Viêm âm đạo do nấm Candida trong thai kỳ: các yếu tố ảnh hưởng và kết quả điều trị

Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng

của viêm âm đạo do nấm Candida trong quý II, III của thai kỳ; một số

yếu tố liên quan và kết quả điều trị.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu dọc trên

277 thai phụ quý II và III, có ra khí hư âm đạo, đến khám tại phòng khám

sản Bệnh viện Đại Học Y Dược Huế từ tháng 6/2015 đến tháng 6/2017.

Kết quả: Kết quả nghiên cứu cho thấy viêm âm đạo do nấm Candida

ở các sản phụ mang thai quý II, III chiếm 35,4%. Các triệu chứng lâm

sàng thường gặp là khí hư trắng đặc sệt, ngứa âm hộ âm đạo và viêm

âm hộ âm đạo, khác biệt giữa các triệu chứng thường gặp với tình trạng

viêm âm đạo do nấm Candida có ý nghĩa (p < 0,01).="" nhóm="" các="" sản="">

có thói quen rửa vệ sinh ngoài âm hộ, có vệ sinh sau tiểu tiện, không có

tiền sử viêm âm đạo do nấm, có tỷ lệ mắc viêm âm đạo do nấm Candida

thấp hơn so với nhóm còn lại (p < 0,01).="" viêm="" âm="" đạo="" do="" nấm="">

có tỷ lệ cao hơn ở nhóm sản phụ mang thai quý III so với nhóm sản phụ

quý II (p < 0,01).="" sau="" một="" đợt="" điều="" trị="" viêm="" âm="" đạo="" do="" nấm="" candida="">

84,7 % trường hợp cải thiện triệu chứng và xét nghiệm cận lâm sàng,

các bệnh nhân có tiền sử viêm âm đạo do nấm tỷ lệ cải thiện sau điều

trị thấp hơn nhóm không có tiền sử viêm âm đạo do nấm (p <>

pdf 6 trang phuongnguyen 80
Bạn đang xem tài liệu "Viêm âm đạo do nấm Candida trong thai kỳ: các yếu tố ảnh hưởng và kết quả điều trị", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Viêm âm đạo do nấm Candida trong thai kỳ: các yếu tố ảnh hưởng và kết quả điều trị

Viêm âm đạo do nấm Candida trong thai kỳ: các yếu tố ảnh hưởng và kết quả điều trị
NGUYỄN NGUYÊN PHƯƠNG, NGUYỄN VŨ QUỐC HUY, NGUYỄN THỊ KIM ANH
94
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Nguyễn Nguyên Phương, Nguyễn Vũ Quốc Huy, Nguyễn Thị Kim Anh 
Trường Đại học Y Dược Huế
VIÊM ÂM ĐẠO DO NẤM CANDIDA TRONG THAI KỲ:
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Nguyên Phương, email: 
[email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/7/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
15/8/2017
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 31/8/2017
Tóm tắt
Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng 
của viêm âm đạo do nấm Candida trong quý II, III của thai kỳ; một số 
yếu tố liên quan và kết quả điều trị. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu dọc trên 
277 thai phụ quý II và III, có ra khí hư âm đạo, đến khám tại phòng khám 
sản Bệnh viện Đại Học Y Dược Huế từ tháng 6/2015 đến tháng 6/2017. 
Kết quả: Kết quả nghiên cứu cho thấy viêm âm đạo do nấm Candida 
ở các sản phụ mang thai quý II, III chiếm 35,4%. Các triệu chứng lâm 
sàng thường gặp là khí hư trắng đặc sệt, ngứa âm hộ âm đạo và viêm 
âm hộ âm đạo, khác biệt giữa các triệu chứng thường gặp với tình trạng 
viêm âm đạo do nấm Candida có ý nghĩa (p < 0,01). Nhóm các sản phụ 
có thói quen rửa vệ sinh ngoài âm hộ, có vệ sinh sau tiểu tiện, không có 
tiền sử viêm âm đạo do nấm, có tỷ lệ mắc viêm âm đạo do nấm Candida 
thấp hơn so với nhóm còn lại (p < 0,01). Viêm âm đạo do nấm Candida 
có tỷ lệ cao hơn ở nhóm sản phụ mang thai quý III so với nhóm sản phụ 
quý II (p < 0,01). Sau một đợt điều trị viêm âm đạo do nấm Candida có 
84,7 % trường hợp cải thiện triệu chứng và xét nghiệm cận lâm sàng, 
các bệnh nhân có tiền sử viêm âm đạo do nấm tỷ lệ cải thiện sau điều 
trị thấp hơn nhóm không có tiền sử viêm âm đạo do nấm (p < 0,01).
Abstract 
VAGINAL CANDIDIASIS IN PREGNANCY: 
INFLUENTIAL FACTORS AND RESULT OF TREATMENT 
Objectives: To investigate clinical and paraclinical features of vaginal 
Candidiasis in pregnant women of 2nd and 3rd trimester, influential 
factors and result of treatment. 
Materials and methods: a cohortstudy in 277 pregnant women of 
2nd and 3rd trimester who had vaginal discharges, came to obstetrical 
examination room from June 2015 to June 2017. 
Results: the rate of vaginal Candidiasis in pregnant women was 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 94 - 99, 2017
95
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
35,4%. The common clinical findings were pruritus, cottage cheese-like discharge, vulvovaginitis and 
the relation between common clinical features and vaginal Candidiasis has significance (p <0,01). 
These pregnant women who had the habit of washing outside the vagina, cleaning after pee, no 
history of vaginal Candidiasis were less suffered from vaginal Candidiasis than the others (p < 0,01). 
Vaginal Candidiasis has higher rate in pregnant women in 3rd trimester than pregnant women in 2nd 
trimester (p < 0,01). After treatment, 84,7% of vaginal Candidiasis cases get improvements in clinal 
symptoms and experimental results and those patients who had a history of vaginal Candidiasis less 
improve in symptoms than others (p < 0,01).
1. Đặt vấn đề
Viêm âm đạo do nấm Candida là bệnh lý phụ 
khoa phổ biến, thường biểu hiện với các triệu chứng 
như ngứa, viêm âm hộ âm đạo kèm với khí hư màu 
trắng đặc sệt, tạo thành từng mảng như sữa chua 
bám vào thành âm đạo. Viêm âm đạo do nấm 
Candida ảnh hưởng đến 75% phụ nữ trong độ tuổi 
sinh đẻ [7]. Nguyên nhân là do sự tăng sinh quá 
mức vi nấm Candida, vốn là một loài nấm men tồn 
tại trong hệ khuẩn chí bình thường của âm đạo với 
số lượng rất ít, kết quả gây nên viêm âm đạo. Họ 
nấm Candida có rất nhiều chủng trong đó thường 
gặp nhất và là nguyên nhân gây viêm âm đạo phổ 
biến nhất là Candida albicans, gặp trong 90% các 
trường hợp viêm âm đạo do nấm. Ngoài ra, một 
số chủng Candida khác cũng gây viêm âm đạo ở 
người như C.krusei, C.glabrata, C.tropicalis [5]. Một 
số yếu tố làm tăng nguy cơ viêm âm đạo do nấm 
Candida bao gồm mang thai, sử dụng kháng sinh 
phổ rộng kéo dài, đái tháo đường, suy giảm miễn 
dịch, sử dụng thuốc tránh thai phối hợp đường uống 
kéo dài. Trong đó, mang thai và đái tháo đường 
là hai yếu tố thường gặp, làm dễ cho việc xuất 
hiện viêm âm đạo do nấm Candida với cùng một 
cơ chế gây giảm miễn dịch qua trung gian tế bào, 
làm cho tỷ lệ viêm âm đạo do nấm Candida ở phụ 
nữ mang thai có thể cao gấp nhiều lần so với phụ 
nữ bình thường [6], [7], [10]. Ngoài ra, tình trạng 
mang thai với sự gia tăng các nội tiết tố estrogen và 
progesteron trong thai kỳ, cũng là một trong những 
nguyên nhân làm gia tăng tỷ lệ viêm âm đạo do 
nấm Candida ở phụ nữ mang thai [3]. Viêm âm 
đạo do nấm Candida thường gặp hơn ở quý II và 
quý III của thai kỳ [12]. Việc điều trị là cần thiết cho 
các trường hợp có triệu chứng lâm sàng. Tuy nhiên, 
hiện nay tại Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về 
viêm âm đạo do nấm Candida trong thai kỳ, các 
yếu tố ảnh hưởng, cũng như kết quả điều trị ở các 
sản phụ này. Do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu 
này nhằm mong muốn góp phần làm rõ thêm tình 
trạng viêm âm đạo do nấm Candida ở phụ nữ mang 
thai quý II, III tại Việt Nam, đồng thời tìm hiểu một 
số yếu tố về thói quen sinh hoạt, tiền sử viêm âm 
đạo do nấm hay tiền sử sản khoa, phụ khoa có hay 
không ảnh hưởng đến việc gia tăng tỷ lệ viêm âm 
đạo do nấm Candida ở các đối tượng, cũng như kết 
quả sau điều trị ở các sản phụ này.
2. Đối tượng và phương pháp 
nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Gồm 277 sản phụ mang 
thai quý II, III, có ra khí hư âm đạo, đồng ý tham 
gia nghiên cứu, đến khám tại Phòng khám Sản 
Bệnh viện Đại học Y Dược Huế từ 6/2015-6/2017.
Tiêu chuẩn chọn bệnh:
- Sản phụ mang thai quý II, III (Sản phụ mang 
thai từ tuần thứ 14 trở đi).
- Có ra khí hư âm đạo.
- Bệnh nhân được làm các xét nghiệm:
+ Xét nghiệm soi tươi dịch âm đạo khi khám 
lần đầu.
Candida. Trong 98 trường hợp viêm âm đạo do 
nấm Candida, chỉ có 42 bệnh nhân đồng ý cấy 
nấm. Kết quả cấy nấm cho thấy chủng Candida 
cấy được chủ yếu là Candida albicans (29/42 
trường hợp cấy) chiếm tỷ lệ 69%.
Nhận xét: Các triệu chứng lâm sàng chiếm tỷ lệ 
cao nhất trong các sản phụ thuộc mẫu nghiên cứu là 
ngứa âm hộ âm đạo, khí hư trắng đặc sệt, viêm âm 
hộ âm đạo, chiếm tỷ lệ lần lượt 24,9%, 27%, 23,4%.
Nhận xét: Các triệu chứng ngứa âm hộ âm 
đạo, khí hư trắng đặc sệt, viêm âm hộ âm đạo là 
các triệu chứng có liên quan đến viêm âm đạo do 
nấm ( p < 0,01).
Liên quan giữa các yếu tố về thói quen sinh hoạt, 
tiền sử phụ khoa viêm âm đạo do nấm Candida, 
tuổi thai với viêm âm đạo do nấm Candida
Nhận xét: Thói quen vệ sinh thụt rửa sâu vào trong 
âm đạo làm tăng tỷ lệ viêm âm đạo do nấm ( p < 0,01).
NGUYỄN NGUYÊN PHƯƠNG, NGUYỄN VŨ QUỐC HUY, NGUYỄN THỊ KIM ANH
96
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
+ Xét nghiệm cấy nấm: nếu xét nghiệm soi tươi 
dịch âm đạo có nấm men nảy búp, sợi giả. Tiến 
hành cấy nấm (nếu bệnh nhân đồng ý).
+ Xét nghiệm soi tươi dịch âm đạo khi tái khám.
- Đồng ý tham gia nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Có ra máu âm đạo hay vỡ ối.
- Có dấu hiệu chuyển dạ.
- Nhiễm nấm đang điều trị.
- Thụt rửa hay đặt thuốc âm đạo trong vòng 1 
tuần trước khi khám.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu tiến cứu dọc. Các sản phụ được 
khám và xét nghiệm theo Hướng dẫn quốc gia về 
các dịch vụ Sức khỏe sinh sản để chẩn đoán viêm 
âm đạo do nấm Candida [1]. Các trường hợp được 
chẩn đoán xác định sẽ được điều trị theo Hướng 
dẫn của Tổ chức y tế thế giới về điều trị viêm âm 
đạo do nấm Candida ở phụ nữ có thai với thuốc 
kháng nấm azole (hoặc Metronidazole kết hợp 
kháng nấm azole nếu có đồng nhiễm vi khuẩn) và 
hẹn tái khám sau khi hết thuốc từ 1-2 tuần [11]. Khi 
tái khám, bệnh nhân được đánh giá kết quả điều trị 
thông qua sự cải thiện về triệu chứng lâm sàng và 
kết quả soi tươi dịch âm đạo, nếu sau điều trị một 
đợt không cải thiện tốt, bệnh nhân sẽ được lập lại 
điều trị và đánh giá kết quả sau đó.
Xử lý số liệu: Bằng phần mềm SPSS 16.0.
3. Kết quả
Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi có 98/277 
bệnh nhân viêm âm đạo do nấm Candida (theo 
kết quả soi tươi dịch âm đạo) chiếm tỷ lệ 35,4%. 
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 87/98 trường hợp 
(88,7%) viêm âm đạo do nấm Candida đơn thuần, 
11/98 trường hợp (11,3%) viêm âm đạo do nấm 
Candida phối hợp với vi khuẩn.
Nhận xét: Trong nghiên cứu của chúng tôi, các 
sản phụ có viêm âm đạo do nấm Candida đươc tư 
vấn và tiến hành cấy nấm nhằm xác định chủng 
Kết quả cấy nấm Số lượng Tỷ lệ (%)
Candida albicans 29 69
Candida non-albicans 5 11,9
Không mọc 8 19,1
Tổng 42 100
Bảng 1: Tỷ lệ các chủng Candida gây viêm âm đạo theo kết quả cấy nấm
Đặc điểm lâm sàng
Có Không Tổng
n % n % n %
Ngứa ÂH-ÂĐ 69 24,9 208 75,1 277 100
Khí hư trắng đặc sệt 75 27 202 73 277 100
Viêm ÂH-ÂĐ 65 23,4 212 76,6 277 100
Bảng 2: Tỷ lệ các triệu chứng lâm sàng thường gặp trong viêm âm đạo do nấm Candida
Các triệu chứng
 thường gặp
Mắc bệnh
pCó Không Tổng
n % n % n %
Ngứa âm hộ- 
âm đạo
Có 65 23,5 4 1,4 69 24,9
< 0,01
Không 33 11,9 175 63,2 208 75,1
Khí hư trắng 
đặc sệt
Có 75 27,1 0 0 75 27,1
< 0,01
Không 23 8,3 179 64,6 202 72,9
Viêm Âm hộ- 
âm đạo
Có 65 23,5 0 0 65 23,5
< 0,01
Không 33 11,9 179 64,6 212 76,5
Bảng 3: Mối liên quan giữa các triệu chứng lâm sàng thường gặp và viêm âm đạo do nấm Candida
Cách rửa vệ sinh
Mắc bệnh
 pCó Không Tổng
n % n % n %
Rửa ngoài 78 28,2 170 61,4 248 89,5
p < 0,01Thụt rửa sâu âm đạo 20 7,2 9 3,2 29 10,5
Tổng 98 35,4 179 64,6 277 100
Bảng 4: Mối liên quan giữa viêm âm đạo do nấm Candida và cách rửa vệ sinh
Vệ sinh sau tiểu tiện
Mắc bệnh
 pCó Không Tổng
n % n % n %
Có 44 15,9 169 61 213 76,9
p < 0,01Không 54 19,5 10 3,6 64 23,1
Tổng 98 35,4 179 64,6 277 100
Bảng 5: Mối liên quan giữa viêm âm đạo do nấm và vệ sinh sau tiểu tiện
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 94 - 99, 2017
97
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
Nhận xét: Thói quen không vệ sinh sau tiểu tiện 
làm tăng tỷ lệ viêm âm đạo do nấm (p < 0,01).
Nhận xét: Nhóm sản phụ có tiền sử viêm âm 
đạo do nấm có tỷ lệ viêm âm đạo do nấm Candida 
cao hơn nhóm không có tiền sử viêm âm đạo do 
nấm (p < 0,01).
Nhận xét: Tỷ lệ viêm âm đạo do nấm ở các sản 
phụ mang thai quý III cao hơn các sản phụ mang 
thai quý II (p < 0,01).
Kết quả sau một đợt điều trị
Nhận xét: Trong 85 trường hợp viêm âm đạo 
do nấm được điều trị và tái khám theo hẹn, có 
72/85 trường hợp không còn triệu chứng lâm 
sàng và xét nghiệm soi tươi dịch âm đạo không 
còn nấm. Tuy nhiên vẫn có một số bệnh nhân có 
cải thiện về các triệu chứng lâm sàng nhưng kết 
quả soi tươi dịch âm đạo vẫn còn nấm (12/85 
trường hợp).
Tiền sử viêm âm đạo 
do nấm
Mắc bệnh
 pCó Không Tổng
n % n % n %
Có 63 22,7 15 5,4 78 28,2
p < 0,01Không 35 12,6 164 59,2 199 71,8
Tổng 98 35,4 179 64,6 277 100
Bảng 6:Mối liên quan giữa viêm âm đạo do nấm Candida và tiền sử viêm âm đạo do nấm Candida
Quý thai
Mắc bệnh
 pCó Không Tổng
n % n % n %
Quý II 48 17,3 53 19,1 101 36,5
p< 0,01Quý III 50 18,1 126 45,5 176 63,5
Tổng 98 35,4 179 64,6 277 100
Bảng 7: Liên quan giữa viêm âm đạo do nấm Candida và tuổi thai
Kết quả Số lượng Tỷ lệ (%)
Khỏi bệnh 72 84,7
Không khỏi bệnh 13 15,3
Tổng 85 100
Bảng 8: Kết quả sau một đợt điều trị viêm âm đạo do nấm Candida
Triệu chứng lâm sàng Trước điều trị Tỷ lệ (%) Sau điều trị Tỷ lệ (%) p
Ngứa
Có 58 68,2 6 7,1
p < 0,01Không 27 31,8 79 92,9
Tổng 85 100 85 100
Khí hư trắng 
đặc sệt
Có 64 75,3 7 8,2
p> 0,05Không 21 24,7 78 91,8
Tổng 85 100 85 100
Viêm âm hộ-âm 
đạo
Có 58 68,2 2 2,3
p> 0,05Không 27 31,8 83 97,7
Tổng 85 100 85 100
Bảng 9: Sự cải thiện các triệu chứng lâm sàng sau một đợt điều trị
Nhận xét: Sau một đợt điều trị các triệu chứng 
lâm sàng cải thiện rõ so với trước điều trị. Triệu 
chứng ngứa âm hộ, âm đạo cải thiện có ý nghĩa ( p 
< 0,01). Trong khi các triệu chứng còn lại gồm khí 
hư trắng đặc sệt và viêm âm hộ âm đạo cải thiện 
chưa có ý nghĩa ( p > 0,05).
Nhận xét: Nhóm các sản phụ có tiền sử viêm 
âm đạo do nấm có tỷ lệ khỏi bệnh sau một đợt 
điều trị thấp hơn nhóm các sản phụ không có tiền 
sử viêm âm đạo do nấm ( p < 0,01).
4. Bàn luận
Đặc điểm của mẫu nghiên cứu:
Kết quả nghiên cứu trên 277 sản phụ mang thai 
quý II và III cho thấy tỷ lệ viêm âm đạo do nấm 
Candida là 35,4%. Kết quả nghiên cứu của chúng 
tôi cũng tương đồng với nghiên cứu của Yadav 
cho thấy tỷ lệ viêm âm đạo do nấm Candida ở 
phụ nữ mang thai là 35% và theo nghiên cứu của 
Rasti tỷ lệ này là 32,7% [12], [9].
Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi, có 88,7% 
viêm âm đạo do nấm Candida đơn thuần, 11,3% 
viêm âm đạo do nấm Candida phối hợp với vi 
khuẩn. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng 
tương đồng với nghiên cứu của Lê Thị Hải Yến trên 
174 phụ nữ mang thai 3 tháng cuối với các trường 
hợp nhiễm nấm đơn thuần chiếm 86,7%, nhiễm 
nấm phối hợp vi khuẩn chiếm 11,7% [2].
Kết quả của nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 
chủng Candida cấy được phần lớn là Candida 
albicans (69%). Kết quả này cũng tương đồng với 
nghiên cứu của Nelson với kết quả cấy nấm cũng 
cho thấy nấm Candida albicans chiếm chủ yếu với 
tỷ lệ 63,83%, một nghiên cứu khác của Yadav tỷ 
lệ cấy được Candida albicans 64,04% [8], [12].
Trong nghiên cứu của chúng tôi, các triệu 
chứng thường gặp trong viêm âm đạo do nấm 
Candida là ngứa âm hộ âm đạo (24,9%), viêm 
âm hộ âm đạo (23,4%), khí hư trắng đặc sệt 
Kết quả điều trị
Tiền sử viêm âm đạo do nấm
 pCó Không Tổng
n % n % n %
Khỏi bệnh 43 50,6 29 34,1 72 84,7
p< 0,01Không khỏi bệnh 13 15,3 0 0 13 15,3
Tổng 56 65,9 29 34,1 85 100
Bảng 10: Mối liên quan giữa kết quả sau một đợt điều trị viêm âm đạo do nấm Candida và 
tiền sử điều trị viêm âm đạo do nấm
NGUYỄN NGUYÊN PHƯƠNG, NGUYỄN VŨ QUỐC HUY, NGUYỄN THỊ KIM ANH
98
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
(27%). Kết quả này cũng tương tự với nghiên 
cứu của Lê Thị Hải Yến với các triệu chứng chính 
của viêm âm đạo do nấm Candida trong mẫu 
nghiên cứu gồm ngứa âm hộ âm đạo, khí hư 
dạng bột như sữa đông và viêm âm hộ âm đạo 
[2]. Các triệu chứng này chiếm tỷ lệ cao và xuất 
hiện nhiều ở các bệnh nhân viêm âm đạo do 
nấm Candida, điều này cũng phù hợp với y văn 
[4], [6], [7]. Trong nghiên cứu của chúng tôi, 
các triệu chứng thường gặp bao gồm viêm âm 
hộ âm đạo, khí hư trắng đặc sệt và viêm âm hộ 
âm đạo có liên quan đến viêm âm đạo do nấm 
Candida (p < 0,01). Kết quả này cũng tương 
đồng với nghiên cứu của Lê Thị Hải Yến cho thấy 
có mối liên quan có ý nghĩa giữa các triệu chứng 
lâm sàng viêm âm hộ âm đạo, khí hư dạng bột 
sữa đông, viêm âm hộ âm đạo với tình trạng 
viêm âm đạo do nấm Candida [2].
Liên quan giữa các yếu tố về thói quen sinh hoạt, 
tiền sử phụ khoa viêm âm đạo do nấm Candida, 
tuổi thai với viêm âm đạo do nấm Candida 
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 
nhóm các sản phụ có thói quen thụt rửa sâu vào 
trong âm đạo khi vệ sinh, không vệ sinh sau tiểu 
tiện có tỷ lệ mắc viêm âm đạo do nấm Candida 
cao hơn nhóm sản phụ còn lại (p < 0,01). Kết 
quả này cũng tương đồng với nghiên cứu của Lê 
Thị Hải Yến với các sản phụ có thói quen rửa vệ 
sinh âm hộ âm đạo bằng thụt sâu vào trong âm 
đạo ( p > 0,05), không vệ sinh sau tiểu tiện ( p < 
0,01) có chiều hướng làm gia tăng tỷ lệ viêm âm 
đạo do nấm Candida ở các sản phụ này so với 
nhóm còn lại [2].
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nhóm các 
sản phụ có tiền sử viêm âm đạo do nấm Candida 
có tỷ lệ viêm âm đạo do nấm Candida cao hơn 
nhóm sản phụ không có tiền sử viêm âm đạo do 
nấm Candida ( p < 0,01). Kết quả này tương tự 
với nghiên cứu của Lê Thị Hải Yến với các sản 
phụ có tiền sử viêm đạo do nấm trước đó có tỷ lệ 
viêm âm đạo do nấm Candida trong thai kỳ cao 
hơn nhóm sản phụ còn lại ( p < 0,05) [2].
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy viêm âm 
đạo do nấm Candida thường gặp hơn ở quý III 
thai kỳ, trong các sản phụ mắc viêm âm đạo do 
nấm Candida, các phụ nữ mang thai quý III chiếm 
51%, các phụ nữ mang thai quý II chiếm 49 %, 
tỷ lệ viêm âm đạo do nấm Candida ở nhóm sản 
phụ quý III cao hơn so với nhóm sản phụ quý II có 
ý nghĩa (p < 0,01). Kết quả này cũng tương đồng 
với nghiên cứu của Nelson với tỷ lệ phụ nữ mang 
thai viêm âm đạo do nấm Candida trong thai kỳ, 
sản phụ mang thai quý III chiếm 68,9%, sản phụ 
mang thai quý II chiếm 21,28% ( p < 0,01) [8].
Kết quả điều trị:
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 
có 84,7% trường hợp cải thiện sau một đợt điều 
trị, không còn các triệu chứng lâm sàng và xét 
nghiệm soi tươi dịch âm đạo tái khám không có 
nấm. Các triệu chứng lâm sàng thường gặp cải 
thiện nhanh sau một đợt điều trị. Kết quả nghiên 
cứu cũng cho thấy các sản phụ có tiền sử viêm 
âm đạo do nấm trước đó tỷ lệ đáp ứng điều trị 
thấp hơn so với nhóm sản phụ không có tiền sử 
viêm âm đạo do nấm trước đó ( p < 0,01). Tình 
trạng mang thai là yếu tố làm dễ cho viêm âm 
đạo do nấm Candida ở phụ nữ mang thai, viêm 
âm đạo do nấm Candida không thể điều trị khỏi 
hoàn toàn trong thai kỳ và rất dễ tái phát, do 
đó, bác sĩ chuyên khoa cần tư vấn và giải thích 
cho bệnh nhân, giúp cho bệnh nhân hiểu được 
các đặc điểm của viêm âm đạo do nấm Candida 
trong thai kỳ, tầm quan trọng của việc tuân thủ 
điều trị, nhằm giúp quá trình điều trị đạt hiệu 
quả, tránh các biến chứng như ối vỡ non, viêm 
màng ối và mang lại một thai kỳ an toàn cho 
mẹ và thai .
5. Kết luận
Tỷ lệ viêm âm đạo do nấm Candida ở các 
sản phụ quý II, III trong nghiên cứu là 35,4%. Tỷ 
lệ viêm âm đạo do nấm Candida đơn thuần là 
88,7%, viêm âm đạo do nấm Candida phối hợp 
với vi khuẩn là 11,3%. Kết quả cấy nấm cho thấy 
Candida albicans chiếm chủ yếu với 69%.
Các triệu chứng lâm sàng thường gặp là ngứa 
âm hộ âm đạo, khí hư đặc sệt như sữa chua, viêm 
âm hộ âm đạo, các triệu chứng này liên quan với 
viêm âm đạo do nấm Candida ( p < 0,01)
Nhóm các sản phụ có thói quen rửa vệ sinh 
thụt sâu vào âm đạo, không vệ sinh sau tiểu tiện 
có tỷ lệ viêm âm đạo do nấm Candida cao hơn 
nhóm các sản phụ không có các thói quen trên ( p 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 94 - 99, 2017
99
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
< 0,01). Các sản phụ có tiền sử viêm âm đạo do 
nấm có tỷ lệ viêm âm đạo do nấm Candida trong 
thai kỳ cao hơn các sản phụ không có tiền sử viêm 
âm đạo do nấm Candida trước đó ( p < 0,01). Tỷ 
lệ viêm âm đạo do nấm Candida ở các sản phụ 
mang thai quý III cao hơn ở các sản phụ mang 
thai quý II (p < 0,01).
Tỷ lệ khỏi bệnh sau một đợt điều trị viêm âm 
đạo do nấm Candida 84,7%. Các triệu chứng 
lâm sàng không còn xuất hiện sau một đợt điều 
trị. Các sản phụ có tiền sử viêm âm đạo do nấm 
tỷ lệ khỏi bệnh sau điều trị thấp hơn nhóm các 
sản phụ không có tiền sử viêm âm đạo do nấm 
(p < 0,01).
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Y Tế (2009), “ Hội chứng tiết dịch âm đạo”, Hướng Dẫn Quốc 
Gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, tr.322-324.
2. Lê Thị Hải Yến (2007), “ Nghiên cứu tình hình nhiễm nấm Candida 
albicans ở phụ nữ mang thai vào ba tháng cuối của thai kỳ và đánh giá 
kết quả điều trị tại Bệnh viện trung ương Huế”, Luận văn thạc sĩ y học, 
Trường Đại học Y Dược Huế.
3. Altayyar I. A., Alsanosi A. S., Osman N. A. (2016), “Prevalence 
of vaginal Candidiasis among pregnant women attending different 
gynecological clinic at South Libya”, European Journal of Experimental 
Biology, 6(3), pp.25–29.
4. Daniels D. (1999), “National guideline for the management of 
vulvovaginal candidiasis”, Sex Trans Inf, pp.1–5.
5. DeCherney A. H., Nathan L. (2003), “Benign and Disorder of the vulva 
and vagina”, Current Obstetric & Gynecologic Diagnosis and Treatment, 
pp.651-676.
6. Cunningham F. G. (2014), “Vagina and perinium”, Williams Obstetrics, 
pp.293-295, 24th edition.
7. Berek J. S. (2011), “Vaginal Candidiasis”, Berek and Novak’s 
Gynecology, pp.543-547, 15th edition, Mc graw hills.
8. Nelson M., Wanjiru W., Margaret M. W. (2013), “ Prevalence of Vaginal 
Candidiasis and Determination of the Occurrence of Candida Species in 
Pregnant Women Attending the Antenatal Clinic of Thika”, Open Journal 
of Medical Microbiology, 3, pp.264–272.
9. Rasti S., Asadi M. A., Taghriri A., Behrashi M., Mousavie G. (2014), 
“Vaginal candidiasis complications on pregnant women”, Jundishapur 
Journal of Microbiology, 7(2), pp.10–12.
10. Soong D., Einarson A. (2009), “Vaginal yeast infections during 
pregnancy”, Canadian Family Physician, 55(3), pp.255–256.
11. WHO (2001), “Vulvovaginal candidiasis in pregnancy”, Guideline for 
management of Sexually transmitted infections, pp.54-55.
12. Yadav K., Prakash S. (2016), “ Prevalence of Vulvovaginal 
Candidiasis in Pregnancy”, Gobal Journal of Medicine and Medical 
Science, 4(1), pp.108–116.

File đính kèm:

  • pdfviem_am_dao_do_nam_candida_trong_thai_ky_cac_yeu_to_anh_huon.pdf