnh. Keywords: Amniotic fluid embolism, red blood cells, frozen plasma. 1. Đặt vấn đề Tắc mạch ối tuy hiếm gặp, nhưng là một hội chứng tối cấp, rất nguy hiểm trong sản khoa, tử vong cao, không thể chẩn đoán và dự phòng trước được [1], [11]. Theo Morgan PHẠM VĂN MẪN 94 Tậ p 14 , s ố 02 Th án g 05 -2 01 6 B Á O C Á O T R Ư Ờ N G H Ợ P (1979), tỷ lệ bệnh thay đổi từ 1/8.000-1/80.000 sản phụ, 70% sống được nếu mổ lấy thai ngay, trong đó 50% có tổn thương thần kinh [2]. Theo hệ thống đăng kiểm Mỹ, tỷ lệ tử vong là 61% và 85% để lại di chứng [4]. Năm 1999, Gilbert công bố, tỷ lệ tử vong là 26%, tỷ lệ mắc là 1/26.000 [5]. Theo Tuffnell, tại Vương quốc Anh (2005) tỷ lệ tử vong là 37%, trong đó 7% có di chứng. Abenhaim và cộng sự (2008), nghiên cứu trên quần thể 3 triệu ca sinh tại Mỹ từ 1999 đến 2003, tần suất mới mắc là 7,7/100.000 (1/13.000), tỷ lệ tử vong là 22%. Nhiều quan niệm về bệnh này đã thay đổi. Cơ may sống sót của bệnh nhân hiện tại trên thế giới là 80- 85% khi được chẩn đoán đúng và xử trí kịp thời. Bệnh hiếm gặp, xảy ra khi các thành phần trong nước ối xâm nhập vào tuần hoàn của mẹ, tuy nhiên cho đến nay, bệnh sinh không được giải thích bằng lý do cơ học. Khi có tắc mạch ối thì bệnh cảnh là cơ chế một sốc phản vệ. Năm 1926, Ricardo Meyer là người đầu tiên mô tả Hội chứng này ở một trường hợp tìm thấy mảnh tế bào thai nhi trong tuần hoàn mẹ. Năm 1941, Steiner và Luschbaugh mô tả trên mổ tử thi 8 trường hợp tử vong trong chuyển dạ hoặc ngay sau đẻ vì choáng sản khoa nhưng không giải thích được nguyên nhân và xác định là tắc mạch ối [2]. Cho đến năm 1950, chỉ có 17 trường hợp tắc mạch ối được báo cáo. Năm 1979, Morgan nghiên cứu kỹ lưỡng những trường hợp tắc mạch, kể từ đó hệ thống đăng kiểm quốc gia cho bệnh lý này ra đời tại Mỹ. Tại Việt Nam chưa có nghiên cứ nào thống kê chính xác số liệu dịch tễ học về tắc mạch ối và các dữ liệu còn hạn chế, chỉ mới có một số công trình đơn lẻ báo cáo những trường hợp chẩn đoán và xử trí. Chúng tôi báo cáo cáo một trường hợp thành công trong chẩn đoán và xử trí tắc mạch ối, cả mẹ và con được cứu sống tại khoa Sản, Bệnh viện Đa khoa Điện Biên 2. Bệnh án Thai phụ Nguyễn Thị Thanh H. 38 tuổi. ở Phường Mường Thanh – Thành phố Điện Biên Phủ. Vào viện 10 giờ 25 phút ngày 10/11/2015. Lý do vào viện: thai 9 tháng đau bụng ra nước âm đạo. PARA 2042, Dấu hiệu sinh tồn bình thường, không có biểu hiện bệnh lý nội khoa. Cơn co (-). Tim thai 150/nhịp phút, ngôi đầu, độ lọt cao lỏng, CTC còn dài, chưa xóa. Khung chậu bình thường. Các xét nghiệm trong giới hạn bình thường. Siêu âm: một thai, ngôi đầu, rau bám đáy, mặt trước tử cung, trọng lượng thai 3.500g, tim thai 150 nhịp phút. Chẩn đoán thai 40 tuần, ối vỡ non, chưa chuyển dạ, và được theo dõi tại phòng sinh. 13giờ30 cùng ngày, thỉnh thoảng cơn co nhẹ, CTC còn dài. Sản phụ yêu cầu mổ chủ động và được chỉ định mổ lấy thai với lí do: Thai 40 tuần, thai to, ối vỡ non giờ thứ 5. 14 giờ 55 phút thai phụ lên bàn mổ, được đặt đường truyền tĩnh mạch, mắc monitor theo dõi mạch 70 lần/phút, huyết áp 115/70mmHg, thai phụ được đặt nằm nghiêng trái, đang hướng dẫn tư thế để gây tê tủy sống thai phụ kêu đau bụng, giật nhẹ vùng mắt và tay, sau đó mất ý thức, đồng tử giãn, huyết áp tụt 85/50mmHg. Đặt nội khí quản, thở máy A/C (Fio2 =1), SpO2 đạt 99%; đặt Catheter tĩnh mạch trung ương, CVP 10 cm H2O, lấy máu từ tĩnh mạch trung ương làm các xét nghiệm. Chẩn đoán tắc mạch ối, nên rạch đường thành bụng trên vệ - dưới, rốn lấy ra một thai trai 3.800g Apgar phút thứ nhất: 6 điểm, phút thứ năm 9 điểm. Bóc rau, tử cung trắng bệch, mềm, cơ tử cung nhẽo, không có trương lực, không đáp ứng với kích thích, buồng tử cung rỗng, đoạn dưới tử cung chảy máu, tiên lượng không bảo tồn được tử cung cắt tử cung bán phần thấp. Các mỏm cắt tử cung, dây chằng, cuống mạch và các chân chỉ đều rỉ máu loãng, không đông, khó cầm máu, thành chậu hông bên phải xuất hiện khối máu tụ. Dấu hiệu rối loạn đông máu rõ. Các vị trí tiêm trên da đều chảy máu. Đặt sonde dẫn lưu ổ bụng, chèn 8 gạc kích thước 40x60cm vào mỏm cắt, đóng thành bụng 3 lớp. Trong mổ thai phụ được truyền 3 đơn vị hồng cầu khối nhóm O và 4 đơn vị huyết tương tươi đông lạnh. Kết quả xét nghiệm công thức máu và đông máu cơ bản: Thời gian Chỉ số XN Trong mổ sau mổ giờ thứ nhất sau mổ giờ thứ 6 sau mổ giờ thứ 12 sau mổ giờ thứ 24 HC 2.64 3,3 2.48 3,68 3,51 Hb 78 90 71 101 100 Hct 22,9 27,7 21,5 29,4 28,8 Tiểu cầu 140.000 70.000 88.000 98.000 123.000 PT 47 85 104 116 135 INR 1,53 1,08 0,98 1,02 0,88 Fib 100 258 155 336 454 APTT 33,2 25,5 24,5 25,6 26,3 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(02), 93 - 96, 2016 95 Tậ p 14 , s ố 02 Th án g 05 -2 01 6 Kết quả giải phẫu bệnh: rải rác có tế bào dạng biểu mô trong lòng mạch Bệnh nhân về phòng hồi tỉnh lúc 18 giờ 00, tiếp tục dùng các thuốc vận mạch, an thần thở máy. Theo dõi máy: mạch120 lần/phút, HA 100/60mmHg; dẫn lưu ổ bụng và vết mổ tổng cộng 2.000ml dịch đỏ máu, bệnh nhân được chỉ định truyền thêm 3 đơn vị hồng cầu khối nhóm O và 10 đơn vị huyết tương tươi đông lạnh; yêu cầu làm lại xét nghiệm công thức máu và đông máu . Giờ thứ 2 sau mổ, bệnh nhân tỉnh gọi hỏi biết; trên monitor mạch 150 lần/phút, HA 112/70mmHg; SPO2 99%; dẫn lưu ổ bụng và vết mổ tổng cộng 500ml dịch đỏ máu. Giờ thứ 6 sau mổ, băng trên thành bụng còn thấm máu đỏ, bệnh nhân tỉnh gọi hỏi biết trên monitor mạch 140 lần/phút, HA 110/70mmHg; SPO2 99%; bệnh nhân được chỉ định truyền thêm 4 đon vị hồng cầu khối nhóm O và giảm liều thuốc vận mạch. Sau 12 giờ điều trị tích cực, tri giác bệnh nhân tốt dần, huyết động dần ổn định, bão hòa oxy tốt, dịch dẫn lưu ổ bụng giảm dần, nươc tiểu 1ml/ kg/1giờ, các xét nghiệm dần được cải thiện. Bệnh nhân được rút ống NKQ sau 16 giờ thở máy, rút dần gạt chèn ổ bụng, giảm dần vận mạch, sau 24 giờ ngắt hoàn toàn vận mạch, sau 36 giờ rút hoàn toàn gạc chèn ổ bụng. Băng vết mổ khô, không thấm máu. Tổng số máu truyền 13 đơn vị hồng cầu khối nhóm O và 20 đơn vị huyết tương tươi đông lạnh. Sau 12 ngày điều trị cả mẹ và con đều ổn định ra viện không có biểu hiện di chứng. 3. Bàn luận - Tắc mạch ối là hội chứng chưa được hiểu rõ hoàn toàn, có thể gặp ở bất cứ thời điểm nào của thai nghén: Trước, trong chuyển dạ (thường gặp nhất), sau đẻ thường, có thể gặp muộn nhất sau đẻ 48 giờ [7]. Bệnh hiếm gặp, đây là trường hợp đầu tiên ở Điện Biên. Có nhiều yếu tố nguy cơ như tuổi mẹ cao, cơ địa dự ứng, đẻ nhiều lần, đẻ quá nhanh, cơn co tử cung cường tính, tổn thương cổ tư cung, mổ lấy thai đẻ đường dưới có can thiệp, thai to, đa ối, vỡ ối non, ối vỡ đột ngộtTuy nhiên các yếu tố nguy cơ trên không phải luôn hằng định và thể dự phòng được [9]. Ở bệnh nhân này xuất hiện các yếu tố nguy cơ: Tuổi mẹ; đẻ nhiều lần; thai to, ối vỡ non. - Bệnh cảnh xảy ra đột ngột, diến biến nhanh. Có thể khi chuyển sản phụ lên bàn mố, những cơn co mạnh hơn, tử cung co bóp hút thành phần ối vào trong lòng mạch gây tắc mạch ối - Bệnh diễn biến nhanh, nguy cơ cao, giống shock phản vệ, nhanh chóng dẫn đến rối loạn đông máu - Bệnh nhân được chẩn đoán sớm, can thiệp tích cực, kịp thời bằng mổ lấy thai, mở bụng đường trắng trên vệ-dưới rốn, cắt tử cung bán phần thấp, hồi sức tích cực, truyền máu máu tươi, hồng cầu khối, huyết tương đông lạnh để tăng lượng tiểu cầu và các yếu tố đông máu - Nếu khả năng và kinh nghiệm của phẫu thuật viên tốt, nên cắt tử cung hoàn toàn sẽ đảm bảo hơn và chống chảy máu nhưng điều cơ bản là phải đảm bảo an toàn cho bệnh nhân - Không nên chèn gạc vì lí do chảy máu là rối loạn đông máu chứ không phải là rỉ máu tại chỗ nên khó cầm máu - Nếu thắt được động mạch hạ vị thì tốt hơn Bệnh nhân của chúng tôi dù được chẩn đoán sớm, nhanh, nhưng sau 20 phút đã chuyển sang rối loạn đông máu. Chúng tôi đã lấy máu tĩnh mạch tiêu bản để chẩn đoán Giải phẫu bệnh và thấy các thành phần dịch ối (Hội chẩn Khoa Giải phẫu Bệnh viện Bạch Mai). Các tế bào nhầy, bạch cầu ái kiềm của mẹ và các tế bào vảy sừng được tìm thấy và là dấu hiệu có giá trị độ nhạy, độ đặc hiệu cao. Sự xuất hiện các tế bào này là một ghi vấn trong các trong các trường hợp nghi ngờ nhưng phải kết hợp với lâm sàng [10]. Chúng tôi dựa vào triệu chứng và bệnh cản lâm sàng để chẩn đoán vì một tuần sau mới có kết quả giải phẫu bệnh do gửi về Hà Nội. Lâm sàng của bệnh đột ngột và rầm rộ, không có tiền triệu chủ yếu với chiệu chứng suy hô hấp, trụy tim mạch, có thể co giật và hôn mê, sau đó là dấu hiệu chảy máu cơ nhiều nơi [3]. Ở bệnh nhân này co giật và hôn mê là dấu hiệu đầu tiên sau 30 phút có rối loạn đông máu, trên lâm sàng chảy máu nặng rối loạn đông máu trên xét nghiệm mặc dù được dự phòng rối loạn đông máu. Cận lâm sàng gồm: công thức máu có biểu hiện thiếu máu cấp, giảm tiều cầu; đông máu cơ bản có fibrinogen giảm; PT giảm; APTT keops dài; PHẠM VĂN MẪN 96 Tậ p 14 , s ố 02 Th án g 05 -2 01 6 B Á O C Á O T R Ư Ờ N G H Ợ P IRN tăng; điện tim có hình ảnh tăng gánh tim phải với đoạn ST-Tthay đổi và nhịp nhanh; Xq tim phổi bình thường hoặc hình ảnh bóng tim to; phù phổi. Trên bệnh nhân này có hình ảnh thiếu máu cấp và giảm tiểu cầu, rối loạn đông máu nặng tương ứng như lý thuyết. Tắc mạch ối không có tiêu chuẩn chẩn đoán xác định, chẩn Đoán chủ yếu dựa vào phương pháp loại trừ [10]. Có 4 mục tiêu chính khi điều trị tắc mạch ối: Điều trị các rối loạn hô hấp tuần hoàn, co hồi tử cung, rối loạn đông máu, mổ lấy thai khẩn cấp nếu tim thai còn và huyết động chưa có biến động mạnh. Nên chuyển tuyến trên điều trị nếu qua khả năng và toàn trạng bệnh nhân cho phép [9],[ [11], [12]. Có một số kỹ thuật trợ giúp mới trên thế giới như bắc cầu tim phổi, trao đổi oxy qua màng ECMO, đặt bóng nội động mạch chủ, Prostacyclin hoặc Nitric oxyde qua đường khí dung, liệu pháp tích cực chống phản vệ, lọc huyết tương hay thay thế huyết thanh [10]. Nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở hội chúng này là ngừng tim, chảy máu do rối loạn đông máu, hôi chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS) và suy đa tạng (MOF) [9],[10], Đối với các bệnh nhân được chẩn đoán tắc mạch ối tỷ lệ tử vong từ 26-86% tùy nghiên cứu. Tỷ lệ tử vong này do tình trạng khác nhau và khả năng hồi sức của từng đơn vị. Đối với hội chứng này vai trò của kỹ thuật và bác sỹ hồi sức là quan trọng nhất [10]. 4. Kết luận Chúng tôi báo cáo tóm tắt và đưa ra một số bàn luận về chẩn đoán, điều trị một trường hợp bệnh nhân khỏe mạnh có các dấu hiệu và triệu chứng điển hình được chẩn đoán tắc mạch ối trong chuyển dạ. Mặc dù đã có rối lọan huyết động, rối loạn đông máu nhờ chẩn đoán, xử trí đúng và kịp thời đã cứu sống cả mẹ và sơ sinh. Với trình độ và trang bị như hiện nay ở tuyến địa phương, đặc biệt xa xôi và ở miền núi, nhưng nếu nghĩ đến, phối hợp các khoa đặc biệt khả năng hồi sức truyền máu thì có thể cứu sống được bệnh nhân bị tắc mạch ối Khó khăn của tắc mạch ối là cứu sống bệnh nhân và kỹ năng hồi sức, còn can thiệp sản khoa là mổ lấy thai và cắt tử cung bán phần thì ngày nay có thể xử trí ngay ở tuyến huyện được. Nếu ở tuyến dưới không đủ điều kiện và thiếu phương tiện cần liên hệ yêu cầu tuyến trên hỗ trợ. Khi bệnh nhân đã thoát khỏi shock, huyết áp ổn định mới được chuyển tuyến trên. Xử trí tắc mạch ối là phải chạy đua với thời gian và truyền máu tươi. Cần huy động máu tươi từ thân nhân và cộng động Tài liệu tham khảo 1. Gist RS, Stafford IP, Leibowitz AB, et al. Amniotic fluid embolism. Anesth Analg 2009; 108(5): 1599-1602. 2. Lushbaugh CC, Steiner PE (1942), “ Additional observation on matermal pulmonary embolism by amniotic fluid”, Am J Obstet Gynecol, 43:833 - 8. 3. Fletcher SJ, Parr MJ (2000), “Amniotic fluid embolism: a case report and review”, Resuscitation, 43:141 – 6. 4. Morgan M (1979), “Amniotic fluid embolus” Anaesthesia, 34;20 – 32 5. Davis S (2001), “Amniotic fluid embolus: A review of the literature” Can J Anesth, 48:1:88-98. 6. Clark SL, Hankins GDV, Dudley DA (1995), “Amniotic fluid embolus: analysis of a national registry” Am J Obstet Gynecol, 172 : 1158 – 69; 7. Gibert WM, Danielsen B (1999), “Amniotic fluid embolus : decreased mortality in a population based study”, Obstertics and Gynaecology, 93 : 973 – 7. 8. Steiner PE, Lushbaugh CC (1986), “Maternal pulmonary embolism by amniotic fluid as s result of obstetric shock and unexpected deaths in obstetrics”, JAMA, 255 : 2187 – 2203. 9. Katherin J.Perozzi et al (2004), “Crit care nurse”, 24 : 54 – 61. 10. Eyal Schiff. Aminiotic fluid embolism. Shebal Medical Center. Telavis University isarel. 11. Vương Tiến Hòa (2005). “Choáng Sản khoa”. Sản khoa và sơ sinh. Sách chuyên đề. NXB Y học, tr. 141-146. 12. Nguyễn Thị Thanh (2014). Cập nhật thông tin về chẩn đoán và xử trí thuyên tắc ối. Sức khỏe sinh sản. Hội Phụ Sản tp Hồ Chí Minh, tr. 1-9
File đính kèm:
xu_tri_tac_mach_oi_tai_benh_vien_da_khoa_tinh_dien_bien_bao.pdf

