Viêm khớp nhiễm khuẩn ở trẻ sơ sinh 14 ngày tuổi tiếp cận lâm sàng và chiến lược điều trị

Viêm khớp nhiễm khuẩn là một biểu hiện hiếm gặp ở trẻ sơ sinh. Việc chẩn đoán có thể

chậm chễ do các triệu chứng không điển hình vì vậy dễ dẫn đến các biến chứng nghiêm

trọng. Chúng tôi báo cáo một trường hợp viêm khớp nhiễm khuẩn ở trẻ sơ sinh 14 ngày

tuổi do tụ cầu vàng, đã được điều trị bằng kháng sinh và dẫn lưu ổ khớp. Trẻ đã được xuất

viện sau 14 ngày điều trị, không để lại biến chứng. Sự phối hợp giữa chuyên khoa sơ sinh

và chuyên khoa chấn thương chỉnh hình là rất cần thiết để điều trị thành công viêm khớp

nhiễm khuẩn ở trẻ sơ sinh

pdf 5 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Viêm khớp nhiễm khuẩn ở trẻ sơ sinh 14 ngày tuổi tiếp cận lâm sàng và chiến lược điều trị", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Viêm khớp nhiễm khuẩn ở trẻ sơ sinh 14 ngày tuổi tiếp cận lâm sàng và chiến lược điều trị

Viêm khớp nhiễm khuẩn ở trẻ sơ sinh 14 ngày tuổi tiếp cận lâm sàng và chiến lược điều trị
 Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 4 (2020) 58-62 
58 
Case Report 
Septic Arthritis in a Fourteen Days Old Newborn: 
Clinical Approach and Treatment Strategy 
Nguyen Van Nhien* 
Vinh Phuc Hospital of Obstetrics and Pediatrics, 394 Me Linh, 
Khai Quang, Vinh Yen, Vinh Phuc, Vietnam 
Received 17 July 2020 
Revised 10 August 2020; Accepted 21 August 2020 
Abstract 
Infectious arthritis is a rare manifestation in infants. Diagnosis can be delayed due to 
aptypical symptoms leading to serious complications. We report a case of septic arthritis in 
a 14-day-old infant due to staphylococcus aureus, treated with antibiotics and joint 
drainage. The child was discharged from hospital after 14 days of treatment, without 
complications. A combination of neonatology and orthopedic specialists is essential for the 
successful treatment of septic arthritis in newborns. 
Keywords: Septic arthritis, Newborn. 
*
_______ 
*
 Corresponding author. 
 E-mail address: [email protected] 
 https://doi.org/10.25073/jprp.v4i4.215 
N.V. Nhien / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 4 (2020) 58-62 
59 
Viêm khớp nhiễm khuẩn ở trẻ sơ sinh 14 ngày tuổi 
 tiếp cận lâm sàng và chiến lược điều trị 
Nguyễn Văn Nhiên* 
 n n n n n n n n n m 
Nhận ngày 17 tháng 7 năm 2020 
Chỉnh sửa ngày 10 tháng 8 năm 2020; Chấp nhận đăng ngày 21 tháng 8 năm 2020 
Tóm tắt 
Viêm khớp nhiễm khuẩn là một biểu hiện hiếm gặp ở trẻ sơ sinh. Việc chẩn đoán có thể 
chậm chễ do các triệu chứng không điển hình vì vậy dễ dẫn đến các biến chứng nghiêm 
trọng. Chúng tôi báo cáo một trường hợp viêm khớp nhiễm khuẩn ở trẻ sơ sinh 14 ngày 
tuổi do tụ cầu vàng, đã được điều trị bằng kháng sinh và dẫn lưu ổ khớp. Trẻ đã được xuất 
viện sau 14 ngày điều trị, không để lại biến chứng. Sự phối hợp giữa chuyên khoa sơ sinh 
và chuyên khoa chấn thương chỉnh hình là rất cần thiết để điều trị thành công viêm khớp 
nhiễm khuẩn ở trẻ sơ sinh. 
 ừ k ó : Viêm khớp nhiễm khuẩn, Sơ sinh. 
1. Ca lâm sàng
*=
Chúng tôi mô tả một trường hợp: bé trai 
14 ngày tuổi, nặng 3200g bị viêm khớp gối 
phải. Trẻ là con lần 1, thai đủ tháng, sinh 
mổ, sau sinh ổn định. Ngày thứ 3 sau sinh 
trẻ có vàng da, điều trị chiếu đèn tại khoa 
Sơ sinh 3 ngày, sau đó xuất viện. Khi trẻ 14 
ngày tuổi, xuất hiện sưng, nóng, đỏ, đau và 
hạn chế vận động khớp gối bên phải, kèm 
theo sốt cao 39,50C. Trẻ mệt, bú kém, nôn 
trớ, đại tiện bình thường. 
Xét nghiệm máu khi vào viện: Bạch cầu 
17,41 G/l; tỷ lệ bạch cầu đa nhân trung tính 
41,7%. Tiểu cầu: 1115 G/l. Protein C phản 
ứng 38,8 mg/l. Trẻ có biểu hiện thiếu máu: 
Hồng cầu 3,83 T/l; hemoglobin 72 g/l; 
hematocrit 0,21 l/l. 
_______ 
* Tác giả liên hệ. 
 Đị ỉ em l: [email protected] 
 https://doi.org/10.25073/jprp.v4i4.215 
Trẻ được điều trị kháng sinh theo kinh 
nghiệm bằng Ampicillin và Vancomycin. 
Ngày điều trị thứ 2, trẻ còn sốt 380C, gối 
phải còn sưng, kích thước không giảm bớt, 
còn nóng, đỏ, đau nhiều và hạn chế vận 
động. Trẻ được hội chẩn với bác sỹ chuyên 
khoa chấn thương chỉnh hình: chưa có chỉ 
định điều trị ngoại khoa. Xét nghiệm máu 
lần 2: Bạch cầu tăng 20,77 G/l; Tiểu cầu 
1275 G/l. Protein C phản ứng tăng 46 mg/l. 
Trẻ được điều trị bằng kháng sinh: 
Ceftriaxone, Amikacin và Vancomycin kết 
hợp giảm đau bằng Paracetamol; chống 
viêm bằng Methylprednisolon. 
Ngày thứ 5, trẻ cắt sốt, gối phải còn 
sưng, đau, không đỏ, nóng giảm. Bác sỹ 
chấn thương chỉnh hình chỉ định phẫu thuật 
dẫn lưu, bơm rửa khớp gối, ra 40ml mủ 
vàng đục có lẫn máu. Kết quả nuôi cấy mủ 
mọc Staphylococcus aureus. 
N.V. Nhien / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 4 (2020) 58-62 
60 
Hình 1. Xquang khớp gối 2 bên. 
Hình 2. Siêu âm gối phải: dịch dày 8,8mm. 
Hình 3. Sau phẫu thuật, bơm rửa khớp gối phải. 
Hình 4. Nẹp bất động khớp gối. 
Kết quả kháng sinh đồ: vi khuẩn nhạy 
cảm với các kháng sinh đang điều trị. 
Không nhạy với Penicillin G và kháng với 
Tetracyclin, Doxycyclin. Sau phẫu thuật, 
triệu chứng nhiễm trùng thuyên giảm, phản 
ứng viêm giảm dần. Trẻ được xuất viện sau 
14 ngày điều trị. 
2. Bàn luận 
Viêm khớp nhiễm khuẩn là tình trạng 
nhiễm trùng ổ khớp do vi khuẩn [1,2]. Con 
đường phổ biến nhất mà vi khuẩn xâm nhập 
vào ổ khớp là đường máu [3]. Một tỷ lệ nhỏ 
xâm nhập trực tiếp vào khớp sau chấn 
thương xuyên thấu khớp hoặc gián tiếp từ 
viêm tủy xương liền kề [4]. 
Tỷ lệ mắc bệnh viêm khớp nhiễm khuẩn 
ở trẻ em dao động từ 5 đến 12 trường hợp 
trên 100.000 người. Các triệu chứng và dấu 
hiệu của viêm khớp nhiễm khuẩn bao gồm 
sốt, sưng, nóng, đỏ, đau và hạn chế vận 
động khớp. Ở trẻ sơ sinh, Staphylococcus 
aureus là nguyên nhân phổ biến nhất của 
viêm khớp nhiễm khuẩn, nhưng Escherichia 
N.V. Nhien / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 4 (2020) 58-62 
61 
coli, Streptococci nhóm B và trực khuẩn 
Gram âm khác cũng có thể gây bệnh. 
Viêm khớp nhiễm khuẩn vẫn còn là một 
vấn đề lâm sàng đầy thách thức, vì: (1) các 
dấu hiệu và triệu chứng không điển hình, có 
thể trùng lặp với nhiều bệnh khác, (2) việc 
nuôi cấy phân lập căn nguyên gây bệnh từ 
dịch khớp còn khó khăn, (3) xử trí còn khó 
khăn và chưa có phác đồ rõ ràng [5,6]. 
Viêm khớp nhiễm khuẩn ở trẻ em, đặc 
biệt là trẻ sơ sinh có sức tàn phá khủng 
khiếp, để lại những hậu quả nghiêm trọng 
cho sự tăng trưởng sụn khớp. Những triệu 
chứng khởi phát thường rất nghèo nàn, dễ bị 
bỏ sót, và nhầm lẫn trong nhiều bệnh khác 
nhau. Các triệu chứng được tìm thấy thường 
là: sốt, sưng, nóng, đỏ, đau, hạn chế vận 
động tại khớp bị nhiễm trùng, điều này 
khiến trẻ quấy khóc nhiều. Xét nghiệm máu 
có bằng chứng của tình trạng nhiễm trùng, 
biểu hiện là bạch cầu tăng cao, CRP tăng 
cao. Về chẩn đoán hình ảnh: siêu âm tại 
khớp đánh giá tình trạng bao hoạt dịch, 
phần mềm ổ khớp bị viêm. Chụp Xquang 
khớp thẳng nghiêng là cần thiết cho việc 
đánh giá tổn thương tại ổ khớp và đầu 
xương liền kề. Tiếp cận chẩn đoán viêm 
khớp nhiễm khuẩn thường dựa vào triệu 
chứng lâm sàng, cận lâm sàng và quan trọng 
là kết quả xét nghiệm dịch ổ khớp. 
Dẫn lưu phẫu thuật ổ khớp được coi là 
rất quan trọng để điều trị viêm khớp nhiễm 
trùng ở trẻ sơ sinh. Phẫu thuật có thể lấy 
mẫu bệnh phẩm để xét nghiệm, nuôi cấy 
phân lập căn nguyên gây bệnh và từ đó 
hướng dẫn lựa chọn kháng sinh theo các 
sinh vật gây bệnh. Không những thế, phẫu 
thuật còn làm giảm áp lực nội khớp, làm 
giảm nguy cơ biến chứng hoại tử vô mạch 
của xương và tổn thương sụn vĩnh viễn. 
Mặc dù dẫn lưu phẫu thuật đã được sử dụng 
rộng rãi để điều trị viêm khớp nhiễm trùng, 
nhưng vẫn chưa có nhiều nghiên cứu so 
sánh về phẫu thuật và điều trị bảo tồn trong 
viêm khớp nhiễm trùng ở trẻ sơ sinh, và 
thời điểm phẫu thuật dẫn lưu là khi nào thì 
phù hợp. Bệnh nhân của chúng tôi được 
mời hội chẩn bác sỹ phẫu thuật chỉnh hình 
vào ngày thứ 2, và ngày thứ 4 của bệnh. 
Đứa trẻ đã được phẫu thuật dẫn lưu khớp 
gối vào ngày thứ 5, hút ra được 40 ml mủ 
vàng có lẫn máu, bơm rửa ổ khớp bằng 
dung dịch muối đẳng trương có pha 
Gentamycin. Sau phẫu thuật, các triệu 
chứng viêm tại khớp bắt đầu giảm rõ rệt, 
đồng thời biểu hiện nhiễm trùng trên xét 
nghiệm cũng giảm dần. 
Hiện tại, vẫn chưa có sự đồng thuận về 
thời gian điều trị kháng sinh đường tĩnh 
mạch trong viêm khớp nhiễm khuẩn ở trẻ sơ 
sinh. Một số hiệp hội truyền nhiễm và các 
chuyên gia đã khuyến cáo dùng kháng sinh 
4 đến 6 tuần bằng đường tiêm tĩnh mạch. 
Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu liên quan 
đến viêm tủy xương và viêm khớp nhiễm 
khuẩn ở trẻ sơ sinh đã báo cáo thời gian 
tiêm tĩnh mạch ngắn hơn (khoảng từ 1 đến 4 
tuần) [7,8]. Trong trường hợp của chúng tôi, 
bệnh nhân được điều trị kháng sinh đường 
tĩnh mạch trong 14 ngày. Theo Peltola và 
Pääkkönen thời gian điều trị kháng sinh 
tiêm tĩnh mạch giảm xuống còn 2 đến 4 
ngày và sau đó tiếp tục điều trị bằng đường 
uống. Ba nghiên cứu khác cũng cho thấy 
không có thay đổi về kết quả điều trị, khi 
giai đoạn tiêm tĩnh mạch ngắn hơn một 
tuần. Tuy nhiên, viêm khớp nhiễm khuẩn ở 
trẻ sơ sinh khác với trẻ lớn. Trẻ sơ sinh 
tương đối suy giảm miễn dịch, có thể cần 
điều trị kéo dài. 
Liệu pháp kháng sinh ban đầu thường 
được lựa chọn để điều trị các mầm bệnh có 
khả năng gặp nhiều nhất [9]. Trong các 
nghiên cứu hiện tại, S. aureus là mầm bệnh 
phổ biến nhất. Khi có kết quả nuôi cấy, liệu 
pháp kháng sinh được điều chỉnh theo vi 
khuẩn gây bệnh và kháng sinh đồ. Bệnh 
nhân của chúng tôi, được chọn kháng sinh 
N.V. Nhien / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 4 (2020) 58-62 
62 
ban đầu là Ampicillin + Vancomycin, do 
bệnh xảy ra ở đứa trẻ 14 ngày tuổi, việc 
chọn Ampicillin ban đầu là hợp lý. Sau đó 
bệnh nhân được điều trị bằng Ceftriaxone, 
Amikacin, Vancomycin vì nhiễm trùng 
nặng hơn và có nguy cơ nhiễm trùng máu. 
Kết quả nuôi cấy dịch khớp gối của đứa trẻ, 
mọc S. aureus và nhạy cảm với nhiều loại 
kháng sinh, trong đó có kháng sinh mà 
chúng tôi đang điều trị. Các dấu hiệu viêm 
tại khớp bắt đầu thuyên giảm, trẻ bắt đầu 
cắt sốt, và xét nghiệm bạch cầu, tiểu cầu, 
CRP dần trở về bình thường. 
Kết luận 
Do sự tiến triển nghiêm trọng, có thể để 
lại những di chứng nặng nề, thậm chí tử 
vong nên viêm khớp nhiễm khuẩn ở trẻ em 
nói chung, đặc biệt là ở trẻ sơ sinh, cần phải 
chẩn đoán sớm, điều trị kháng sinh kịp thời 
và loại bỏ ổ mủ bằng phẫu thuật. Căn 
nguyên gây bệnh thường gặp là 
Staphylococcus aureus, việc chọn kháng 
sinh ban đầu nên dựa vào độ tuổi và tình 
trạng kháng thuốc tại địa phương cũng như 
mức độ nhiễm trùng trên lâm sàng và xét 
nghiệm máu, cho đến khi xác định được căn 
nguyên gây bệnh và kết quả kháng sinh đồ. 
Thời gian điều trị kháng sinh đường 
tĩnh mạch nên kéo dài đến 2 tuần, sau đó có 
thể chuyển kháng sinh đường uống cho đến 
khí xét nghiệm bạch cầu, CRP trở về 
bình thường. 
Điều trị phẫu thuật chậm chễ có thể dẫn 
đến hậu quả nghiêm trọng. Do đó, cần có sự 
phối hợp giữa chuyên khoa sơ sinh và 
chuyên khoa phẫu thuật chấn thương chỉnh 
hình, để thống nhất việc điều trị phẫu thuật, 
và thời điểm phẫu thuật dẫn lưu ổ khớp trên 
từng bệnh nhân cụ thể. 
Tài liệu tham khảo 
[1] Li YQ, Zhou QH, Liu YZ et al. Delayed 
treatment of septic arthritis in the neonate, A 
review of 52 case. Medicine 2016;95(51): 
e5682. https://doi.org/ 10.1097/MD.0000000 
000005682 
[2] Softic I, Sadic S, Custovic S . Septic arthritis 
in a ten day old newborn: how long to wait 
for articular drainage, Case report. Pediatrics 
Today 2014;10(1):51-54. https://doi.org/10.5 
457/p2005-114.89 
[3] Medscape. Pediatric septic arthritis, https://em 
edicine.medscape.com/article/970365-medica 
tion; 2019. [Accessed 15 July 2020] 
[4] Okubo Y, Nochioka K, Marcia T. 
Nationwide survey of pediatric septic arthritis 
in the United States. J Orthop 2017;14(3):34 
2-346. https://doi.org/10.1016/j.jor.2017.06. 
004. 
[5] Pääkkönen M, Kallio MJ, Peltola H et al. 
Pediatric septic hip with or without 
arthrotomy: retrospective analysis of 62 
consecutive nonneonatal culture-positive 
cases. J Pediatr Orthop B 2010;19(3):264-
269. https://doi.org/10.1097/BPB.0b013e328 
33822be 
[6] Fogel I, Amir J, Bar-On E et al. 
Dexamethasone Therapy for Septic Arthritis 
in Children. Pediatrics 2015;136(4):e776-
782. https://doi.org/10.1542/peds.2014-4025 
[7] Kaplan SL. Challenges in the evaluation and 
management of bone and joint infections and 
the role of new antibiotics for gram positive 
infections. Adv Exp Med Biol 2009;634:111-
120. 
[8] Mistry RM, Lennon D, Boyle MJ et al. Septic 
Arthritis and Acute Rheumatic Fever in 
Children: The Diagnostic Value of 
Serological Inflammatory Markers. J Pediatr 
Orthop 2015;35(3)318-322. https://doi.org/ 
10.1097/BPO.0000000000000261 
U 
o 

File đính kèm:

  • pdfviem_khop_nhiem_khuan_o_tre_so_sinh_14_ngay_tuoi_tiep_can_la.pdf