Viêm phổi nặng trên bệnh nhân HIV/AIDS tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới năm 2020

Đặt vấn đề: Viêm phổi là một trong những nguyên nhân nhập viện thường xuyên ở bệnh nhân (BN)

HIV/AIDS. Tỷ lệ tử vong còn cao, không chỉ do tình trạng suy giảm miễn dịch từ ký chủ, mà còn có thể do

điều trị không phù hợp với nhiều loại tác nhân gây bệnh khác nhau ở bệnh nhân HIV. Tại Việt Nam, nghiên

cứu về các tác nhân gây viêm phổi trên nhóm đối tượng này còn hạn chế.

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm tiền căn, lâm sàng, cận lâm sàng, điều trị và xác định tỉ lệ các tác nhân phát

hiện được trong bệnh phẩm đường hô hấp của bệnh nhân HIV/AIDS bị viêm phổi nặng điều trị tại Bệnh viện

Bệnh Nhiệt đới (BVBNĐ)

pdf 7 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Viêm phổi nặng trên bệnh nhân HIV/AIDS tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới năm 2020", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Viêm phổi nặng trên bệnh nhân HIV/AIDS tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới năm 2020

Viêm phổi nặng trên bệnh nhân HIV/AIDS tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới năm 2020
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 115 
VIÊM PHỔI NẶNG TRÊN BỆNH NHÂN HIV/AIDS 
TẠI BỆNH VIỆN BỆNH NHIỆT ĐỚI NĂM 2020 
Nguyễn Quang Diệu1, Võ Triều Lý1, Đông Thị Hoài Tâm3, Nguyễn Phú Hương Lan2, 
Nguyễn Thụy Thương Thương3 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Viêm phổi là một trong những nguyên nhân nhập viện thường xuyên ở bệnh nhân (BN) 
HIV/AIDS. Tỷ lệ tử vong còn cao, không chỉ do tình trạng suy giảm miễn dịch từ ký chủ, mà còn có thể do 
điều trị không phù hợp với nhiều loại tác nhân gây bệnh khác nhau ở bệnh nhân HIV. Tại Việt Nam, nghiên 
cứu về các tác nhân gây viêm phổi trên nhóm đối tượng này còn hạn chế. 
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm tiền căn, lâm sàng, cận lâm sàng, điều trị và xác định tỉ lệ các tác nhân phát 
hiện được trong bệnh phẩm đường hô hấp của bệnh nhân HIV/AIDS bị viêm phổi nặng điều trị tại Bệnh viện 
Bệnh Nhiệt đới (BVBNĐ). 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca các trường hợp nhiễm 
HIV/AIDS bị viêm phổi nặng tại khoa Nhiễm E, BVBNĐ (tháng 1 đến tháng 6 năm 2020). 
Kết quả: Trong 49 BN được khảo sát, nam giới chiếm đa số (95,9%). Có 98% BN thuộc giai đoạn AIDS 
(TCD4 trung vị là 14 tế bào/mm3) và 85,7% không điều trị dự phòng cotrimoxazole trước nhập viện. Triệu 
chứng lâm sàng thường gặp nhất là sốt và ho (91,8%). Xquang phổi ghi nhận 100% trường hợp có tổn 
thương mô kẽ và 83,7% có tổn thương phế nang phối hợp. P.jirovecii là tác nhân chiếm tỉ lệ nhiều nhất 
(69,4%), vi khuẩn 63,3%, vi nấm 34,7% và lao 36,5%. 73,5% BN viêm phổi do P.jirovecii có đồng nhiễm với 
tác nhân khác. 
Kết luận: Viêm phổi nặng thường xảy ra khi BN đã vào giai đoạn AIDS. P.jirovecii là tác nhân gây bệnh 
thường gặp nhất, và thường đồng nhiễm nhiều tác nhân, gây khó khăn cho việc điều trị. Cần quan tâm đến 
điều trị dự phòng PCP với cotrimoxazole ở BN nhiễm HIV hiện nay. 
Từ khóa: viêm phổi nặng, HIV/AIDS, P. jirovecii, PCP 
ABSTRACT 
SEVERE PNEUMONIA IN HIV/AIDS PATIENTS AT THE HOSPITAL FOR TROPICAL DISEASES IN 
2020 
Nguyen Quang Dieu, Vo Trieu Ly, Dong Thi Hoai Tam, Nguyen Phu Huong Lan, 
Nguyen Thuy Thuong Thuong 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No 1 - 2021: 115 - 121 
Background: Pneumonia is one of the common causes of hospitalization in HIV infected patients. The 
high mortality rate is due to an immune status deficiency from the host, but also due to a non accurate 
treatment of the pathogens in cause which are very various. In Vietnam, studies looking for causative agents in 
pneumonia among these individuals are quite limited. 
Objectives: To describe the epidemiology, the clinical and laboratory features, the treatment of HIV/AIDS 
patients with severe pneumonia at the Hospital for Tropical Diseases and to determine the prevalence of the 
causative pathogens detected in the respiratory tract of those cases. 
1Bộ môn Nhiễm, ĐH Y Dược TP. Hồ Chí Minh 2Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới 
3Đơn vị Nghiên cứu Lâm sàng Đại học Oxford 
Tác giả liên lạc: ThS. Võ Triều Lý ĐT: 0907411200 Email: [email protected] 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 116 
Methods: A cases serie study. Participants were HIV/AIDS patients with severe pneumonia admitted to 
Ward E, Hospital for Tropical Diseases from January to June 2020. 
Results: 49 patients were recruited. Most of them were male (95.9%). 98% patients were in AIDS stage 
(median TCD4 count as 14 cells/mm3); 85.7% did not have pneumocystic jirovecii prophylaxis with 
cotrimoxazole before hospitalization. Fever and cough (91.8%) were clinical symptoms most seen. In chest X 
ray, 100% cases had interstitial lesions and 83.7% were associated with alveolar lesions. P.jirovecii was the 
principal agent detected with 69.4% of cases, followed by bacteria 63.3%, fungi 34.7% and TB 36.5% (35/49). 
73.5% of PCP were co-infected with other pathogens. 
Conclusion: Severe pneumonia happened when the patient was in AIDS stage. P.jirovecii was the most 
common pathogen detected, and was often co-infected with many other agents, making difficulties for the 
treatment. Cotrimoxazole prophylaxis in HIV-infected patients should be more considered. 
Keywords: severe pneumonia, HIV/AIDS, P. jirovecii, PCP 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Viêm phổi (VP) là một trong những nguyên 
nhân dẫn đến nhập viện và tử vong đáng kể ở 
người nhiễm HIV, ngay cả trong kỷ nguyên các 
thuốc ARV có hiệu quả cao như hiện nay(1). Với 
sự đa dạng của các tác nhân nhiễm trùng gây 
viêm phổi ở bệnh nhân HIV (vi khuẩn, vi nấm, 
virus hay ký sinh trùng), việc tìm ra tác nhân 
gây bệnh để có thể dùng thuốc điều trị chuyên 
biệt một cách đúng đắn còn là một thử thách 
lớn ở một số cơ sở điều trị bệnh nhân HIV. 
Sự phân bố các tác nhân gây bệnh khác 
nhau tùy theo vùng địa lý và tùy theo thời điểm 
khảo sát. Theo tác giả Huang L (2009) tác nhân 
hàng đầu gây viêm phổi là vi khuẩn tại Hoa Kỳ 
và Tây Âu, trong khi ở vùng cận Sahara lao 
phổi lại chiếm ưu thế(2). Tác giả Buchacz K 
(2010) cho thấy Pneumocystis jirovecii trước đây 
là tác nhân gây nhiễm trùng cơ hội chỉ điểm 
quan trọng của các bệnh nhân vào giai đoạn 
AIDS ở các quốc gia phát triển, nhưng hiện nay 
tỉ lệ PCP ở các quốc gia này giảm đáng kể do 
hiệu quả của chiến lược dự phòng với 
cotrimoxazole(3). Ngược lại, gần đây, lại có báo 
cáo cho thấy tỉ lệ PCP có sự tăng lên ở các quốc 
gia trước đây hiếm gặp PCP như vùng cận 
Sahara(4). 
Ở Việt Nam, nghiên cứu của tác giả Lê 
Mạnh Hùng (2006) tại BVBNĐ và nghiên cứu 
của Le Minor O (2004) trên dân số HIV/AIDS tại 
bệnh viện (BV) Phạm Ngọc Thạch cho thấy 
P.jirovecii chiếm hơn 50% trong tổng số các tác 
nhân(5,6). Gần đây hơn, theo một số khảo sát trên 
bệnh nhân HIV/AIDS ở miền Bắc, sự phân bố 
tác nhân đã thay đổi hẳn: lao là tác nhân gây 
viêm phổi hay gặp hơn P. jirovecii với tần suất 
mới mắc của lao phổi là 28,4 đợt/1000 người-
năm và của PCP là 2,9 đợt/1000 người-năm 
trong nghiên cứu của Tanuma J năm 2014(7), 
cũng như tỉ lệ lao phổi là 10,2% và tỉ lệ PCP là 
3,4% trong nghiên cứu của Gangcuangco LMA 
năm 2010(8). Điểm chưa được thuyết phục ở 2 
tác giả này là chẩn đoán PCP chỉ dựa vào lâm 
sàng, Xquang phổi chứ không có bằng chứng 
vi sinh. Từ 2009 đến nay, chiến lược điều trị 
ARV và điều trị dự phòng các nhiễm trùng cơ 
hội (NTCH) cho bệnh nhân HIV đã thay đổi: sử 
dụng ngay ARV khi mới phát hiện nhiễm HIV, 
không tùy thuộc vào số lượng TCD4. Việc dự 
phòng các NTCH bằng INH, cotrimoxazole, 
fluconazole được thực hiện rộng rãi hơn. Khả 
năng tìm thấy sự khác biệt về tần suất các tác 
nhân gây viêm phổi ở bệnh nhân HIV so với 
trước kia là một yếu tố cần được khảo sát. Việc 
tìm hiểu sâu hơn về các đặc điểm tiền căn, lâm 
sàng và nhất là tác nhân gây bệnh, cũng như về 
diễn tiến bệnh và điều trị sẽ hy vọng mang lại 
thêm kinh nghiệm cho bác sĩ lâm sàng chăm sóc 
các đối tượng này. 
Mục tiêu 
Mô tả đặc điểm tiền căn, lâm sàng, cận lâm 
sàng và điều trị các trường hợp viêm phổi nặng 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 117 
ở BN HIV/AIDS điều trị nội trú tại bệnh viện 
Bệnh Nhiệt Đới (BVBNĐ). 
Mô tả phân bố tác nhân nhiễm trùng phát 
hiện được trong bệnh phẩm đường hô hấp của 
BN HIV/AIDS viêm phổi nặng điều trị nội trú 
tại BVBNĐ. 
ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Bệnh nhân nhiễm HIV bị viêm phổi nặng 
nhập khoa Nhiễm E, BVBNĐ từ tháng 1/2020 
đến tháng 6/2020, có biểu hiện suy hô hấp. 
Tiêu chuẩn chọn mẫu 
BN ≥18 tuổi, đã được chẩn đoán nhiễm HIV. 
Có ít nhất 1 triệu chứng hô hấp (ho, khó 
thở, đau ngực) và/hoặc có dấu hiệu tổn thương 
trên Xquang phổi, có suy hô hấp trên lâm sàng. 
Lấy được ít nhất một mẫu bệnh phẩm hô 
hấp trong quá trình nằm viện. 
Điều trị kháng sinh không quá 48h kể từ lúc 
nhập viện. 
Đồng ý tham gia nghiên cứu bằng văn bản. 
Tiêu chuẩn loại trừ 
Trường hợp BN không thể khạc được đàm, 
và chúng tôi hoàn toàn không thu thập được 
mẫu bệnh phẩm đường hô hấp để khảo sát 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca. 
Kỹ thuật lấy bệnh phẩm và xác định tác nhân 
gây bệnh 
Kỹ thuật lấy bệnh phẩm 
 + Đối với bệnh nhân không đặt nội khí 
quản (NKQ): Khạc đàm thường trong các buổi 
sáng liên tiếp cho tới khi có mẫu đàm soi ra 
AFB dương tính và có mẫu đàm đã đạt tiêu 
chuẩn để cấy (tối đa 3 lần khạc). 
 + Đối với bệnh nhân có đặt NKQ: Lấy dịch 
hút khí quản qua ống NKQ. 
Các mẫu bệnh phẩm thu thập được trên 
lâm sàng sẽ được chuyển qua các phòng xét 
nghiệm tương ứng để xác định tác nhân. 
Kỹ thuật xác định tác nhân gây bệnh 
+ Phân lập vi khuẩn: Cấy vi khuẩn trên các 
mẫu bệnh phẩm đạt chất lượng để cấy (phòng 
xét nghiệm vi sinh BVBNĐ). 
+ Phát hiện lao: Soi thấy trực khuẩn kháng 
acid-cồn hoặc cấy lao (tại phòng xét nghiệm 
OUCRU). 
+ Phát hiện P. jirovecii: làm PCR tìm 
P. jiroveci (tại phòng xét nghiệm SHPT, 
BVBNĐ). 
+ Phân lập vi nấm: Cấy vi nấm trên các mẫu 
bệnh phẩm đạt chất lượng để cấy (tại phòng xét 
nghiệm vi sinh BVBNĐ). 
Biến số 
- Viêm phổi: Sốt hoặc có biểu hiện hô hấp 
(ho, khạc đàm, nhịp thở tăng hoặc khó thở, 
phổi có ran bệnh lý) và có tổn thương trên 
Xquang phổi. 
- Viêm phổi nặng: Theo Hiệp hội lồng ngực 
Hoa Kỳ năm 2007(9), BN viêm phổi nặng thuộc 1 
trong 2 tình huống sau: 
a. Có ít nhất 3 đặc điểm: Nhịp thở ≥30 
lần/phút; PaO2/FiO2 250; Thâm nhiễm phổi lan 
tỏa nhiều thùy; Rối loạn tri giác; BUN ≥20 mg/dL; 
Bạch cầu máu <4000 tế bào/mm3; Tiểu cầu máu 
<100000 tế bào/mm3; Hạ thân nhiệt <360C; Hạ 
huyết áp đòi hỏi phải hồi sức dịch truyền. 
b. Có 1 trong 2 đặc điểm: Cần phải thở máy 
xâm lấn; Có sốc nhiễm trùng. 
- Ca bệnh xác định được tác nhân khi có ít 
nhất một (hoặc nhiều) kết quả như sau: vi 
khuẩn (+) khi phân lập được một loại vi khuẩn 
nào đó trên mẫu cấy; lao (+) khi soi c1o trực 
khuẩn kháng acid cồn (+) hoặc cấy ra vi khuẩn 
lao trên mẫu cấy; vi nấm (+) khi phân lập được 
một loại vi nấm nào đó trên mẫu cấy; P. jiroveci 
(+) khi kết quả PCR (+). 
- Ca bệnh không xác định được tác nhân khi 
tất cả các kỹ thuật trên không phát hiện được 
tác nhân nào. 
Phương pháp thống kê 
Nhập và phân tích số liệu bằng phần mềm 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 118 
SPSS 22.0, p <0,05 được xem là có ý nghĩa thống 
kê. Các biến số liên tục được biểu diễn bằng giá 
trị trung bình ± SD hay trung vị (IQR) tùy phân 
phối chuẩn hay không chuẩn. 
Y đức 
Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội 
đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại 
học Y Dược TP. HCM, số 31/HĐĐĐ, ngày 
29/7/2019. 
KẾT QUẢ 
Đặc điểm dân số nghiên cứu 
Từ tháng 1/2020 đến tháng 6/2020, có 49 BN 
nhiễm HIV bị viêm phổi nặng đủ tiêu chuẩn 
vào nghiên cứu (NC). Trong đó, 6 BN được lấy 
dịch hút khí quản qua ống NKQ và 43 BN được 
lấy đàm thường để khảo sát tác nhân gây bệnh. 
Đặc điểm xã hội – tiền căn của dân số NC 
Bảng 1: Đặc điểm xã hội – tiền căn của dân số 
nghiên cứu (n = 49) 
Đặc điểm Tần số Tỉ lệ 
Tuổi Trung vị: 37 (IQR 30 – 47) 
Giới: Nam 47 95,9 
Đường lây truyền 
Quan hệ tình dục không an toàn 33 67,4 
Tiêm chích ma túy 6 12,2 
Không rõ 10 20,4 
Nơi cư ngụ 
TP. Hồ Chí Minh 28 57,1 
Tỉnh 21 42,9 
Tình trạng phát hiện nhiễm HIV (n = 47) 
Được phát hiện nhiễm đợt NV này 35 71,4 
Đã biết nhiễm 1 năm 5 10,2 
Đã biết nhiễm > 1 năm 9 18,4 
Khởi trị ARV trước nhập viện (n = 14) 
Không 1 7,1 
Đã khởi trị 1 năm 7 50 
Đã khởi trị > 1 năm 6 42,9 
Dự phòng bệnh nhiễm trùng cơ hội (n = 14) 
Cotrimoxazole 2 14,3 
INH 1 7,1 
Fluconazole 0 0 
Đặc điểm của dân số thu tuyển vào nghiên 
cứu được tóm tắt trong Bảng 1. Nam giới vẫn 
chiếm ưu thế ở dân số BN HIV (95,9%), tuổi còn 
trẻ với tuổi trung vị 37 (IQR 30 – 47), có nguồn 
lây là quan hệ tình dục tình dục không an toàn 
(67,4%) và hơn 70% mới biết nhiễm HIV ở đợt 
nhập viện này và chưa điều trị ARV. 
Đặc điểm lâm sàng các trường hợp viêm phổi 
Trung vị ngày bệnh thời điểm nhập viện là 
14 ngày (IQR 7 – 29), đa số BN có thời gian 
bệnh trước nhập viện hơn 7 ngày (73,5%). Sốt 
và ho là 2 triệu chứng thường gặp nhất trên lâm 
sàng (91,8%). Chỉ 30,6% BN có bất thường khi 
khám phổi. Biến chứng nặng của bệnh là hạ 
huyết áp chiếm 30,6% (15/49). 37 trường hợp 
(75,5%) có các bệnh nhiễm trùng ngoài phổi đi 
kèm. Trong đó, nấm miệng chiếm tỉ lệ cao nhất 
với 30/37 trường hợp (61,2%), kế đó là nấm thực 
quản (8,2%), lao ngoài phổi (6,1%) và nhiễm 
trùng huyết từ các ngõ vào khác ngoài phổi 
(4,1%). Các nhiễm trùng khác như nhiễm trùng 
huyết do Samonella, viêm màng não nấm, viêm 
hạch ổ bụng, viêm hạch cổ do vi trùng, viêm 
mô tế bào, giang mai... chiếm tỉ lệ thấp hơn 
nhiều với 2%. 
Bảng 2: Đặc điểm lâm sàng của dân số nghiên cứu 
(n = 49) 
Đặc điểm Tần số Tỉ lệ % 
Ngày bệnh Trung vị: 14 (IQR 7 – 29) 
Nhập viện sau 7 ngày từ lúc khởi phát 36 73,5 
Sốt 45 91,8 
Ho 45 91,8 
Bất thường khi khám phổi 15 30,6 
Đau ngực 15 30,6 
Hạ huyết áp 15 30,6 
Bệnh nhiễm trùng ngoài phổi đi kèm 37 75,5 
Đặc điểm cận lâm sàng các trường hợp VP 
Bảng 3: Công thức máu của dân số NC (n = 49) 
Đặc điểm Trung vị IQR 
Bạch cầu (tế bào/mm
3
) 9960 [7235 – 14545] 
Lymphocyte (tế bào/mm
3
) 540 [255 – 730] 
Hemoglobin (g/dL) 12 [10,1 – 13] 
TCD4 (tế bào/mm
3
)* 14 [5 – 65] 
Tiểu cầu (10
3
 tế bào/mm
3
) 221 [174 – 284] 
Đa số BN trong dân số nghiên cứu có tình 
trạng suy giảm miễn dịch tế bào trầm trọng, với 
45/49 trường hợp (91,8%) có lymphocyte thấp 
<1200 tế bào/mm3 và có 20/21 BN có TCD4 <200 
tế bào/mm3 (chỉ xét nghiệm TCD4 được trên 21 
BN) chiếm 95,2%. Hình ảnh sang thương trên 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 119 
Xquang phổi cho thấy tổn thương mô kẽ và phế 
nang chiếm tỷ lệ cao nhất với 41/49 trường hợp 
(83,7%), mô kẽ dạng lưới nốt đơn thuần chỉ 
chiếm 16,3% (8/49), các tổn thương khác chiếm 
tỉ lệ thấp hơn nhiều với tràn dịch màng phổi 
8,2% (4/49) và tạo hang 2% (1/49). 
Điều trị và kết quả điều trị 
Đa số BN đều được điều trị phối hợp nhiều 
loại kháng sinh khác nhau: 40/49 trường hợp 
được phối hợp cotrimoxazole + kháng sinh 
khác (81,6%), có 3 trường hợp được điều trị vừa 
cotrimoxazole, vừa kháng sinh và kết hợp thêm 
thuốc kháng lao (6,1%) hoặc kháng nấm (2 
trường hợp: 4,1%). Điều trị một kháng sinh đơn 
thuần rất hiếm (chỉ có 4 trường hợp: 8,2%). Kết 
quả điều trị phân thành 3 nhóm gồm tử 
vong/bệnh nặng xin về chiếm 30,6% (15/49), 
chuyển viện 17/49 (34,7%) và xuất viện do đáp 
ứng với điều trị 34,7% (17/49). 
Bảng 4: Đặc điểm điều trị của dân số NC (n = 49) 
Đặc điểm Tần số (N) Tỉ lệ (%) 
Điều trị kháng sinh ban đầu 
Cotrim + Kháng sinh 40 81,6 
Kháng sinh đơn thuần 4 8,2 
Cotrim + kháng sinh + kháng lao 3 6,1 
Cotrm + kháng sinh + kháng nấm 2 4,1 
Kết quả điều trị 
Tử vong/bệnh nặng xin về 15 30,6 
Chuyển viện 17 34,7 
Đáp ứng và xuất viện 17 34,7 
Phân bố tác nhân nhiễm trùng phát hiện được 
trong dịch hô hấp 
Hình 1: Tỉ lệ các tác nhân gây bệnh phát hiện được 
trong dịch hô hấp (n = 49) 
Sau khi phát hiện hoặc phân lập tác nhân 
gây bệnh từ các dịch hô hấp, chúng tôi có được 
kết quả trình bày trong Hình 2. Gần 70% các 
trường hợp (34 BN) là do tác nhân P. jirovecii, 
hoặc đơn thuần (26,5%) hoặc đồng nhiễm với 
một tác nhân khác (15 BN - 44,1%) hoặc hai tác 
nhân (7 BN - 20,6%) hoặc 3 tác nhân (3 BN - 
8,8%). Đồng nhiễm P. jirovecii với vi khuẩn 
chiếm tỉ lệ cao nhất (21 BN - 61,8%), đồng 
nhiễm P. jirovecii với vi nấm chiếm 35,3% (12 
BN) và đồng nhiễm với lao với 14,7% (5 BN). 
Bảng 5 ghi nhận các loại vi khuẩn và vi nấm 
phân lập được. 
Bảng 5: Phân bố các vi khuẩn (n=31) và vi nấm 
(n=17) phân lập được trong dịch hô hấp 
Tác nhân Tần số (n) Tỉ lệ (%) 
Vi khuẩn 
Staphylococcus aureus 1 3,2 
Klebsiella pneumoniae 1 3,2 
Actinomyces odontolyticus 1 3,2 
VK thường trú 29 93,6 
Vi nấm 
Candida albicans 13 76,4 
Candida tropicalis 1 5,9 
Aspergillus fumigatus 1 5,9 
Talaromyces marneffei 2 11,8 
BÀN LUẬN 
Đa số các BN trong nghiên cứu mới biết 
nhiễm HIV và hầu hết đều chưa điều trị ARV. 
Tỉ lệ BN được điều trị dự phòng bệnh NTCH 
với cotrimoxazole và INH trong số các BN đã 
biết nhiễm HIV còn thấp dù 98% BN đã được 
chẩn đoán ở giai đoạn AIDS trên lâm sàng hoặc 
dựa vào xét nghiệm lymphocyte hoặc TCD4. 
Điều này cho thấy việc điều trị dự phòng bệnh 
NTCH cho các BN nhiễm HIV vẫn chưa được 
thực hiện rộng rãi. Đây có thể là lý do góp phần 
vào tần suất bị viêm phổi nặng của BN nhiễm 
HIV trong nghiên cứu. 
Đa số BN (73,5%) có thời gian bệnh trước 
nhập viện trên 7 ngày, trung vị ngày bệnh khi 
vào nhập viện là 14 ngày (IQR 7-29). Điều này 
có thể lý giải do BN bị nhiễm các tác nhân gây 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 120 
bệnh cảnh bán cấp hoặc tình trạng suy giảm 
miễn dịch nặng không tạo được các phản ứng 
viêm dữ dội, mạnh mẽ. Các giá trị trung vị của 
bạch cầu máu (9960 tế bào/mm3), dung tích 
hồng cầu (12 g/dL) và tiểu cầu máu (221000 tế 
bào/mm3) đều trong giới hạn bình thường. 
Ngoài sốt và ho, viêm phổi ở BN nhiễm HIV có 
triệu chứng thực thể khá nghèo nàn, chỉ có 
30,6% BN có bất thường khi khám phổi. Đa số 
BN có bệnh nhiễm trùng ngoài phổi đi kèm. 
Tổn thương trên phim Xquang phổi đa 
dạng, trong đó 100% BN có tổn thương mô kẽ 
dạng lưới nốt và 83,7% BN có tổn thương dạng 
phế nang phối hợp. Điều này gợi ý tình trạng 
đồng nhiễm nhiều tác nhân gây viêm phổi cùng 
một lúc. Với lý do này, khuynh hướng phối hợp 
vừa cotrimoxazole vừa kháng sinh ngay từ đầu 
là khá hợp lý, và được kiểm chứng rằng 
P. jirovecii chính là tác nhân hiện diện với tỷ lệ 
cao nhất trong nghiên cứu. Có 10,2% BN được 
điều trị phối hợp thêm kháng lao và 4,1% được 
phối hợp thêm cả kháng nấm trong quá trình 
nằm viện dựa vào bằng chứng vi sinh hoặc đáp 
ứng trên lâm sàng, cho thấy việc điều trị viêm 
phổi nặng ở BN nhiễm HIV vô cùng khó khăn 
và phức tạp với tỉ lệ tử vong/nặng xin về khá 
cao (30,6%) và đáp ứng điều trị chỉ có 34,7%. 
Trong 34,7% ca chuyển viện, hầu hết là chuyển 
sang BV Phạm Ngọc Thạch khi BN được xác 
định có nhiễm vi khuẩn lao. Giới hạn của 
nghiên cứu là không theo dõi được kết cục của 
nhóm các BN được chuyển viện này. 
Về phân bố các tác nhân gây bệnh, chúng 
tôi thấy có sự tương đồng với nghiên cứu của 
tác giả Lê Mạnh Hùng năm 2008 khi phân lập 
tác nhân gây bệnh từ dịch rửa phế quản của BN 
HIV (P.jirovecii chiếm tỉ lệ nhiều nhất 56,4%, vi 
khuẩn đứng hàng thứ 2 với 42,2%, tiếp theo là 
lao 27,6% và vi nấm là 19,6%)(5) và nghiên cứu 
của Le Minor O cũng cho thấy tỉ lệ phân lập 
được P. jirovecii cao hơn vi khuẩn lao (55% với 
13%)(6). Với tác giả Figueiredo-Mello C (2012 -
2014), tại Brazil, trên BN HIV viêm phổi mắc 
phải từ cộng đồng, hàng đầu vẫn là P. jirovecii 
(36%), kế đến là lao (20%), Streptococcus 
pneumonia và Rhinovirus trong 15% BN, 
Influenzae (10%)(10). Tỉ lệ hiện diện cao của vi 
trùng thường trú trong nghiên cứu này (93,6% - 
29 BN) có khả năng do bị lây nhiễm vào mẫu 
đàm trong quá trình BN khạc đàm, tương tự 
nấm Candida albicans với tỉ lệ phân lập được 
76,4% (17 BN) cũng được giải thích do số lượng 
lớn BN có nấm miệng. Do đó, trong nghiên cứu 
này, các tác nhân này nhiều khả năng không 
thực sự gây viêm phổi mặc dù các mẫu đàm 
đều được kiểm tra đảm bảo đạt chất lượng 
trước khi cấy. Kỹ thuật được sử dụng để lấy 
đàm cũng là một điểm hạn chế cho nghiên cứu 
chúng tôi. 
KẾT LUẬN 
Viêm phổi nặng ở BN HIV là một bệnh 
cảnh cần được lưu ý. Đây là các trường hợp đã 
bước vào giai đoạn AIDS, không được phòng 
ngừa NTCH với cotrimoxazole trong khi đó tác 
nhân gây bệnh hàng đầu chính là P. jirovecii. 
Đặc điểm P. jirovecii đồng nhiễm với các tác 
nhân khác hoặc đồng nhiễm giữa vi khuẩn, vi 
nấm đòi hỏi cần phối hợp kháng sinh, kháng 
nấm. Việc điều trị còn phức tạp và tỉ lệ tử vong 
còn cao. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Wolff AJ, O'Donnell AE (2001). Pulmonary manifestations of 
HIV infection in the era of highly active antiretroviral therapy. 
Chest, 120(6):1888-1893. 
2. Wolff AJ, O'Donnell AE (2001). Pulmonary manifestations of 
HIV infection in the era of highly active antiretroviral therapy. 
Chest, 120(6):1888-1893. 
3. Buchacz K, Baker RK, Palella FJ, et al (2010). AIDS-defining 
opportunistic illnesses in US patients, 1994-2007: a cohort 
study. AIDS, 24(10):1549-1559. 
4. Fisk DT, Meshnick S, Kazanjian PH (2003). Pneumocystis 
carinii pneumonia in patients in the developing world who 
have acquired immunodeficiency syndrome. Clin Infect Dis, 
36(1):70-78. 
5. Lê Mạnh Hùng (2008). Viêm phổi nhiễm trùng trên người 
nhiễm HIV/AIDS nhập viện tại thành phố Hồ Chí Minh. Luận 
án Tiến sĩ Y học, chuyên ngành Dịch tễ học. 
6. Le Minor O, Germani Y, Chartier L, et al (2008). Predictors of 
pneumocystosis or tuberculosis in HIV-infected Asian patients 
with AFB smear-negative sputum pneumonia. J Acquir 
Immune Defic Syndr, 48(5):620-627. 
7. Tanuma J, Lee KH, Haneuse S, et al (2016). Incidence of AIDS-
Defining Opportunistic Infections and Mortality during 
Antiretroviral Therapy in a Cohort of Adult HIV-Infected 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 121 
Individuals in Hanoi, 2007-2014. PLoS ONE, 11(3):e0150781-
e0150781. 
8. Gangcuangco LMA, Sawada I, Tsuchiya N, Do CD, et al 
(2017). Regional Differences in the Prevalence of Major 
Opportunistic Infections among Antiretroviral-Naïve Human 
Immunodeficiency Virus Patients in Japan, Northern 
Thailand, Northern Vietnam, and the Philippines. American 
Society of Tropical Medicine and Hygiene, 97(1):49-56. 
9. Mandell LA, Wunderink RG, Anzueto A, et al (2007). 
Infectious Diseases Society of America/American Thoracic 
Society consensus guidelines on the management of 
community-acquired pneumonia in adults. Clin Infect Dis, 
44(2):27-72. 
10. Figueiredo-Mello C, Naucler P, Negra MD, et al (2017). 
Prospective etiological investigation of community-acquired 
pulmonary infections in hospitalized people living with HIV. 
Medicine, 96(4):e5778-e5778. 
Ngày nhận bài báo: 08/12/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 20/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021 

File đính kèm:

  • pdfviem_phoi_nang_tren_benh_nhan_hivaids_tai_benh_vien_benh_nhi.pdf