Viêm màng não tăng bạch cầu ái toan phát hiện trực tiếp Angiostrongylus cantonensis T trong dịch não tủy: Báo cáo trường hợp

Chẩn đoán tác nhân gây viêm màng não tăng bạch cầu ái toan (VMNTBCAT) chủ yếu bằng phương

pháp gián tiếp, thường dựa trên kết quả huyết thanh chẩn đoán ký sinh trùng với khả năng dương tính giả,

dương tính chéo cao và chỉ làm được vài tác nhân gây bệnh tiêu biểu. Ca bệnh VMNTBCAT của chúng tôi

phát hiện trực tiếp Angiostrongylus cantonensis còn sống trong dịch não tủy là một trường hợp rất hiếm

gặp và có giá trị chẩn đoán xác định cũng như tham khảo cao. Bé gái 5 tuổi nhập viện BV Bệnh Nhiệt đới vì

sốt nhẹ, nhức đầu 2 tuần kèm nhìn đôi và lé mắt. Lúc nhập viện, bé tỉnh táo, sốt nhẹ, cổ gượng, lé trong mắt

trái, sức cơ tay và chân phải yếu nhẹ 4/5. Bệnh nhân (BN) không có tiền căn ăn các loài nhuyễn thể tái, sống

hoặc thói quen ăn rau củ quả chưa nấu chín. Chẩn đoán: CT-scan sọ não ngày nhập viện bình thường, MRI

sọ não một ngày sau có ít tổn thương dạng nốt nhỏ chất trắng dưới vỏ đỉnh 2 bên, BC dịch não tủy 359 tế

bào/uL, eosinophils 15%, phát hiện giun trưởng thành non A. cantonensis còn sống trong dịch não tủy. BN

được chẩn đoán xác định viêm màng não do A. cantonensis. Đây là trường hợp VMNTBCAT điều trị thành

công nhờ việc xác định chính xác nguyên nhân gây bệnh là giun trưởng thành non A. cantonensis còn sống

trong dịch não tủy. Albendazole và dexamethasone cho thấy hiệu quả tốt và việc điều trị chính xác cũng góp

phần phục hồi tốt và không để lại di chứng.

pdf 5 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Viêm màng não tăng bạch cầu ái toan phát hiện trực tiếp Angiostrongylus cantonensis T trong dịch não tủy: Báo cáo trường hợp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Viêm màng não tăng bạch cầu ái toan phát hiện trực tiếp Angiostrongylus cantonensis T trong dịch não tủy: Báo cáo trường hợp

Viêm màng não tăng bạch cầu ái toan phát hiện trực tiếp Angiostrongylus cantonensis T trong dịch não tủy: Báo cáo trường hợp
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 164 
VIÊM MÀNG NÃO TĂNG BẠCH CẦU ÁI TOAN PHÁT HIỆN 
TRỰC TIẾP Angiostrongylus cantonensis TRONG DỊCH NÃO TỦY: 
BÁO CÁO TRƯỜNG HỢP 
Trương Lê Luy Na1, Trần Đăng Khoa1, Nguyễn Lê Phương Hồng1, Nguyễn Hoan Phú1, Huỳnh Ngọc 
Thiện Vương1, Phan Đại Bằng2, Trần Vĩnh Điệt1 
TÓM TẮT 
Chẩn đoán tác nhân gây viêm màng não tăng bạch cầu ái toan (VMNTBCAT) chủ yếu bằng phương 
pháp gián tiếp, thường dựa trên kết quả huyết thanh chẩn đoán ký sinh trùng với khả năng dương tính giả, 
dương tính chéo cao và chỉ làm được vài tác nhân gây bệnh tiêu biểu. Ca bệnh VMNTBCAT của chúng tôi 
phát hiện trực tiếp Angiostrongylus cantonensis còn sống trong dịch não tủy là một trường hợp rất hiếm 
gặp và có giá trị chẩn đoán xác định cũng như tham khảo cao. Bé gái 5 tuổi nhập viện BV Bệnh Nhiệt đới vì 
sốt nhẹ, nhức đầu 2 tuần kèm nhìn đôi và lé mắt. Lúc nhập viện, bé tỉnh táo, sốt nhẹ, cổ gượng, lé trong mắt 
trái, sức cơ tay và chân phải yếu nhẹ 4/5. Bệnh nhân (BN) không có tiền căn ăn các loài nhuyễn thể tái, sống 
hoặc thói quen ăn rau củ quả chưa nấu chín. Chẩn đoán: CT-scan sọ não ngày nhập viện bình thường, MRI 
sọ não một ngày sau có ít tổn thương dạng nốt nhỏ chất trắng dưới vỏ đỉnh 2 bên, BC dịch não tủy 359 tế 
bào/uL, eosinophils 15%, phát hiện giun trưởng thành non A. cantonensis còn sống trong dịch não tủy. BN 
được chẩn đoán xác định viêm màng não do A. cantonensis. Đây là trường hợp VMNTBCAT điều trị thành 
công nhờ việc xác định chính xác nguyên nhân gây bệnh là giun trưởng thành non A. cantonensis còn sống 
trong dịch não tủy. Albendazole và dexamethasone cho thấy hiệu quả tốt và việc điều trị chính xác cũng góp 
phần phục hồi tốt và không để lại di chứng. 
Từ khóa: viêm màng não tăng bạch cầu ái toan 
ABSTRACT 
EOSINOPHILIC MENINGITIS WITH LIVING LARVAE Angiostrongylus cantonensis 
IN CEREBROSPINAL FLUID OF A CHILD IN VIETNAM: A CASE REPORT 
Truong Le Luy Na, Tran Dang Khoa, Nguyen Le Phuong Hong, Nguyen Hoan Phu, 
Huynh Ngoc Thien Vuong, Phan Dai Bang, Tran Vinh Diet 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No 1 - 2021: 164 - 168 
Diagnosing the causes of eosinophilic meningitis is mainly made by the indirect method-the serodianosis of 
parasitic infections. The results of such method are very likely subject to a high probability of false-positive and 
cross-positive, and this method is applicable to a few typical pathogens. Our case of eosinophilic meningitis with 
direct detection of a living Angiostrongylus cantonensis in the cerebrospinal fluid is a very rare case of high value 
for definitive diagnosis and references. A 5-year-old girl was admitted to Hospital for Tropical Diseases because of 
limb weakness, diplopia and esotropia with low-grade fever for 2 weeks. At the time of admission, the child was 
awake, and had a low-grade fever, a stiff neck, esotropia of the left eye, and slightly weak right arm and leg 
muscles. The patient has no history of eating undercooked molluscs, or undercooked fruits and vegetables. 
Diagnoses: Images of Computed Tomography (CT) Scan of the brain on admission was normal; Magnetic 
resonance imaging (MRI) of the brain one day later showed few nodular lesions in the white matter on both sides; 
cerebrospinal fluid analysis findings were: 359 cells / uL, eosinophils 15%, and a living young adult A. 
1Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới 2Bệnh viện Nhi Đồng II 
Tác giả liên lạc: BS. Trương Lê Luy Na ĐT: 0902806302 Email: [email protected] 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 165 
cantonensis in the cerebrospinal fluid. The patient was diagnosed with meningitis caused by A. cantonensis. This 
is a case of EM that found directly, the young adult worm of Angiostrongylus cantonensis. Using a combination 
of anthelmintic drug (albendazole) and corticosteroid (dexamethasone) has been shown to be effective in treating 
the disease. 
Key words: eosinophilic meningitis 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Viêm màng não tăng bạch cầu ái toan 
(VMNTBCAT) là tình trạng viêm của màng não 
mà có tăng bạch cầu ái toan (BCAT) trong dịch 
não tủy (DNT), hơn 10 BCAT/mL hoặc 10% 
tổng số bạch cầu DNT. Chẩn đoán VMNTBCAT 
thường dựa vào biểu hiện lâm sàng viêm màng 
não, tiền sử ăn các loài nhuyễn thể sống, kết hợp 
với sự gia tăng bạch cầu ái toan trong DNT. 
Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu là do nhiễm 
giun sán. Tiêu chuẩn vàng chẩn đoán xác định 
tác nhân VMNTBCAT là phát hiện trực tiếp giun 
sán trong dịch não tủy, tuy nhiên tỷ lệ này rất 
hiếm nên trên thực hành lâm sàng chẩn đoán tác 
nhân chủ yếu sử dụng phương pháp gián tiếp 
xét nghiệm huyết thanh với một số tác nhân 
thường gây bệnh. 
Angiostrongylus cantonensis (giun ở động mạch 
phổi chuột) là tác nhân thường gặp nhất gây nên 
VMNTBCAT ở Đông Nam Á và khu vực Thái 
Bình Dương(1,2) với chuột là vật chủ chính. 
Hình 1: Chu kỳ phát triển của Angiostrongylus 
cantonensis(3) 
Động vật thân mềm là vật chủ trung gian lây 
nhiễm qua phân chuột, trong đó ấu trùng giai 
đoạn 1 lột xác hai lần để tạo ra ấu trùng giai 
đoạn 3, lây nhiễm tiếp tục cho động vật có 
xương sống hoặc lây nhiễm cho người do ăn 
phải ốc sên hoặc các vật chủ trung gian khác 
(ếch, tôm nước ngọt, cua, cá,...) chưa nấu chín 
hoặc rau quả sống chưa được rửa sạch mang ấu 
trùng gây bệnh(1,4). Trong cơ thể người, ấu trùng 
giai đoạn 3 lột xác hai lần và theo hệ thống tuần 
hoàn đến hệ thần kinh trung ương, đi sâu vào 
mô thần kinh. Những con giun non thường 
không hoàn thành vòng đời của chúng trong cơ 
thể người và chết đi, dẫn đến những tổn thương 
viêm dữ dội(5). 
Sự hiện diện của Angiostrongylus cantonenis 
trong nhu mô não gây ra phản ứng viêm não-
màng não nên than phiền ban đầu của bệnh 
nhân bị nhiễm bệnh là đau đầu dữ dội. Cơn đau 
đầu này là kết quả của việc tăng áp lực nội sọ do 
phản ứng viêm lan rộng ở màng não. Ngoài ra 
bệnh nhân còn có sốt, cổ gượng, ít gặp hơn là dị 
cảm, nhìn đôi, tổn thương các dây thần kinh sọ 
và thường cải thiện theo thời gian, hiếm có 
trường hợp tử vong. Tầm nhìn có thể bị ảnh 
hưởng trực tiếp bởi sự hiện diện của giun trong 
mắt hoặc gián tiếp do tê liệt dây thần kinh sọ 
dẫn đến nhìn đôi(5). Hình ảnh MRI ở BN 
VMNTBCAT thường thấy nhiều nốt nhỏ tăng 
quang trong mô não và nhu mô phổi, phản ánh 
sự hiện diện của giun trong cơ quan đó(6). 
Chẩn đoán xác định VMNTBCAT do 
Angiostrongylus cantonenis còn gặp nhiều khó 
khăn. Các xét nghiệm phát hiện kháng thể 
không đặc hiệu cho Angiostrongylus cantonensis 
do có thể phản ứng chéo với các ký sinh trùng 
khác. Gần đây, PCR đã được phát triển trong 
việc chẩn đoán xác định tác nhân gây bệnh là ký 
sinh trùng(7), tuy nhiên kỹ thuật này vẫn chưa 
được sử dụng rộng rãi trong thực tế lâm sàng. 
Ở Việt Nam, chỉ có báo cáo vào tháng 8 năm 
2020 về một ca VMNTBCAT phát hiện trực tiếp 
Angiostrongylus cantonensis ở bệnh viện Nhi 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 166 
Trung ương. Đó là trường hợp của một em bé 9 
tháng tuổi ở miền Bắc Việt Nam bị VMNTBCAT 
nhập viện vì sốt và co giật. Kết quả xét nghiệm 
DNT ghi nhận tăng bạch cầu ái toan 220/mm3 
(26%). Bệnh nhân được làm xét nghiệm ELISA 
chẩn đoán Angiostrongylus cantonensis và kết quả 
dương tính với máu cùng với dịch não tủy. 
Trong DNT cũng phát hiện một con giun di 
động và định danh là Angiostrongylus 
cantonensis. Em bé hồi phục hoàn toàn sau khi 
dùng albendazole (200 mg/ngày trong 2 tuần), 
và dexamethasone tiêm tĩnh mạch (0,6 
mg/kg/ngày mỗi 8 giờ) và mannitol (1,5 
g/kg/ngày mỗi 8 giờ) trong 3 ngày đầu, tiếp theo 
là 5 ngày uống prednisolon (2 mg/kg/ngày)(7). 
Các trường hợp VMNTBCAT tìm được trực 
tiếp tác nhân gây bệnh còn sống trong DNT là 
rất hiếm và có giá trị chẩn đoán xác định chính 
xác tác nhân trong bệnh cảnh này. Do đó, chúng 
tôi báo cáo ca lâm sàng đặc biệt VMNTBCAT 
phát hiện giun trưởng thành non Angiostrongylus 
cantonensis còn sống trong DNT ở bệnh viện 
Bệnh Nhiệt Đới. 
BÁO CÁO CA LÂM SÀNG 
Bệnh cảnh lâm sàng 
Bệnh nhân nữ, 5 tuổi, địa chỉ ở Phường Tân 
Quy, Quận 7, TP. Hồ Chí Minh, nhập viện ngày 
15-08-2018 tại bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới 
TP.HCM, số bệnh án: 18.018574. Lý do nhập viện 
là sốt nhẹ và đi đứng yếu khoảng 2 tuần. Bệnh 
sử ghi nhận tình trạng sốt nhẹ kéo dài kèm nôn 
ói và nhức đầu nhiều, sau đó bé xuất hiện thêm 
triệu chứng nhìn đôi và lé mắt, đi đứng yếu từ 
ngày 11 đến ngày 14 của bệnh. Ba mẹ đưa bé 
đến khám và được cho nhập viện điều trị. Ba mẹ 
của bệnh nhân làm nghề bán tạp hóa tại nhà ở 
Phường Tân Quy, Quận 7, TP. Hồ Chí Minh. 
Bệnh nhân không có tiền căn ăn các loài nhuyễn 
thể tái sống hoặc thói quen ăn rau củ quả sống. 
Nhà của bệnh nhân ở trong một khu chợ, quanh 
nhà có nhiều cây cỏ, nhiều chuột và ốc sên. 
Vào thời điểm nhập viện, bệnh nhân tri giác 
tỉnh táo với GCS 15 điểm, sốt nhẹ 38,3oC; cổ 
gượng, sức cơ chân và tay phải yếu nhẹ, lé trong 
mắt trái và nhìn đôi, đồng tử đều 2 bên 2mm, có 
phản xạ ánh sáng. Bệnh nhân được chẩn đoán 
viêm não – màng não và được chỉ định làm các 
xét nghiệm để chẩn đoán xác định. 
Xét nghiệm chẩn đoán 
Tổng phân tích tế bào máu có số lượng bạch 
cầu tăng (15,87 K/uL), Neutrophils 10,3 K/uL 
(64,9%), Lymphocytes 4.08K/uL (25,7%), 
Monocytes 0,9 K/uL (5,7%), Basophils 0,03 K/uL 
(0,2%), tăng nhẹ Eosinophils với 560 K/uL (3,5%). 
BN được chọc dò tủy sống ở khoảng liên đốt sốt 
L4-5 với kim 22G. Dịch não tủy mờ nhẹ với tốc 
độ khoảng 30 giọt/phút, không chạm thương. 
Chúng tôi ghi nhận hình ảnh sinh vật dạng giun 
tròn, màu trắng chui ra từ đầu kim, đường kính 
ngang #0,4 mm, chiều dài thò ra từ đầu kim #5-6 
mm (Hình 1). Sinh vật này ngay sau đó được soi 
trực tiếp dưới kính hiển vi và được định danh là 
giun trưởng thành non Angiostrongylus 
cantonensis còn sống. 
Hình 1: Giun trưởng thành non Angiostrongylus 
cantonensis chui ra từ kim chọc dò tủy sống 
Bạch cầu trong dịch não tủy của bệnh nhân 
tăng (359 tế bào/uL), có ít hồng cầu 40 tế bào/uL 
trong đó bạch cầu đa nhân chiếm 19%, đơn nhân 
66%, bạch cầu ái toan 15%, Protein 0,26 g/L, 
Lactate 7,66 mmol/L, Glucose 0,45 mmol/L. 
Glucose máu là 5,21 mmol/L. 
CT-scan não được chỉ định trong ngày 
nhập viện và kết quả không phát hiện bất 
thường. Tuy nhiên kết quả MRI sọ não một 
ngày sau đó ghi nhận có ít tổn thương di 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 167 
chứng dạng nốt nhỏ chất trắng dưới vỏ đỉnh 2 
bên, bắt thuốc nhẹ màng não 2 bên bán cầu sau 
tiêm Gado, không có khối choán chỗ nội sọ, 
đường giữa không lệch. 
Chẩn đoán xác định của bệnh nhân là viêm 
màng não tăng bạch cầu ái toan do 
Angiostrongylus cantonensis. 
Điều trị 
Bé được điều trị với abendazole liều 400mg x 
2 lần/ngày trong 2 tuần và dexamethasone 0,4 
mg/kg/ngày trong 7 ngày. Dịch não tủy kiểm tra 
vào 1 tuần sau cải thiện với số lượng bạch cầu là 
96 tế bào/uL (đa nhân 22%, đơn nhân 78%, bạch 
cầu ái toan 0%), Protein 0,574 g/L, Lactate 4,09 
mmol/L, Glucose 1,89 mmol/L. Ghi nhận sau 2 
tuần điều trị, các triệu chứng dần mất đi, bé 
không còn nhìn đôi, không bất thường các cơ 
vận nhãn và không yếu liệt tứ chi. Từ khi xuất 
viện đến nay, tình trạng bé tốt, không ghi nhận 
di chứng. 
BÀN LUẬN 
Việc phát hiện giun trưởng thành non 
Angiostrongylus cantonensis còn sống trong DNT 
là rất hiếm và có giá trị chẩn đoán cao, vì thứ 
nhất là hầu hết những con giun non đều chết đi 
ở não do không thể hoàn thành vòng đời của 
chúng trong cơ thể người, thứ 2 là rất khó để 
giun có thể chui vào khoang dưới nhện và thứ 3 
là các bác sĩ chỉ lấy một lượng ít DNT để làm xét 
nghiệm. Tác giả Tsai HC có đề cập đến phương 
pháp cho bệnh nhân ngồi một lúc trước khi chọc 
DNT để tăng khả năng phát hiện được giun 
trong DNT. Điều này thể hiện qua các báo cáo ca 
lâm sàng lẻ tẻ trên thế giới: 2 báo cáo ở Đài Loan, 
1 báo cáo ở Hoa Kỳ và 1 trường hợp bé 9 tháng 
tuổi báo cáo ở miền bắc Việt Nam(7,8,9). 
Số lượng eosinophils trong DNT ca này là 54 
tế bào/mm3 (15%), thấp hơn so với ca em bé 9 
tháng ở bệnh viện Nhi Trung ương là 220 tế 
bào/mm3 (26%)(10). Chúng tôi cũng đã khai thác 
dịch tễ của bé và người nhà nhằm tìm nguồn 
nhiễm bệnh của bệnh nhân này. Nơi sống của 
bệnh nhân dù ở TP. Hồ Chí Minh nhưng quanh 
nhà có nhiều cây cối rậm rạp, thời tiết ẩm ướt và 
đang trong mùa mưa ở miền nam Việt Nam, nên 
có nhiều ốc sên sống quanh nhà. Thêm vào đó, 
nhà bệnh nhân ở trong một khu chợ, thân nhân 
ghi nhận có khá nhiều chuột. Tuy nhiên, bệnh 
nhân là trẻ nhỏ nên có thể không nhớ hoặc 
không nhận thức được chính xác loại thức ăn đã 
ăn, hoặc có thể vô tình ăn phải những rau củ quả 
bị nhiễm ấu trùng giun gây bệnh. Ca bệnh này 
cũng giống như trường hợp trẻ 9 tháng ở bệnh 
viện nhi Trung ương, đều chưa ghi nhận được 
tiền căn ăn các loài nhuyễn thể hay các kí chủ 
trung gian gây bệnh. 
Điều trị VMNTBCAT bằng steroids và thuốc 
diệt ký sinh trùng còn nhiều vấn đề tranh luận. 
Sử dụng thuốc diệt ký sinh trùng cũng còn nhiều 
bàn cãi khi phản ứng miễn dịch từ giun chết do 
thuốc có thể gây tình trạng bệnh nặng nề hơn 
việc để chúng tự chết hoặc tự di chuyển ra khỏi 
dịch não tủy(10). Tuy nhiên, nghiên cứu của 
Jitpimolmard S cho thấy thuốc diệt ký sinh trùng 
làm giảm nhẹ các triệu chứng(11). Steroids đã 
được sử dụng với cơ chế giảm áp lực nội sọ và 
giảm phản ứng viêm do giun chết khi điều trị 
với albendazole(4,12). Việc sử dụng steroids liều 
cao được chứng minh là có lợi trong việc giảm 
nhẹ các triệu chứng, đồng thời không có tác 
dụng phụ nghiêm trọng nào được ghi nhận(13). 
Nghiên cứu của tác giả Chotmongkol V và 
McBride A cho thấy hiệu quả trong việc điều trị 
VMNTBCAT bằng kết hợp albendazole và 
corticosteroids(14,15). Trên ca lâm sàng này và ca 
bé 9 tháng tuổi ở miền Bắc đều hồi phục tốt sau 
điều trị bằng albendazole và steroids(7). 
KẾT LUẬN 
Việc tìm thấy giun trưởng thành non 
Angiostrongylus cantonensis trong DNT có giá trị 
chẩn đoán chính xác hơn các phương pháp chẩn 
đoán gián tiếp bằng xét nghiệm huyết thanh 
chẩn đoán ký sinh trùng hoặc chẩn đoán nhờ kết 
quả điều trị theo kinh nghiệm, tuy nhiên tình 
huống này rất hiếm gặp trên thực tế. Đây là 
trường hợp VMNTBCAT điều trị thành công 
nhờ việc xác định chính xác nguyên nhân gây 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 168 
bệnh, cũng chứng minh hiệu quả tốt của 
albendazole phối hợp dexamethasone. Bệnh 
nhân VMNTBCAT được chẩn đoán sớm và điều 
trị chính xác tác nhân sẽ giúp phục hồi tốt, 
không để lại di chứng. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Gerald SM, Stuart J (2013). Clinical Aspects of Eosinophilic 
Meningitis and Meningoencephalitis caused by 
Angiostrongylus cantonensis, the Rat Lungworm. Hawai'i 
Journal of Medicine & Public Health, 72:35-40. 
2. Sawanyawisuth K, Chotmongkol V (2013). Eosinophilic 
meningitis. Handbook of Clinical Neurology, 114:207-215. 
3. Graeff-Teixeira C, da Silva ACA, Yoshimura K (2009). Update 
on eosinophilic meningoencephalitis and its clinical relevance. 
Clinical Microbiology Reviews, 22(2):322-348. 
4. Slom TJ, Cortese MM, Gerber SI, Jones RC, Holtz TH, Lopez AS, 
Zambrano CH, Sufit RL, Sakolvaree Y, Chaicumpa W, 
Herwaldt BL, Johnson S (2002). An outbreak of eosinophilic 
meningitis caused by Angiostrongylus cantonensis in travelers 
returning from the Caribbean. N Engl J Med, 346(9):668-675. 
5. McBride A, Tran Thi Hong Chau, Nguyen Thi Thu Hong, 
Nguyen Thi Hoang Mai, Nguyen To Anh, Tran Tan Thanh, 
Tran Thi Hue Van, Le Thi Xuan, Tran Phu Manh Sieu, Le Hong 
Thai, Ly Van Chuong, Dinh Xuan Sinh, Nguyen Duy Phong, 
Nguyen Hoan Phu, Day J , Ho Dang Trung Nghia, Tran Tinh 
Hien, Nguyen Van Vinh Chau, Thwaites G, Le Van Tan (2017). 
Angiostrongylus cantonensis is an important cause of 
eosinophilic meningitis in Southern Vietnam. Clinical Infectious 
Diseases, 64(12):1784–1787. 
6. Tsai HC, Liu YC, and Kunin CM (2001). Eosinophilic meningitis 
caused by Angiostrongylus cantonensis: report of 17 cases. The 
American Journal of Medicine, 111(2):109-114. 
7. Pham Thu Hien, Dao Huu Nam, Le Thi Thu Trang, Nguyen 
Van Lam (2020). Case Report: Angiostrongylus cantonensis 
Meningoencephalitis in a 9-Month-Old Baby in Vietnam. 
American Journal of Tropical Medicine and Hygiene, 103(2):723 – 
726. 
8. Yii C (1976). Clinical observations on eosinophilic meningitis 
and meningoencephalitis caused by Angiostrongylus 
cantonensis on Taiwan. American Journal of Tropical Medicine and 
Hygiene, 25(2):233-249. 
9. Kuberski T, Bart RD, Briley JM, Rosen L(1979). Recovery of 
Angiostrongylus cantonensis from cerebrospinal fluid of a child 
with eosinophilic meningitis. Journal of Clinical Microbiology, 
9(5):629. 
10. Punyagupta S, Juttijudata P, Bunnag T (1975). Eosinophilic 
meningitis in Thailand. Clinical studies of 484 typical cases 
probably caused by Angiostrongylus cantonesis. American 
Journal of Tropical Medicine and Hygiene, 24(6):921-931. 
11. Jitpimolmard S, Sawanyawisuth K, Morakote N, Vejjajiva A, 
Puntumetakul M, Sanchaisuriya K, Tassaneeyakul W, 
Tassaneeyakul W, Korwanich N (2007). Albendazole therapy 
for eosinophilic meningitis caused by Angiostrongylus 
cantonensis. Parasitology Research, 100(6):1293-1296. 
12. Koo J, Pien F, and Kliks MM (1988). Angiostrongylus 
(Parastrongylus) eosinophilic meningitis. Reviews of Infectious 
Diseases, 10(6):1155-1162. 
13. Chotmongkol V, Sawanyawisuth K, and Thavornpitak Y (2000). 
Corticosteroid treatment of eosinophilic meningitis. Clinical 
Infectious Diseases, 31:660-662. 
14. Chotmongkol V, Kittimongkolma S, Niwattayakul K, Intapan 
PM, Thavornpitak Y (2009). Comparison of prednisolone plus 
albendazole with prednisolone alone for treatment of patients 
with eosinophilic meningitis. American Journal of Tropical 
Medicine and Hygiene, 81(3):443-445. 
15. Chotmongkol V, Wongjitrat C, Sawadpanit K, Sawanyawisuth 
K (2004). Treatment of eosinophilic meningitis with a 
combination of albendazole and corticosteroid. Southeast Asian 
Journal of Tropical Medicine and Public Health, 35(1):172-174. 
Ngày nhận bài báo: 08/12/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 20/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021 

File đính kèm:

  • pdfviem_mang_nao_tang_bach_cau_ai_toan_phat_hien_truc_tiep_angi.pdf