Viêm gan B và thai nghén

Mặc dù đã có những tiến bộ đáng kể trong chẩn đoán và điều trị viêm gan B nói chung, việc

quản lý nhiễm HBV trong thai kỳ vẫn luôn là một thách thức lớn cho các nhà lâm sàng gan

và sản phụ khoa. Lây truyền HBV chu sinh từ mẹ sang con vẫn là đường lây phổ biến nhất

ở các nước có tần suất nhiễm HBV cao, bao gồm cả Việt Nam. Những nghiên cứu gần đây

đã đem lại nhiều dữ liệu mới cho chiến lược theo dõi, điều trị nhiễm HBV trong thai kỳ. Bài

tổng quan này sẽ cập nhật và thảo luận các thông tin, khuyến cáo mới nhất của Hội Gan

Châu Á-Thái Bình Dương 2/2012 và Hội Gan Châu Âu 4/2012 về diễn biến, theo dõi, điều trị

viêm gan B trong thai kỳ cũng như về chỉ định điều trị HBV nhằm làm giảm tối đa nguy cơ

lây truyền HBV từ mẹ sang con

pdf 7 trang phuongnguyen 200
Bạn đang xem tài liệu "Viêm gan B và thai nghén", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Viêm gan B và thai nghén

Viêm gan B và thai nghén
 Trần Văn Huy l 35
VIÊM GAN B VÀ THAI NGHÉN
 Trần Văn Huy
Tóm tắt
Mặc dù đã có những tiến bộ đáng kể trong chẩn đoán và điều trị viêm gan B nói chung, việc 
quản lý nhiễm HBV trong thai kỳ vẫn luôn là một thách thức lớn cho các nhà lâm sàng gan 
và sản phụ khoa. Lây truyền HBV chu sinh từ mẹ sang con vẫn là đường lây phổ biến nhất 
ở các nước có tần suất nhiễm HBV cao, bao gồm cả Việt Nam. Những nghiên cứu gần đây 
đã đem lại nhiều dữ liệu mới cho chiến lược theo dõi, điều trị nhiễm HBV trong thai kỳ. Bài 
tổng quan này sẽ cập nhật và thảo luận các thông tin, khuyến cáo mới nhất của Hội Gan 
Châu Á-Thái Bình Dương 2/2012 và Hội Gan Châu Âu 4/2012 về diễn biến, theo dõi, điều trị 
viêm gan B trong thai kỳ cũng như về chỉ định điều trị HBV nhằm làm giảm tối đa nguy cơ 
lây truyền HBV từ mẹ sang con.
Abstract
HBV infection in pregnancy
Despites the progresses in diagnosis and therapy of chronic hepatitis B, the management of 
HBV infection in pregnancy is still a challenge in clinical practices. Perinatal transmission, 
the transmission of infection from a pregnant woman to her newborn, is really responsible 
for the high prevalence of this infection in high-risk developing countries including Vietnam. 
The information on the impact of HBV infection on pregnancy or vice versa, the management 
of HBV therapy in pregnancy and how to minimize the vertical transmission will be updated 
and discussed in this review.
 Key words: HBV, perinatal transmission, Nucleosides Analogues...
Trường ĐH Y Dược Huế
Đặt vấn đề
Theo thống kê của Tổ chức Y Tế thế 
giới, có 2 tỷ người đang hoặc đã từng 
nhiễm virus viêm gan B (HBV), trong đó 
có khoảng 400 triệu mang HBV mạn tính 
[2], với nguy cơ cao dẫn đến xơ gan và ung 
thư gan nguyên phát. Mặc dù đã có nhiều 
tiến bộ lớn trong chẩn đoán, dự phòng 
và điều trị viêm gan B, tuy nhiên nhiễm 
HBV và thai kỳ vẫn còn nhiều vấn đề phải 
giải quyết. Bài tổng quan này sẽ cập nhật 
một số thông tin gần đây, đặc biệt là từ hai 
khuyến cáo của hội nghị gan châu Á-Thái 
Bình Dương (APASL) 2/2012 và Hội Gan 
Châu Âu (EASL) 4/2012, về tác động qua 
lại giữa nhiễm HBV và thai kỳ, chỉ định 
TẠP CHÍ PHỤ SẢN - 10(3), 35-41, 2012
36 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
điều trị HBV trong thai kỳ cũng như các 
biện pháp tối ưu nhằm giảm thiểu đến 
mức thấp nhất nguy cơ lây truyền từ mẹ 
sang con.
Diễn biến và quản lý nhiễm HBV trong 
thai kỳ
Tác động qua lại giữa nhiễm HBV và 
thai nghén:
Các kết quả nghiên cứu hiện nay về 
diễn tiến của nhiễm virus viêm gan B 
(HBV) trong thai kỳ vẫn còn trái ngược 
nhau. Có tác giả cho rằng phần lớn bệnh 
gan của các thai phụ bị nhiễm HBV không 
nặng lên trong thai kỳ [16], trong khi một 
số tác giả khác lại nêu lên những đợt cấp 
hay suy gan tối cấp xảy ra trong khi mang 
thai [22].
Ngược lại, một số báo cáo khác cũng cho 
rằng nhiễm HBV cũng có thể dẫn đến các 
hậu quả không tốt khi mang thai và sinh. 
[6,19] Trong một nghiên cứu so sánh giữa 
253 phụ nữ mang thai có HBsAg (+) với 
nhóm chứng có cùng số bệnh nhân, Tse và 
cộng sự thấy rằng: nhóm bệnh có tỉ lệ sinh 
non dưới 34 tuần cao hơn (4,7% & 1,2%; p = 
0,033), tỉ lệ đe dọa sinh non trước 37 tuần cao 
hơn (11,9% & 6,3%; p = 0,030), tỉ lệ đái tháo 
đường thai nghén cao hơn (19% & 11%; p = 
0,012) và tỉ lệ xuất huyết ngay lúc sinh cao 
hơn (11,5% & 5,5%; p = 0,026) so với nhóm 
chứng[19]. Một nghiên cứu khác so sánh 
giữa 1138 thai phụ nhiễm HBV và 12545 
phụ nữ không nhiễm HBV cho thấy nguy 
cơ xuất hiện đái tháo đường thai nghén tăng 
một cách đáng kể với OR: 1,24 (khoảng tin 
cậy 95%: 1,01-1,51) [6]. Ngoài ra, có nghiên 
cứu cho thấy chỉ số Apgar ở thời điểm 1 và 5 
phút sau sinh ở những đứa trẻ sinh ra từ các 
bà mẹ nhiễm HBV thấp hơn so với con của 
những phụ nữ trong nhóm chứng (p = 0,001 
và p= 0,007) [19].
Sàng lọc viêm gan B ở phụ nữ mang thai
Theo các khuyến cáo của hội Gan Hoa 
Kỳ (AASLD) và hội Gan Châu Âu (EASL) 
2009, tất cả phụ nữ mang thai nên đi xét 
nghiệm HBsAg trong 3 tháng đầu của thai 
kỳ. Vắc xin viêm gan B an toàn cho bất cứ 
giai đoạn nào của thai kỳ, do đó, mọi phụ 
nữ mang thai mà chưa có miễn dịch và 
có nhiều nguy cơ nên đi tiêm chủng viêm 
gan B [17,18].
Những phụ nữ có xét nghiệm HBsAg âm 
tính ở 3 tháng đầu mà chưa có miễn dịch và 
có nhiều hành vi nguy cơ trong thai kỳ hoặc 
những bệnh nhân chưa được sàng lọc trước 
đó cũng cần xét nghiệm vào thời điểm sắp 
sinh. Nếu HBsAg (+), cần tư vấn, làm thêm 
các xét nghiệm bổ sung và điều trị cho bệnh 
nhân nếu cần.
Điều trị viêm gan B trong thai kỳ 
Chỉ định điều trị các thuốc kháng HBV 
ở phụ nữ mang thai cần được cân nhắc đến 
hiệu quả, nguy cơ kháng thuốc, sự an toàn 
và phân nhóm ảnh hưởng của thuốc đối với 
thai kỳ. 
Trước hết, vấn đề kế hoạch hóa gia đình 
cần được thảo luận kỹ với các phụ nữ trong 
độ tuổi sinh đẻ trước khi bắt đầu điều trị 
HBV. Những phụ nữ này cần được thông tin 
đầy đủ về các vấn đề an toàn của thuốc nếu 
có mang thai. 
Nếu bệnh nhân có thai ngoài ý muốn 
khi đang điều trị thuốc kháng HBV, chỉ 
định điều trị tiếp tục nên được cân nhắc hết 
sức kỹ lưỡng. Việc quyết định tiếp tục hay 
ngưng điều trị phụ thuộc vào nhiều yếu tố 
khác nhau như: tuổi thai lúc phát hiện, tình 
trạng bệnh lí gan, nguy cơ tác dụng phụ của 
thuốc đối với mẹ (đặc biệt trong giai đoạn 
sớm của thai kỳ) cũng như nguy cơ khi 
ngưng thuốc [17].
Tỉ lệ khuyết tật bẩm sinh trong toàn 
dân thống kê từ 1989-2003 là 2,72/100 trẻ 
 Trần Văn Huy l 37
sơ sinh sống (khoảng tin cậy 95% là 2,68-
2,76) và tỉ lệ các khuyết tật phát hiện sớm 
trong 7 ngày đầu sau sinh là 2,09/100 trẻ 
sơ sinh sống (khoảng tin cậy 95% là 2,07-
2,12) [1]. Còn tỉ lệ khuyết tật bẩm sinh liên 
quan các thuốc có chứa tenofovir là 2,4% 
khi dùng thuốc ở 3 tháng đầu và 2,0% khi 
điều trị từ tháng thứ 4 trở đi (bảng 1). Các 
nghiên cứu này cho thấy dùng tenofovir 
trong thai kỳ không làm tăng nguy cơ 
các khuyết tật bẩm sinh. Vấn đề tế nhị là 
những bà mẹ không dùng thuốc điều trị 
viêm gan B cũng có thể có con bị khuyết 
tật bẩm sinh và không thể dễ dàng phân 
biệt được những bất thường bẩm sinh đó 
là do thuốc kháng virus viêm gan B hay do 
những yếu tố khác[1]. Vì thế, việc điều trị 
thuốc kháng virus viêm gan B chỉ nên tiếp 
tục nếu lợi ích lớn hơn nguy cơ sau khi đã 
cân nhắc kỹ càng và tư vấn cho sản phụ và 
gia đình.
Theo khuyến cáo của hội Gan Châu Âu 
năm 2012, chỉ định điều trị tương tự được 
áp dụng cho những phụ nữ mà trong lần 
chẩn đoán đầu tiên đã có viêm gan B mạn 
trong suốt thai kỳ. Những bệnh nhân có xơ 
hóa gan tiến triển hoặc xơ gan cần được xác 
định là phải điều trị liên tục, nhưng cần xem 
xét lại thuốc điều trị. Peg-Interferon phải 
được ngưng và bệnh nhân nên được điều 
trị tiếp tục với các đồng chất của nucleoside 
(NA), trong đó các NA thuộc nhóm C của 
FDA, đặc biệt là adefovir và entecavir, nên 
được chuyển sang dùng nhóm B. Trong số 
các NA thuộc bảng B của FDA, tenofovir 
được ưa thích hơn vì có hiệu quả tốt, rào 
cản di truyền cao (high genetic barier) và dữ 
liệu về tính an toàn trong thai kỳ đã có sẵn. 
Một yếu tố ủng hộ cho Tenofovir là chúng 
ta đã có nhiều kinh nghiệm về tính an toàn 
khi dùng Tenofovir cho các sản phụ nhiễm 
HIV-AIDS trong một thời gian dài.
Bảng 1. Lợi ích và tác hại của các thuốc kháng virus viêm gan B 
đối với thai kỳ [Nguồn: APRSC 2011] [1]
Loại thuốc Phân loại 
của FDA đối 
với thai kỳ 
Tỉ lệ dị tật/
số trẻ sơ sinh 
sống khi 
dùng thuốc 
ở 3 tháng đầu 
(% (n/N))
Tỉ lệ dị tật/số 
trẻ sơ sinh sống 
khi dùng thuốc 
từ tháng thứ tư 
trở đi (% (n/N))
Lợi ích và tác hại khi 
dùng trong thai kỳ
Adefovir C 0 
(0/42)
0 
(0/0)
 Không được khuyến cáo
Entecavir [3] C 4 
(1/25)
0 
(0/2)
 Không được khuyến cáo
Lamivudine C 3.1 
(118/3864)
2.7 
(169/6230)
 Dữ liệu nhiều, an toàn 
cho người. 
 Hiện không còn là thuốc 
đầu tay
 Tỉ lệ đề kháng cao
Telbivudine B 0 
(0/7)
0 
(0/8)
 Tương đối an toàn 
Ít dữ liệu hơn 
lamivudine và tenofovir
Hiện cũng không phải là 
thuốc điều trị đầu tay
Tenofovir 
[12]
B 2.4 
(26/1092)
3.0 
(13/639)
Khá an toàn cho thai kỳ
38 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
Điều trị kháng HBV và lây truyền HBV 
mẹ-con: 
Dự phòng lây truyền HBV chu sinh, mà 
xảy ra chủ yếu trong lúc sinh, được thực hiện 
một cách truyền thống là phối hợp gây miễn 
dịch thụ động (bằng tiêm immunoglobulin 
của HBV -HBIg) và chủ động (bằng tiêm 
vaccine HBV). Tuy nhiên nhiều nghiên cứu 
cho thấy những chiến lược này có thể không 
hiệu quả trong một tỷ lệ trẻ sơ sinh của 
những bà mẹ có tải lượng virus cao (HBV 
DNA huyết thanh >106-7 IU/ml) và hầu hết là 
có HBeAg dương tính, những bà mẹ này có 
trên 10% nguy cơ lây truyền dọc HBV mặc 
dù được dùng HBIg và tiêm vaccine. 
Gần đây, đã có nhiều nghiên cứu về việc 
điều trị viêm gan B trong thai kỳ nhằm 
làm giảm nguy cơ lây truyền mẹ- con. Một 
số nghiên cứu đã chứng minh nguy cơ lây 
truyền viêm gan B từ mẹ sang con tăng cao 
ở những người mẹ có nồng độ virus trong 
máu cao (> 8 log10 copies/mL or ~ 7.3 log10 IU/
mL) [2,20], kết quả này cho thấy cần có các 
điều trị giúp làm giảm HBV DNA mẹ ngay 
trước khi sinh.
Thực vậy, nồng độ virus trong máu mẹ 
có vai trò quan trọng trong việc lây truyền. 
Trong một nghiên cứu bệnh-chứng theo dõi 
dọc trên 773 người mẹ HBsAg (+), Burk và 
cộng sự nhận thấy ở nhóm sản phụ có HBeAg 
(+) và HBV DNA ≥ 1.4 ng/mL, nguy cơ lây 
truyền mẹ con tăng gấp 147 lần so với nhóm 
HBeAg (+) nhưng HBV DNA < 0.005 ng/mL. 
Ngay cả trong nhóm HBeAg (-), nguy cơ lây 
truyền cũng tăng lên ở nhóm có HBV DNA 
cao.
Năm 2009, Xu và cộng sự tiến hành một 
nghiên cứu đa trung tâm, ngẫu nhiên, mù 
kép có đối chiếu, trên 114 sản phụ có HBsAg 
(+) ở Trung Quốc và Phillippin có HBV DNA 
cao (> 1000 mEq/mL hoặc >8.3 log10 IU/mL ở 
thời điểm 1 năm sau sinh, chỉ có 18% những 
đứa trẻ được tiêm vắc xin viêm gan B, HBIg 
và mẹ được điều trị bằng Lamivudine có 
HBsAg (+), so với 39% trong nhóm mẹ dùng 
giả dược (p=0.014) và chỉ có 20% HBV DNA 
(+) so với 46% trong nhóm giả dược (p=0.03). 
Không có tác dụng nào trong nhóm điều trị 
Lamivdine [21].
Năm 2011, Han và cộng sự công bố kết 
quả nghiên cứu trên 229 sản phụ có HBsAg 
(+) có HBV DNA cao (> 107copies/mL hoặc 
>6.3 log10 IU/mL) được điều trị Telbivudine 
từ tuần 20 đến tuần 32 (n = 135 lần so với 
nhóm không điều trị (n = 94). Cả 2 nhóm đều 
được tiêm vắc xin và HBIg. Các nhà nghiên 
cứu cho thấy Telbivudine đã làm giảm đáng 
kể HBV DNA, HBsAg và men gan trước khi 
sinh, đồng thời tỷ lệ lây truyền, đánh giá 
vào tháng thứ 7 sau sinh, là 0% trong nhóm 
điều trị Telbivudine so với 8% trong nhóm 
chứng (p=0.002) [4,5].
Cuối cùng, trong một báo cáo năm 2010, 
phối hợp miễn dịch chủ động-miễn dịch thụ 
động với sử dụng Telbivudine trong thời 
gian 15 tuần vào cuối thai kỳ đã làm giảm 
lây truyền từ 23% xuống còn 4% so với miễn 
dịch đơn thuần [4]. 
Xuất phát từ các kết quả nghiên cứu 
này, hội Gan Châu Á - Thái Bình Dương 
(2/2012) [9] và sau đó là Hội Gan Mật Châu 
Âu tháng 4/2012 đã khuyến cáo sử dụng 
telbivudine, lamivudine hoặc tenofovir 
(một thuốc nhóm B của FDA có hiệu quả) 
để dự phòng lây truyền HBV chu sinh và 
trong tử cung trong ba tháng cuối thai kỳ ở 
những phụ nữ mang thai có HbsAg dương 
tính với lượng virus cao (HBV DNA huyết 
thanh >106-7 IU/ml) [2]. 
Cần lưu ý là nếu mục đích điều trị chỉ 
là để làm giảm nguy cơ lây truyền mẹ-con 
thì có thể ngưng điều trị trong 3 tháng 
đầu sau sinh. Chú ý theo dõi sát sau khi 
ngưng thuốc.
 Trần Văn Huy l 39
Hiện tại vẫn có rất ít dữ kiện về việc can 
thiệp mổ sinh có giúp làm giảm nguy cơ lây 
truyền mẹ- con hay không, do đó chỉ định 
sinh mổ cho các sản phụ HBsAg (+) hiện nay 
vẫn chưa được khuyến cáo. [4,23]
Chỉ định và lựa chọn thuốc kháng HBV 
ở sản phụ.
Như đã đề cập ở trên, Peg-interferon 
là thuốc bị chống chỉ định khi mang thai. 
Lamivudine, Adefovir và Entecavir được 
FDA xếp vào nhóm C cho phụ nữ mang thai; 
Telbivudine và Tenofovir là những thuốc 
nhóm B. Sự phân loại này dựa trên nguy cơ 
gây độc trong đánh giá tiền lâm sàng. Vấn 
đề an toàn của entecavir trong thai nghén 
vẫn chưa được biết. 
Ba lựa chọn hiện nay trong điều 
trị viêm gan B ở phụ nữ có thai là 
lamivudine, telbivudine, and tenofovir. Ưu 
điểm và nhược điểm của từng loại thuốc 
được trình bày tóm tắt trong bảng 1. 
Lamivudine có thể được sử dụng trong 
thai kỳ do hiện có khá nhiều dữ kiện về loại 
thuốc này. Ngoài ra Lamivudine còn được 
xếp loại vào nhóm C theo FDA, tức là nhóm 
tương đối an toàn trong thai kỳ.[1], tuy 
nhiên chưa phải là lựa chọn lý tưởng như 
các thuốc thuộc nhóm B.
Nhược điểm của Lamivudine là tỷ lệ đề 
kháng cao và do đó không phải là điều trị 
được lựa chọn đầu tay trong điều trị viêm 
gan B nói chung.[10,11,12]. Khi lựa chọn 
lamivudine, cần theo dõi sát khi ngưng điều 
trị thuốc.
Hiệu quả và độ an toàn của telbivudine 
ở trong thai kỳ cũng đã được khảo sát, mặc 
dù dữ kiện và kinh nghiệm điều trị không 
được đầy đủ như lamivudine. Tuy nhiên, 
telbivudine được xếp vào nhóm B, cho 
thấy đây là lựa chọn ưu tiên hơn so với 
lamivudine ở trong thai kỳ
Tenofovir, một thuốc kháng HBV mạnh, 
xếp trong nhóm B của FDA, cũng là một 
thuốc được ưu tiên chọn lựa trong điều trị 
viêm gan B ở phụ nữ có thai. Đặc biệt những 
kinh nghiệm và dữ liệu về tenofovir ở bệnh 
nhân HIV mang thai cũng càng củng cố 
thêm cho việc sử dụng tenofovir trong tình 
huống này [11]. 
Hai thuốc kháng HBV còn lại là Entecavir 
và peg-interferon alfa 2a đều được xếp vào 
nhóm C.
Đối với phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ mà 
không có xơ hóa gan tiến triển (advanced 
fibrosis), nếu có kế hoạch sinh con trong thời 
gian sắp tới thì nên trì hoãn điều trị lại một 
cách cẩn trọng cho đến khi đứa bé được sinh 
ra. Đối với phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ mà 
có xơ hóa gan tiến triển hoặc xơ gan và đồng 
ý thực hiện kế hoạch hóa gia đình thì nên 
thử điều trị Peg-interferon vì nó được chỉ 
định trong một thời gian hạn chế [15]. Cần 
chú ý là phải thực hiện biện pháp tránh thai 
hiệu quả trong quá trình điều trị bằng Peg-
interferon. Nếu không thể điều trị bằng Peg-
interferon hoặc điều trị bằng thuốc này thất 
bại, việc điều trị bằng các thuốc thuộc nhóm 
các chất tương tự nucleoside (NA) cần phải 
được bắt đầu và duy trì, thậm chí kéo dài 
trong suốt thai kỳ trong tương lai. Tenofovir 
là một lựa chọn hợp lý nhất cho những bệnh 
nhân này [12].
Theo dõi sau sinh
Trẻ sơ sinh có mẹ nhiễm HBV và nhất 
là HBeAg (+) có nguy cơ cao bị lây nhiễm 
HBV. Nguy cơ này có thể lên đến 70-90% 
nếu không được tiêm vắc xin và HBIg đầy 
đủ. Do đó, cần lưu ý tiêm vắc xin viêm gan 
B và HBIg cho trẻ sơ sinh ngay trong 12 giờ 
sau sinh. Hiệu quả của vắc xin này sẽ giảm 
dần sau khi sinh. [13]
Sau đó, tiếp tục tiêm bổ sung thêm 2 mũi 
vắc xin (tổng cộng là 3 mũi: 1 mũi lúc sinh- 
mũi thứ hai sau 4 tuần-2 tháng và mũi thứ 
40 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
ba sau 6 tháng); cần xét nghiệm lại HBsAg và 
hiệu giá Anti-HBs ở tháng tuổi thứ 9 và 15.[13] 
Đồng thời chú ý theo dõi các đợt viêm 
gan bùng phát ở người mẹ do ngưng điều 
trị kháng HBV trong thời kỳ sau sinh. 
Nhiều nghiên cứu cho thấy sự phối hợp 
miễn dịch chủ động và thụ động có thể 
đem lại hiệu quả bảo vệ lên đến 95-100% 
ở trẻ sơ sinh, tuy nhiên kết quả thông báo 
có thay đổi tùy theo nước và hệ thống y tế 
khác nhau [13] 
Một câu hỏi được đặt ra là vấn đề lây 
truyền HBV khi bú mẹ. Mặc dù có một vài 
thông báo lẻ tẻ về sự hiện diện của HBsAg 
trong sữa mẹ với lượng thấp nhưng phần 
lớn nghiên cứu cho thấy việc cho con bú mẹ 
không làm tăng nguy cơ lây truyền HBV 
ở trẻ sơ sinh có mẹ HBsAg (+). Ngoài ra, 
những trẻ em có tiêm vắc xin và HBIg sẽ 
được bảo vệ khỏi lây nhiễm trong thời gian 
này. Vì vậy, CDC năm 2005 đã khuyến cáo 
người mẹ HBsAg (+) có thể cho con bú mẹ 
ngay sau khi sinh [13] với sự thận trọng đặc 
biệt khi núm vú bị nứt hoặc chảy máu.
Kết luận
Đã có nhiều tiến bộ trong nhận thức, theo 
dõi diễn biến và can thiệp nhiễm HBV trong 
thai kỳ. Chỉ định điều trị các thuốc kháng 
HBV đường uống, nhất là các đồng chất của 
nucleoside thuộc nhóm B, tỏ ra an toàn và 
hiệu quả trong điều trị viêm gan B ở phụ nữ 
có thai. Ngoài ra, ở các sản phụ có tải lượng 
virus cao, việc điều trị một số đồng chất của 
nucleoside trong 3 tháng cuối thai kỳ tỏ ra 
an toàn và hiệu quả trong việc góp phần làm 
giảm đến mức thấp nhất, cùng với các biện 
pháp miễn dịch chủ động bằng vắc xin và 
miễn dịch thụ động với HBIg, nguy cơ lây 
truyền HBV từ mẹ sang con.
1. Antiretroviral Pregnancy Registry 
Steering Committee. Antiretroviral 
Pregnancy Registry International 
Interim Report for 1 January 1989 
through 31 January 2011. Wilmington, 
NC: Registry Coordinating Center; 
2011. Beasley RP, Stevens CE, Shiao 
IS, Meng HC. Evidence against breast-
feeding as a mechanism for vertical 
transmission of hepatitis B. Lancet. 
1975;2:740-741.
2. European Association for the Study of the 
Liver. EASL Clinical Practice Guidelines: 
Management of chronic hepatitis B virus 
infection. J Hepatol. 2012;
3. Baraclude [package insert]. Princeton, NJ: 
Bristol-Myers Squibb Co.; October 2010.
4. Han G, Zhao W, Cao M, et al. A 
prospective and open-label study for 
the efficacy and safety of telbivudine 
(ltd) in pregnancy for the prevention 
of perinatal transmission of hepatitis 
B virus (HBV) to the infants. Program 
and abstracts of the 61st Annual 
Meeting of the American Association 
for the Study of Liver Diseases; 
October 29 - November 1, 2010; Boston, 
Massachusetts. Abstract 212.
5. Han GR, Cao MK, Zhao W, et al. A 
prospective and open-label study for 
the efficacy and safety of telbivudine 
in pregnancy for the prevention of 
perinatal transmission of hepatitis 
B virus infection. J Hepatol. 
2011;55:1215-1221
6. Lao TT, Chan BC, Leung WC, Ho LF, 
Tse KY. Maternal hepatitis B infection 
and gestational diabetes mellitus. J 
Hepatol. 2007;47:46-50.
7. Lau GK, He ML, Fong DYT, et al. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
 Trần Văn Huy l 41
Preemptive use of lamivudine reduces 
hepatitis B exacerbation after allogeneic 
hematopoietic cell transplantation. 
Hepatology. 2002;36:702-709.
8. Lau GK,Yiu HH, Fong DY, et al. Early is 
superior to deferred preemptive therapy 
for hepatitis undergoing chemotherapy. 
Gastroenterol. 2003;125:1742-1749. 
9. Liaw YF et al, APASL Guideline on the 
management of chronic HBV infection. 
Taipei 2/2012.
10. Lok AS, Lai C, Leung N, et al. Long-
term safety of lamivudine treatment 
in patients with chronic hepatitis B. 
Gastroenterology. 2003;125:1714-1722. 
11. Lok AS, McMahon BJ. Chronic 
hepatitis B: update 2009. Hepatology. 
2009;50:661-662. 
12. Lok AS. Drug therapy: tenofovir. 
Hepatology. 2010;52:743-747. 
13. Mast E, Mahoney F, Kane M, et al. 
Hepatitis B vaccine. In: Plotkin SA, 
Orenstein WA, editors. Vaccines. 
Philadelphia, PA: Saunders; 2004. p. 
299-337.
14. Mast EE, Margolis HS, Fiore AE, et al. A 
comprehensive immunization strategy 
to eliminate transmission of hepatitis 
B virus infection in the United States: 
recommendations of the Advisory 
Committee on Immunization Practices 
(ACIP) part 1: immunization of infants, 
children, and adolescents. MMWR 
Recomm Rep. 2005;54:1-31. 
15. Tan HH, Lui HF, Chow WC. Chronic 
hepatitis B virus (HBV) infection in 
pregnancy. Hepatol Int. 2008;2:370-375. 
16. Terrault NA, Jacobson IM. Treating 
chronic hepatitis B infection in patients 
who are pregnant or are undergoing 
immunosuppressive chemotherapy. 
Semin Liver Dis. 2007;(27 Suppl 1):18-24. 
17. Tran TT. Management of hepatitis B in 
pregnancy: weighing the options. Cleve 
Clin J Med. 2009a;76(suppl 3):S25-S29. 
18. Tran TT. Understanding cultural 
barriers in hepatitis B virus infection. 
Cleve Clin J Med. 2009b; 76(suppl 3): 
S10-S13.
19. Tse KY, Ho LF, Lao T. The impact of 
maternal HBsAg carrier status on 
pregnancy outcomes: a case-control 
study. J Hepatol. 2005;43:771-775. 
20. Van Zonneveld M, van Nunen AB, 
Niesters HG, et al. Lamivudine 
treatment during pregnancy to prevent 
perinatal transmission of hepatitis 
B virus infection. J Viral Hepat. 
2003;10:294-297. 
21. Xu WM, Cui YT, Wang L, et al. 
Lamivudine in late pregnancy to 
prevent perinatal transmission 
of hepatitis B virus infection: a 
multicentre, randomized, double-
blind, placebo-controlled study. J Viral 
Hepat. 2009;16:94-103. 
22. Yang YB, Li XM, Shi ZJ, Ma L. Pregnant 
woman with fulminant hepatic failure 
caused by hepatitis B virus infection: 
a case report. World J Gastroenterol. 
2004;10:2305-2306. 
23. Zou H, Chen Y, Duan Z, et al. A 
retrospective study for clinical outcome 
of Caesarean section on perinatal 
transmission of hepatitis B virus in 
infants born to HBeAg positive mothers 
with chronic hepatitis B (CHB). Program 
and abstracts of the 61st Annual 
Meeting of the American Association 
for the Study of Liver Diseases; 
October 29 - November 1, 2010; Boston, 
Massachusetts. Abstract 235.

File đính kèm:

  • pdfviem_gan_b_va_thai_nghen.pdf