Vôi hóa thận ở trẻ em: nguyên nhân, ảnh hưởng chức năng thận và sự phát triển thể chất

Mục tiêu: Đánh giá sự phát triển thể chất, chức năng thận và nguyên nhân gây vôi hóa

thận của trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ương.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu hàng loạt ca bệnh, 34 bệnh nhân từ 1/07/2013

đến 30/06/2019.

Kết quả: Tỷ lệ trẻ nam 58,8%.Triệu chứng lâm sàng chủ yếu là chậm tăng trưởng chiều

cao và cân nặng (64,7% và 73,5%). Mức độ vôi hóa trên siêu âm chủ yếu là 2b và 3 theo

phân loại của Hoyer. GFR trung bình 101,2 ± 27,5 ml/phút/1,73 m2 tại thời điểm chẩn

đoán. Tăng canxi niệu chiếm tỷ lệ 35,3% và 38,2% bệnh nhân có bạch cầu niệu vô khuẩn.

Thời gian theo dõi trung bình 30 tháng, trong 24 bệnh nhân theo dõi, 40% bệnh nhân có

chều cao và cân nặng cải thiện trên -2SD, GFR trung bình 105,2 ± 22 ml/phút/1,73 m2 tại

thời điểm theo dõi. Nguyên nhân vôi hóa thận chủ yếu là nhiễm toan ống thận (50%),

đứng thứ hai là tăng canxi niệu nguyên phát và không rõ nguyên nhân (14,8%),một số

nguyên nhân khác là ngộ độc vitamin D, hội chứng bartter, vôi hóa thận - tăng canxi

niệu - hạ magie máu, còi xương hạ phospho máu.

Kết luận: Vôi hóa thận là bệnh hiếm, triệu chứng lâm sàng ở trẻ em không điển hình, biểu

hiện chính chậm phát triển về thể chất. Nguyên nhân hay gặp là toan ống thận. Sự cải thiện

rõ về chiều cao và cân nặng sau thời gian theo dõi, mức lọc cầu thận duy trì ổn định.

pdf 6 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Vôi hóa thận ở trẻ em: nguyên nhân, ảnh hưởng chức năng thận và sự phát triển thể chất", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Vôi hóa thận ở trẻ em: nguyên nhân, ảnh hưởng chức năng thận và sự phát triển thể chất

Vôi hóa thận ở trẻ em: nguyên nhân, ảnh hưởng chức năng thận và sự phát triển thể chất
 Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 4 (2020) 24-29 
24 
Research Paper 
Nephrocalcinosis in Children: Causes and Impacts 
on Renal Function and Growth 
Nguyen Thi Ngoc*, Nguyen Thu Huong 
Vietnam National Children's Hospital, 18/879 La Thanh, Dong Da, Hanoi, Vietnam 
Received 17 July 2019 
Revised 10 August 2020; Accepted 21 August 2020 
Abstract 
Purpose: To evaluate effect of Nephrocalcinosis on growth index, kidney function and its 
aetiology of children at Vietnam National Children’s Hospital. 
Methods: A case series prospective study, 34 patients from 1/07/2013 to 30/06/2019. 
Results: 58,8% cases were male. Common symptoms were failure to develop height and 
weight for 64,7% and 73,5%, respectively. Ultrasound examinations reveal a higher 
degree, stage 2b and 3 were the most frequent according to Hoyer’s grading. Mean GFR 
was 101,2 ± 27,5 ml/min/1,73 m
2 
in presentation. There were 35,3% patients with 
hypercalciuria and 38,2% cases had sterile pyuria. During a median follow – up of 30 
months in 24 patients, growth index improved more than -2SD in 40%, mean GFR 105,2 ± 
22 ml/min/1,73 m
2 
in follow - up. The most common leading cause to NC was renal 
tubular acidosis in 50% followed by primary hypercalciuria and the cause of NC remained 
unknown (14,7%). Other causes included vitamin D excess, Bartter’s syndrome, 
nephrocalcinosis - hypercalciuria - hypomagiemia, hypophosphomia ricket. 
Conclusions: Nephrocalcinosis is a rare disease, and clinical signs are atypical. Growth 
retardation was the most common clinical manifestation and the most popular cause of this 
condition in our study is renal tubular acidosis. There was significant increase in height 
and weight from the first to last observation. GFR remained stable within a 
long - term. 
Keywords: Nephrocalcinosis, tubulopathy, ultrasound. 
*
_______ 
*
 Corresponding author. 
 E-mail address: [email protected] 
 https://doi.org/10.25073/jprp.v4i4.216 
N.T. Ngoc, N.T. Huong / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 4 (2020) 24-16 
25 
Vôi hóa thận ở trẻ em: nguyên nhân, 
ảnh hưởng chức năng thận và sự phát triển thể chất 
Nguyễn Thị Ngọc*, Nguyễn Thu Hương 
 n n n n n n m 
Nhận ngày 17 tháng 7 năm 2019 
Chỉnh sửa ngày 10 tháng 8 năm 2020; Chấp nhận đăng ngày 21 tháng 8 năm 2020 
Tóm tắt 
Mục tiêu: Đánh giá sự phát triển thể chất, chức năng thận và nguyên nhân gây vôi hóa 
thận của trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ương. 
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu hàng loạt ca bệnh, 34 bệnh nhân từ 1/07/2013 
đến 30/06/2019. 
Kết quả: Tỷ lệ trẻ nam 58,8%.Triệu chứng lâm sàng chủ yếu là chậm tăng trưởng chiều 
cao và cân nặng (64,7% và 73,5%). Mức độ vôi hóa trên siêu âm chủ yếu là 2b và 3 theo 
phân loại của Hoyer. GFR trung bình 101,2 ± 27,5 ml/phút/1,73 m2 tại thời điểm chẩn 
đoán. Tăng canxi niệu chiếm tỷ lệ 35,3% và 38,2% bệnh nhân có bạch cầu niệu vô khuẩn. 
Thời gian theo dõi trung bình 30 tháng, trong 24 bệnh nhân theo dõi, 40% bệnh nhân có 
chều cao và cân nặng cải thiện trên -2SD, GFR trung bình 105,2 ± 22 ml/phút/1,73 m2 tại 
thời điểm theo dõi. Nguyên nhân vôi hóa thận chủ yếu là nhiễm toan ống thận (50%), 
đứng thứ hai là tăng canxi niệu nguyên phát và không rõ nguyên nhân (14,8%),một số 
nguyên nhân khác là ngộ độc vitamin D, hội chứng bartter, vôi hóa thận - tăng canxi 
niệu - hạ magie máu, còi xương hạ phospho máu. 
Kết luận: Vôi hóa thận là bệnh hiếm, triệu chứng lâm sàng ở trẻ em không điển hình, biểu 
hiện chính chậm phát triển về thể chất. Nguyên nhân hay gặp là toan ống thận. Sự cải thiện 
rõ về chiều cao và cân nặng sau thời gian theo dõi, mức lọc cầu thận duy trì ổn định. 
 ừ k ó : Vôi hóa thận, bệnh lý ống thận, siêu âm. 
1. Đặt vấn đề*= 
Vôi hóa thận là sự lắng đọng các tinh 
thể canxi trong nhu mô thận và ống thận 
[1,2]. Vôi hóa thận có nhiều nguyên nhân 
gây ra, có thể là bệnh lý ống thận, hay do 
rối loạn chuyển hóa hoặc do nguyên nhân 
thứ phát. Triệu chứng lâm sàng không đặc 
hiệu nhưng biến chứng có thể gây tổn 
_______ 
* Tác giả liên hệ. 
 ị c ỉ em l: [email protected] 
 https://doi.org/10.25073/jprp.v4i4.216 
thương thận cấp, tổn thương thận mạn hoặc 
các vấn đề tăng trưởng của cơ thể. Ngày 
nay, siêu âm là kỹ thuật thường quy, sử 
dụng rộng rãi, làm cho tỷ lệ vôi hóa thận 
được chẩn đoán ngày càng nhiều. Mặc dù là 
bệnh hiếm gặp và dễ bị bỏ sót ở trẻ em 
nhưng nếu đượcchẩn đoán và điều trị kịp 
thời sẽ tránh được các biến chứng trên. Ở 
Việt Nam còn rất ít nghiên cứu về vấn đề 
này.Để góp phần đánh giá ảnh hưởng lâu dài 
của vôi hóa thận, chúng tôi tiến hành nghiên 
cứu ảnh hưởng của vôi hóa thận trên phát 
N.T. Ngoc, N.T. Huong / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 4 (2020) 24-29 
26 
triển thể chất và chức năng thận của trẻ bị vôi 
hóa thận ở Bệnh viện Nhi Trung ương. 
2. Phương pháp nghiên cứu 
Nghiên cứu mô tả tiến cứu loạt ca bệnh, 
34 bệnh nhân được chẩn đoán vôi hóa thận 
trong thời gian từ 01/07/2013 đến 
30/06/2019 tại Khoa thận - Lọc máu Bệnh 
viện Nhi Trung ương. 
Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân: Tất cả các 
bệnh nhân siêu âm có hình ảnh vôi hóa 
thận, người giám hộ đồng ý tham gia nghiên 
cứu, được thu thập thông tin theo mẫu bệnh 
án được thiết kế riêng cho nghiên cứu. 
Tiêu chẩn đoán nguyên nhân của vôi 
hóa thận: 
- Nhiễm toan ống thận xa: nhiễm toan 
chuyển hóa, khoảng chống anion máu bình 
thường, tăng Clo máu, khoảng chống anion 
niệu dương, Ph niệu > 5,5. 
- Hội chứng Bartter: kiềm chuyển hóa, 
hạ kali máu và Clo máu, huyết áp bình 
thường, và mất kali, Clo niệu. 
- Ngộ độc vitamin D: tăng canxi máu, 
tăng canxi niệu, PTH giảm, nồng độ 
vitamin D tăng. 
- Vôi hóa thận - tăng canxi niệu - hạ 
magie máu: vôi hóa thận, tăng canxi niệu và 
hạ magie máu. 
- Tăng canxi niệu nguyên phát: tăng 
canxi niệu và loại trừ các nguyên 
nhân khác. 
- Còi xương hạ phospho máu: còi 
xương, giảm phospho và ALP tăng. 
Mức lọc cầu thận theo công thức 
Schwartz [3] và giá trị thay đổi tùy theo lứa 
tuổi. Cân nặng và chiều cao được so sánh với 
bảng chuẩn Z - scores theo tuổi và giới của 
WHO 2007. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng 
dựa trên phương pháp đánh giá, phân loại của 
viện dinh dưỡng quốc gia năm 2014. 
3. Kết quả 
Đặc điểm dịch tễ lâm sàng: Trong 34 
bệnh nhân vôi hóa thận đủ tiêu chuẩn 
nghiên cứu, có 58,8% bệnh nhân nam. Tuổi 
trung vị của đối tượng nghiên cứu là 6,5 
tháng, nhóm bệnh nhân dưới 1 tuổi chiếm tỷ 
lệ cao nhất (55,9%). 
Đặc điểm lâm sàng phổ biến nhất là 
chậm tăng trưởng chiều cao (64,7%) và cân 
nặng (73,5%), tiếp đó là đa niệu, giảm 
trương lực cơ, mất nước, suy hô hấp, và chỉ 
có 1 trường hợp tăng huyết áp. 
Đặc điểm cận lâm sàng: Mức lọc cầu 
thận (GFR) trung bình của đối tượng nghiên 
cứu là 101,2 ± 27,5 ml/phút/1,73m2; có 
khoảng 11,8% bệnh nhân có mức lọc cầu 
thận giảm và 2,9% bệnh nhân mức lọc cầu 
thận giai đoạn cuối. Có 38,2% bệnh nhân có 
bạch cầu niệu dương tính, 35,3% bệnh nhân 
có tỷ lệ canxi niệu tăng. Tỷ lệ bệnh nhân 
bạch cầu niệu dương tính cao hơn ở nhóm 
tăng canxi niệu. Chỉ có 8,8% bệnh nhân có 
protein niệu. Tất cả đối tượng nghiên cứu 
đều có vôi hóa từ độ 2b; bệnh nhân vôi hóa 
mức độ 2b chiếm đa số (88,2%). 
Nguyên nhân vôi hóa thận nhiều nhất là 
nhiễm toan ống thận chiếm 50% bệnh nhân, 
tiếp đó tăng canxi niệu nguyên phát (14,7%), 
ngộ độc vitamin D, vôi hóa thận - tăng canxi 
niệu - hạ magie máu, hội chứng Bartter, còi 
xương hạ phospho máu, và có 14,7% bệnh 
nhân không rõ nguyên nhân (Bảng 1, Bảng 2). 
Trong quá trình theo dõi bệnh nhân, có 
24 bệnh nhân đủ điều kiện theo dõi, cân 
nặng < -2SD là 62,5% và 41,7%, < -3SD là 
20,8% và 8,3% tại thời điểm ban đầu và 
cuối thời điểm theo dõi tương ứng. Chiều 
cao < -2SD là 62,5 % và 41,7%, < -3SD là 
20,8% và 8,3% tại thời điểm ban đầu và 
cuối thời điểm theo dõi tương ứng. Mức lọc 
cầu thận của 24 bệnh nhân theo dõi là 95,0 
± 28,5ml/phút/1,73m
2 tại thời điểm chẩn 
đoán đầu và 105,2 ± 22 ml/phút/1,73m2tại 
cuối thời điểm theo dõi. 
N.T. Ngoc, N.T. Huong / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 4 (2020) 24-29 
27 
Bảng 1. Nguyên nhân gây vôi hóa thận của các đối tượng nghiên cứu 
Nguyên nhân Số bệnh nhân (n) Tỷ lệ (%) 
Nhiễm toan ống thận 17 50,0 
Tăng canxi niệu nguyên phát 5 14,7 
Ngộ độc Vitamin D 3 8,9 
Vôi hóa thận - tăng canxi niệu - hạ 
magie máu 
2 5,9 
Hội chứng Bartter 1 2,9 
Còi xương hạ phospho máu 1 2,9 
Không rõ nguyên nhân 5 14,7 
Tổng 34 100 
Bảng 2. Theo dõi bệnh nhân về chức năng thận và chiều cao, cân nặng 
Bệnh nhân 
Tổng BN Theo dõi 
Ban đầu N =34 Ban đầu N= 24 Sau 30 tháng N = 24 
Cân 
nặng 
-2 SD ≤ CN ≤ 2 SD 26,5 %(9) 16,7% (4) 50,0% (12) 
-3 SD ≤ CN < -2SD 47 %(16) 62,5%( 15) 41,7% (10) 
CN< -3SD 26,5 % (9) 20,8 % (5) 8,3% (2) 
Chiều 
cao 
-2 SD ≤ CC ≤ 2SD 35,5 % (12) 16,7 % (4) 50,0% (12) 
-3SD ≤ CC < -2 SD 38,5 % (13) 62,5% (15) 41,7% (10) 
CC < - 3 SD 26,5 % (9) 20,8% (5) 8,3% (2) 
Mức lọc cầu thận (ml/ 
phút/1,73 101, 2 ± 27,5 95,0 ± 28,5 105,2 ± 22 
y 
4. Bàn luận 
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho 
thấy, tỷ lệ gặp trẻ nam cao hơn trẻ nữ, với 
tỷ lệ nam/nữ là 1,4/1. Kết quả nghiên cứu 
này tương tự với tác giả Al - Bderat J.T [4] 
với tỷ lệ nam/nữ là 1,25/1, nhưng tác giả 
Giorgina Barbara Picocoli [5] lại cho thấy 
tỷ lệ bệnh nhân nữ cao hơn. Như vậy, từ 
những kết quả của các nghiên cứu này, có 
thể giải thích, tỷ lệ gặp bệnh nhân nam và 
nữ là do ngẫu nhiên và không có sự khác 
biệt về giới tính của bệnh. Chủ yếu nhóm 
bệnh dưới 1 tuổi, trẻ nhỏ nhất 20 ngày tuổi, 
trẻ lớn nhất 13 tuổi. Kết quả này tương tự 
với một nghiên cứu của Al - Bderat J.T và 
cộng sự khi nghiên cứu 63 trẻ trong 15 năm 
(từ 2000 tới 2015) thì thấy tuổi trung bình 
có triệu chứng là 42 tháng, chủ yếu tuổi 
xuất hiện bệnh là trước 1 tuổi. Trong nghiên 
cứu của Ammenti A và cộng sự, thấy tuổi 
trung bình là 15 tháng. Điều đó cho thấy 
rằng, vôi hóa thận có thể là những bệnh lý 
ống thận di truyền, hoặc những sai sót bẩm 
N.T. Ngoc, N.T. Huong / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 4 (2020) 24-29 
28 
sinh của chuyển hóa, vì vậy nó ảnh hưởng 
ngay từ những ngày đầu cuộc sống của trẻ. 
Triệu chứng lâm sàng thường gặp của 
vôi hóa thận là chậm tăng trưởng chiều cao 
và cân nặng, dấu hiệu tiếp theo là đa niệu, 
chiếm 26,5%, giảm trương lực cơ chiếm 
23,5%, do hậu quả của giảm kali máu, dấu 
hiệu mất nước chiếm 20,6%, mất nước chủ 
yếu do bệnh nhân nôn và tiểu nhiều nhưng 
không được bù dịch thích hợp ở nhà. Trong 
nghiên cứu của Al - Bderate J.T và cộng sự 
ở 63 bệnh nhân, thì có 68% bệnh nhân 
chậm tăng trưởng, một nghiên cứu khác của 
Anmmenti A [6] ở 41 bệnh nhân, thấy có 
41% trẻ chậm phát triển thể chất ở giai đoạn 
trước 1 tuổi. Chậm phát triển thể chất do 
nhiều yếu tố như giảm kali mạn, acid 
chuyển hóa, còi xương và bệnh thận mạn. 
Mức lọc cầu thận trung bình 101,2 ± 
27,5 ml/phút/1,73m
2; phần lớn là trong giới 
hạn bình thường theo lứa tuổi, GFR trên 90 
ml/phút/1,73m
2
 chiếm 64,7%, GFR trong 
khoảng 60-89, chiếm tỷ lệ 20,6%. GFR 30-
59 ml/phút/1,73m
2, có 4 bệnh nhân, chiếm 
tỷ lệ 11,8% và GFR dưới 15 
ml/phút/1,73m
2, có 1 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 
2,9%. Nghiên cứu khác của Dogan và cộng 
sự, khi nghiên cứu 27 bệnh nhân cũng thấy 
GFR trung bình là 114,9 ml/phút/1,73m
2 
. 
Trong nghiên cứu của Mantan M và cộng 
sự ở 40 bệnh nhân vôi hóa thận tại Ấn Độ, 
có 83% bệnh nhân có GFR trên 90 
ml/phút/1,73m
2
. 
Nguyên nhân gây vôi hóa thận chiếm tỷ 
lệ lớn nhất là nhiễm toan ông thận (50%), 
tiếp theo tăng canxi niệu nguyên phát 
(14,7%), nhóm bệnh lý ống thận khác như 
vôi hóa thận- tăng canxi niệu - hạ magie 
máu, còi xương hạ phospho máu và hội 
chứng Bartter, có 8,9% bệnh nhân do ngộ 
độc vitamin D, có 14,7% không rõ nguyên 
nhân. Tương tự với nghiên cứu của 
Pournasiri Z , khi nghiên cứu hồi cứu 30 
bệnh nhân, tác giả cũng thấy tỷ lệ bệnh 
nhân nhiễm toan ống thận chiếm tỷ lệ cao 
nhất (34%), kết quả này cũng tương tự với 
các nghiên cứu của các tác giả khác ở Thổ 
Nhĩ Kỳ, Ý, Ấn Độ. Nhưng trong nghiên cứu 
của Ronnefarth G thấy tỷ lệ bệnh nhân tăng 
canxi niệu nguyên phát chiếm tỷ lệ cao 
nhất. Trong nghiên cứu của tác giả 
Ammenti thấy nguyên nhân do bệnh lý ống 
thận di truyền chiếm tỷ lệ cao nhất. Như 
vậy, giữa các quốc gia khác nhau thì thấy 
nguyên nhân chiếm chủ yếu gây ra vôi hóa 
thận cũng khác nhau, điều này có thể giải 
thích do nguồn gốc chủng tộc, do mang gen 
đột biến khác nhau gây ra. 
Chúng tôi theo dõi được 24 bệnh nhân 
(24/34), thời gian trung bình là 30 tháng (12 
tháng tới 50 tháng), trong đó có 13 trẻ nam 
và 11 trẻ nữ. Những bệnh nhân khác đã 
chuyển tới vùng khác hoặc bỏ theo dõi và 
chúng tôi không liên lạc lại được và có 1 
bệnh nhân hội chứng Bartter bị tử vong do 
nhiễm trùng. Mức lọc cầu thận của những 
bệnh nhân này vẫn được giữ mức ổn định, 
chỉ có một bệnh nhân có GFR giảm. Kết 
quả này cũng tương tự như của tác giả 
Lidvana khi theo dõi 13 bệnh nhân bị vôi 
hóa thận trong thời gian 99 tháng, nhưng 
với tác giả Ammenti khi theo dõi 28/41 
bệnh nhân trong thời gian 48 tháng thì thấy 
mức lọc cầu thận cải thiện rõ rệt, từ 35% tại 
thời điểm ban đầu, xuống còn 17% tại thời 
điểm theo dõi, đặc biệt ở nhóm bệnh nhân 
ngộ độc vitamin D. Sự duy trì mức lọc cầu 
thận ổn định của nhóm bệnh nhân trong 
theo dõi nghiên cứu của chúng tôi có thể do 
bệnh nhân được chẩn đoán sớm, tuân thủ 
điều trị, mặt khác thời gian theo dõi có thể 
chưa đủ dài. Về mặt phát triển thể chất của 
trẻ, chiều cao và cân nặng của bệnh nhân 
được cải thiện trong suốt quá trình theo dõi, 
cân nặng và chiều cao dưới -2SD từ 62,5% 
xuống còn 41,7 %, dưới -3 SD từ 20,8 % 
xuống còn 8,3 %. Nhóm bệnh nhân bị ảnh 
hưởng cân nặng và chiều cao chủ yếu nhóm 
N.T. Ngoc, N.T. Huong / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 4 (2020) 24-29 
29 
nhiễm toan ống thận và ngộ độc vitamin D. 
Những bệnh nhân nhiễm toan ống thận này 
sau khi được cung cấp đủ kali và bù kiềm, 
tình trạng toan hóa máu cải thiện, bệnh 
nhân tăng cân và chiều cao tốt hơn. Ở nhóm 
bệnh nhân ngộ độc vitamin D, sau khi trẻ 
ngừng vitamin D, trẻ ăn tốt hơn, hết nôn, 
không mất nước, trẻ cải thiện được triệu 
chứng lâm sàng, phát triển thể chất tăng kịp 
lại. Kết quả này cũng tương tự như nghiên 
cứu của tác giả Ammenti từ 58% chiều cao 
< 2SD xuống còn 22% tại cuối thời điểm 
theo dõi, và một nghiên cứu ở Thổ Nhĩ Kỳ 
chiều cao dưới -2SD là 50% xuống còn 
25% tại cuối thời kỳ theo dõi. 
5. Kết luận 
Vôi hóa thận là bệnh hiếm, nguyên nhân 
gây bệnh thường gặp nhất trong nhóm 
nghiên cứu của chúng tôi là bệnh lý ống 
thận, triệu chứng thường gặp là chậm tăng 
trưởng. Mức lọc cầu thận được duy trì ổ 
định sau 30 tháng theo dõi. Có sự cải thiện 
đáng kể về phát triển thể chất khi bệnh nhân 
được chẩn đoán đúng và điều trị theo 
nguyên nhân. 
Tài liệu tham khảo 
[1] Alon US, Scagliotti D, Garola RE. 
Nephrocalcinosis and nephrolithiasis in 
infants with congestive heart failure treated 
with furosemide. The Journal of pediatrics, 
1994;125(1):149-151. https://doi.org/10.101 
6/s0022-3476(94)70143-1 
[2] Davison AM, Oxford Textbook of Clinical 
Nephrolog. Oxford University Press; 2005. 
[3] Schwartz GJ, Brion LP, Spitzer A. The use of 
plasma creatinine concentration for 
estimating glomerular filtration rate in 
infants, children, and adolescents. Pediatric 
clinics of North America 1987;34(3):571-
590. https://doi.org/10.1016/s0031-3955(16) 
36251-4 
[4] Al-Bderat, JT, Mardinie R, Salaita GM et al. 
Nephrocalcinosis among children at king 
hussein medical center: Causes and outcome. 
Saudi Journal of Kidney Diseases and 
Transplantation 2017;28(5):1064-1068. 
[5] Piccoli GB, Pascale AD, Randone O et al. 
Revisiting nephrocalcinosis: A single‐centre 
perspective. A northern I talian experience. 
Nephrology 2016;21(2):97-107. https://doi.or 
g/10.1111/nep.12535 
[6] Ammenti A, Pelizzoni A, Cecconi et al. 
Nephrocalcinosis in children: a retrospective 
multi-centre study. Acta Paediatr 2009. 
98(10):1628-1631. https://doi.org/10.1111/j.1 
651-2227.2009.01401.x 
U 
o 

File đính kèm:

  • pdfvoi_hoa_than_o_tre_em_nguyen_nhan_anh_huong_chuc_nang_than_v.pdf