Viêm âm đạo do nấm Candida trong thai kỳ: các yếu tố ảnh hưởng và kết quả điều trị
Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng
của viêm âm đạo do nấm Candida trong quý II, III của thai kỳ; một số
yếu tố liên quan và kết quả điều trị.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu dọc trên
277 thai phụ quý II và III, có ra khí hư âm đạo, đến khám tại phòng khám
sản Bệnh viện Đại Học Y Dược Huế từ tháng 6/2015 đến tháng 6/2017.
Kết quả: Kết quả nghiên cứu cho thấy viêm âm đạo do nấm Candida
ở các sản phụ mang thai quý II, III chiếm 35,4%. Các triệu chứng lâm
sàng thường gặp là khí hư trắng đặc sệt, ngứa âm hộ âm đạo và viêm
âm hộ âm đạo, khác biệt giữa các triệu chứng thường gặp với tình trạng
viêm âm đạo do nấm Candida có ý nghĩa (p < 0,01).="" nhóm="" các="" sản="">
có thói quen rửa vệ sinh ngoài âm hộ, có vệ sinh sau tiểu tiện, không có
tiền sử viêm âm đạo do nấm, có tỷ lệ mắc viêm âm đạo do nấm Candida
thấp hơn so với nhóm còn lại (p < 0,01).="" viêm="" âm="" đạo="" do="" nấm="">
có tỷ lệ cao hơn ở nhóm sản phụ mang thai quý III so với nhóm sản phụ
quý II (p < 0,01).="" sau="" một="" đợt="" điều="" trị="" viêm="" âm="" đạo="" do="" nấm="" candida="">
84,7 % trường hợp cải thiện triệu chứng và xét nghiệm cận lâm sàng,
các bệnh nhân có tiền sử viêm âm đạo do nấm tỷ lệ cải thiện sau điều
trị thấp hơn nhóm không có tiền sử viêm âm đạo do nấm (p <>
Tóm tắt nội dung tài liệu: Viêm âm đạo do nấm Candida trong thai kỳ: các yếu tố ảnh hưởng và kết quả điều trị
NGUYỄN NGUYÊN PHƯƠNG, NGUYỄN VŨ QUỐC HUY, NGUYỄN THỊ KIM ANH 94 Tậ p 15 , s ố 03 Th án g 09 -2 01 7 SẢ N K H O A – S Ơ S IN H Nguyễn Nguyên Phương, Nguyễn Vũ Quốc Huy, Nguyễn Thị Kim Anh Trường Đại học Y Dược Huế VIÊM ÂM ĐẠO DO NẤM CANDIDA TRONG THAI KỲ: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ Tác giả liên hệ (Corresponding author): Nguyễn Nguyên Phương, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 10/7/2017 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 15/8/2017 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 31/8/2017 Tóm tắt Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của viêm âm đạo do nấm Candida trong quý II, III của thai kỳ; một số yếu tố liên quan và kết quả điều trị. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu dọc trên 277 thai phụ quý II và III, có ra khí hư âm đạo, đến khám tại phòng khám sản Bệnh viện Đại Học Y Dược Huế từ tháng 6/2015 đến tháng 6/2017. Kết quả: Kết quả nghiên cứu cho thấy viêm âm đạo do nấm Candida ở các sản phụ mang thai quý II, III chiếm 35,4%. Các triệu chứng lâm sàng thường gặp là khí hư trắng đặc sệt, ngứa âm hộ âm đạo và viêm âm hộ âm đạo, khác biệt giữa các triệu chứng thường gặp với tình trạng viêm âm đạo do nấm Candida có ý nghĩa (p < 0,01). Nhóm các sản phụ có thói quen rửa vệ sinh ngoài âm hộ, có vệ sinh sau tiểu tiện, không có tiền sử viêm âm đạo do nấm, có tỷ lệ mắc viêm âm đạo do nấm Candida thấp hơn so với nhóm còn lại (p < 0,01). Viêm âm đạo do nấm Candida có tỷ lệ cao hơn ở nhóm sản phụ mang thai quý III so với nhóm sản phụ quý II (p < 0,01). Sau một đợt điều trị viêm âm đạo do nấm Candida có 84,7 % trường hợp cải thiện triệu chứng và xét nghiệm cận lâm sàng, các bệnh nhân có tiền sử viêm âm đạo do nấm tỷ lệ cải thiện sau điều trị thấp hơn nhóm không có tiền sử viêm âm đạo do nấm (p < 0,01). Abstract VAGINAL CANDIDIASIS IN PREGNANCY: INFLUENTIAL FACTORS AND RESULT OF TREATMENT Objectives: To investigate clinical and paraclinical features of vaginal Candidiasis in pregnant women of 2nd and 3rd trimester, influential factors and result of treatment. Materials and methods: a cohortstudy in 277 pregnant women of 2nd and 3rd trimester who had vaginal discharges, came to obstetrical examination room from June 2015 to June 2017. Results: the rate of vaginal Candidiasis in pregnant women was TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 15(03), 94 - 99, 2017 95 Tập 15, số 03 Tháng 09-2017 35,4%. The common clinical findings were pruritus, cottage cheese-like discharge, vulvovaginitis and the relation between common clinical features and vaginal Candidiasis has significance (p <0,01). These pregnant women who had the habit of washing outside the vagina, cleaning after pee, no history of vaginal Candidiasis were less suffered from vaginal Candidiasis than the others (p < 0,01). Vaginal Candidiasis has higher rate in pregnant women in 3rd trimester than pregnant women in 2nd trimester (p < 0,01). After treatment, 84,7% of vaginal Candidiasis cases get improvements in clinal symptoms and experimental results and those patients who had a history of vaginal Candidiasis less improve in symptoms than others (p < 0,01). 1. Đặt vấn đề Viêm âm đạo do nấm Candida là bệnh lý phụ khoa phổ biến, thường biểu hiện với các triệu chứng như ngứa, viêm âm hộ âm đạo kèm với khí hư màu trắng đặc sệt, tạo thành từng mảng như sữa chua bám vào thành âm đạo. Viêm âm đạo do nấm Candida ảnh hưởng đến 75% phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ [7]. Nguyên nhân là do sự tăng sinh quá mức vi nấm Candida, vốn là một loài nấm men tồn tại trong hệ khuẩn chí bình thường của âm đạo với số lượng rất ít, kết quả gây nên viêm âm đạo. Họ nấm Candida có rất nhiều chủng trong đó thường gặp nhất và là nguyên nhân gây viêm âm đạo phổ biến nhất là Candida albicans, gặp trong 90% các trường hợp viêm âm đạo do nấm. Ngoài ra, một số chủng Candida khác cũng gây viêm âm đạo ở người như C.krusei, C.glabrata, C.tropicalis [5]. Một số yếu tố làm tăng nguy cơ viêm âm đạo do nấm Candida bao gồm mang thai, sử dụng kháng sinh phổ rộng kéo dài, đái tháo đường, suy giảm miễn dịch, sử dụng thuốc tránh thai phối hợp đường uống kéo dài. Trong đó, mang thai và đái tháo đường là hai yếu tố thường gặp, làm dễ cho việc xuất hiện viêm âm đạo do nấm Candida với cùng một cơ chế gây giảm miễn dịch qua trung gian tế bào, làm cho tỷ lệ viêm âm đạo do nấm Candida ở phụ nữ mang thai có thể cao gấp nhiều lần so với phụ nữ bình thường [6], [7], [10]. Ngoài ra, tình trạng mang thai với sự gia tăng các nội tiết tố estrogen và progesteron trong thai kỳ, cũng là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tỷ lệ viêm âm đạo do nấm Candida ở phụ nữ mang thai [3]. Viêm âm đạo do nấm Candida thường gặp hơn ở quý II và quý III của thai kỳ [12]. Việc điều trị là cần thiết cho các trường hợp có triệu chứng lâm sàng. Tuy nhiên, hiện nay tại Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về viêm âm đạo do nấm Candida trong thai kỳ, các yếu tố ảnh hưởng, cũng như kết quả điều trị ở các sản phụ này. Do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm mong muốn góp phần làm rõ thêm tình trạng viêm âm đạo do nấm Candida ở phụ nữ mang thai quý II, III tại Việt Nam, đồng thời tìm hiểu một số yếu tố về thói quen sinh hoạt, tiền sử viêm âm đạo do nấm hay tiền sử sản khoa, phụ khoa có hay không ảnh hưởng đến việc gia tăng tỷ lệ viêm âm đạo do nấm Candida ở các đối tượng, cũng như kết quả sau điều trị ở các sản phụ này. 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Gồm 277 sản phụ mang thai quý II, III, có ra khí hư âm đạo, đồng ý tham gia nghiên cứu, đến khám tại Phòng khám Sản Bệnh viện Đại học Y Dược Huế từ 6/2015-6/2017. Tiêu chuẩn chọn bệnh: - Sản phụ mang thai quý II, III (Sản phụ mang thai từ tuần thứ 14 trở đi). - Có ra khí hư âm đạo. - Bệnh nhân được làm các xét nghiệm: + Xét nghiệm soi tươi dịch âm đạo khi khám lần đầu. Candida. Trong 98 trường hợp viêm âm đạo do nấm Candida, chỉ có 42 bệnh nhân đồng ý cấy nấm. Kết quả cấy nấm cho thấy chủng Candida cấy được chủ yếu là Candida albicans (29/42 trường hợp cấy) chiếm tỷ lệ 69%. Nhận xét: Các triệu chứng lâm sàng chiếm tỷ lệ cao nhất trong các sản phụ thuộc mẫu nghiên cứu là ngứa âm hộ âm đạo, khí hư trắng đặc sệt, viêm âm hộ âm đạo, chiếm tỷ lệ lần lượt 24,9%, 27%, 23,4%. Nhận xét: Các triệu chứng ngứa âm hộ âm đạo, khí hư trắng đặc sệt, viêm âm hộ âm đạo là các triệu chứng có liên quan đến viêm âm đạo do nấm ( p < 0,01). Liên quan giữa các yếu tố về thói quen sinh hoạt, tiền sử phụ khoa viêm âm đạo do nấm Candida, tuổi thai với viêm âm đạo do nấm Candida Nhận xét: Thói quen vệ sinh thụt rửa sâu vào trong âm đạo làm tăng tỷ lệ viêm âm đạo do nấm ( p < 0,01). NGUYỄN NGUYÊN PHƯƠNG, NGUYỄN VŨ QUỐC HUY, NGUYỄN THỊ KIM ANH 96 Tậ p 15 , s ố 03 Th án g 09 -2 01 7 SẢ N K H O A – S Ơ S IN H + Xét nghiệm cấy nấm: nếu xét nghiệm soi tươi dịch âm đạo có nấm men nảy búp, sợi giả. Tiến hành cấy nấm (nếu bệnh nhân đồng ý). + Xét nghiệm soi tươi dịch âm đạo khi tái khám. - Đồng ý tham gia nghiên cứu. Tiêu chuẩn loại trừ: - Có ra máu âm đạo hay vỡ ối. - Có dấu hiệu chuyển dạ. - Nhiễm nấm đang điều trị. - Thụt rửa hay đặt thuốc âm đạo trong vòng 1 tuần trước khi khám. Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu tiến cứu dọc. Các sản phụ được khám và xét nghiệm theo Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ Sức khỏe sinh sản để chẩn đoán viêm âm đạo do nấm Candida [1]. Các trường hợp được chẩn đoán xác định sẽ được điều trị theo Hướng dẫn của Tổ chức y tế thế giới về điều trị viêm âm đạo do nấm Candida ở phụ nữ có thai với thuốc kháng nấm azole (hoặc Metronidazole kết hợp kháng nấm azole nếu có đồng nhiễm vi khuẩn) và hẹn tái khám sau khi hết thuốc từ 1-2 tuần [11]. Khi tái khám, bệnh nhân được đánh giá kết quả điều trị thông qua sự cải thiện về triệu chứng lâm sàng và kết quả soi tươi dịch âm đạo, nếu sau điều trị một đợt không cải thiện tốt, bệnh nhân sẽ được lập lại điều trị và đánh giá kết quả sau đó. Xử lý số liệu: Bằng phần mềm SPSS 16.0. 3. Kết quả Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi có 98/277 bệnh nhân viêm âm đạo do nấm Candida (theo kết quả soi tươi dịch âm đạo) chiếm tỷ lệ 35,4%. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 87/98 trường hợp (88,7%) viêm âm đạo do nấm Candida đơn thuần, 11/98 trường hợp (11,3%) viêm âm đạo do nấm Candida phối hợp với vi khuẩn. Nhận xét: Trong nghiên cứu của chúng tôi, các sản phụ có viêm âm đạo do nấm Candida đươc tư vấn và tiến hành cấy nấm nhằm xác định chủng Kết quả cấy nấm Số lượng Tỷ lệ (%) Candida albicans 29 69 Candida non-albicans 5 11,9 Không mọc 8 19,1 Tổng 42 100 Bảng 1: Tỷ lệ các chủng Candida gây viêm âm đạo theo kết quả cấy nấm Đặc điểm lâm sàng Có Không Tổng n % n % n % Ngứa ÂH-ÂĐ 69 24,9 208 75,1 277 100 Khí hư trắng đặc sệt 75 27 202 73 277 100 Viêm ÂH-ÂĐ 65 23,4 212 76,6 277 100 Bảng 2: Tỷ lệ các triệu chứng lâm sàng thường gặp trong viêm âm đạo do nấm Candida Các triệu chứng thường gặp Mắc bệnh pCó Không Tổng n % n % n % Ngứa âm hộ- âm đạo Có 65 23,5 4 1,4 69 24,9 < 0,01 Không 33 11,9 175 63,2 208 75,1 Khí hư trắng đặc sệt Có 75 27,1 0 0 75 27,1 < 0,01 Không 23 8,3 179 64,6 202 72,9 Viêm Âm hộ- âm đạo Có 65 23,5 0 0 65 23,5 < 0,01 Không 33 11,9 179 64,6 212 76,5 Bảng 3: Mối liên quan giữa các triệu chứng lâm sàng thường gặp và viêm âm đạo do nấm Candida Cách rửa vệ sinh Mắc bệnh pCó Không Tổng n % n % n % Rửa ngoài 78 28,2 170 61,4 248 89,5 p < 0,01Thụt rửa sâu âm đạo 20 7,2 9 3,2 29 10,5 Tổng 98 35,4 179 64,6 277 100 Bảng 4: Mối liên quan giữa viêm âm đạo do nấm Candida và cách rửa vệ sinh Vệ sinh sau tiểu tiện Mắc bệnh pCó Không Tổng n % n % n % Có 44 15,9 169 61 213 76,9 p < 0,01Không 54 19,5 10 3,6 64 23,1 Tổng 98 35,4 179 64,6 277 100 Bảng 5: Mối liên quan giữa viêm âm đạo do nấm và vệ sinh sau tiểu tiện TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 15(03), 94 - 99, 2017 97 Tập 15, số 03 Tháng 09-2017 Nhận xét: Thói quen không vệ sinh sau tiểu tiện làm tăng tỷ lệ viêm âm đạo do nấm (p < 0,01). Nhận xét: Nhóm sản phụ có tiền sử viêm âm đạo do nấm có tỷ lệ viêm âm đạo do nấm Candida cao hơn nhóm không có tiền sử viêm âm đạo do nấm (p < 0,01). Nhận xét: Tỷ lệ viêm âm đạo do nấm ở các sản phụ mang thai quý III cao hơn các sản phụ mang thai quý II (p < 0,01). Kết quả sau một đợt điều trị Nhận xét: Trong 85 trường hợp viêm âm đạo do nấm được điều trị và tái khám theo hẹn, có 72/85 trường hợp không còn triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm soi tươi dịch âm đạo không còn nấm. Tuy nhiên vẫn có một số bệnh nhân có cải thiện về các triệu chứng lâm sàng nhưng kết quả soi tươi dịch âm đạo vẫn còn nấm (12/85 trường hợp). Tiền sử viêm âm đạo do nấm Mắc bệnh pCó Không Tổng n % n % n % Có 63 22,7 15 5,4 78 28,2 p < 0,01Không 35 12,6 164 59,2 199 71,8 Tổng 98 35,4 179 64,6 277 100 Bảng 6:Mối liên quan giữa viêm âm đạo do nấm Candida và tiền sử viêm âm đạo do nấm Candida Quý thai Mắc bệnh pCó Không Tổng n % n % n % Quý II 48 17,3 53 19,1 101 36,5 p< 0,01Quý III 50 18,1 126 45,5 176 63,5 Tổng 98 35,4 179 64,6 277 100 Bảng 7: Liên quan giữa viêm âm đạo do nấm Candida và tuổi thai Kết quả Số lượng Tỷ lệ (%) Khỏi bệnh 72 84,7 Không khỏi bệnh 13 15,3 Tổng 85 100 Bảng 8: Kết quả sau một đợt điều trị viêm âm đạo do nấm Candida Triệu chứng lâm sàng Trước điều trị Tỷ lệ (%) Sau điều trị Tỷ lệ (%) p Ngứa Có 58 68,2 6 7,1 p < 0,01Không 27 31,8 79 92,9 Tổng 85 100 85 100 Khí hư trắng đặc sệt Có 64 75,3 7 8,2 p> 0,05Không 21 24,7 78 91,8 Tổng 85 100 85 100 Viêm âm hộ-âm đạo Có 58 68,2 2 2,3 p> 0,05Không 27 31,8 83 97,7 Tổng 85 100 85 100 Bảng 9: Sự cải thiện các triệu chứng lâm sàng sau một đợt điều trị Nhận xét: Sau một đợt điều trị các triệu chứng lâm sàng cải thiện rõ so với trước điều trị. Triệu chứng ngứa âm hộ, âm đạo cải thiện có ý nghĩa ( p < 0,01). Trong khi các triệu chứng còn lại gồm khí hư trắng đặc sệt và viêm âm hộ âm đạo cải thiện chưa có ý nghĩa ( p > 0,05). Nhận xét: Nhóm các sản phụ có tiền sử viêm âm đạo do nấm có tỷ lệ khỏi bệnh sau một đợt điều trị thấp hơn nhóm các sản phụ không có tiền sử viêm âm đạo do nấm ( p < 0,01). 4. Bàn luận Đặc điểm của mẫu nghiên cứu: Kết quả nghiên cứu trên 277 sản phụ mang thai quý II và III cho thấy tỷ lệ viêm âm đạo do nấm Candida là 35,4%. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương đồng với nghiên cứu của Yadav cho thấy tỷ lệ viêm âm đạo do nấm Candida ở phụ nữ mang thai là 35% và theo nghiên cứu của Rasti tỷ lệ này là 32,7% [12], [9]. Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi, có 88,7% viêm âm đạo do nấm Candida đơn thuần, 11,3% viêm âm đạo do nấm Candida phối hợp với vi khuẩn. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương đồng với nghiên cứu của Lê Thị Hải Yến trên 174 phụ nữ mang thai 3 tháng cuối với các trường hợp nhiễm nấm đơn thuần chiếm 86,7%, nhiễm nấm phối hợp vi khuẩn chiếm 11,7% [2]. Kết quả của nghiên cứu của chúng tôi cho thấy chủng Candida cấy được phần lớn là Candida albicans (69%). Kết quả này cũng tương đồng với nghiên cứu của Nelson với kết quả cấy nấm cũng cho thấy nấm Candida albicans chiếm chủ yếu với tỷ lệ 63,83%, một nghiên cứu khác của Yadav tỷ lệ cấy được Candida albicans 64,04% [8], [12]. Trong nghiên cứu của chúng tôi, các triệu chứng thường gặp trong viêm âm đạo do nấm Candida là ngứa âm hộ âm đạo (24,9%), viêm âm hộ âm đạo (23,4%), khí hư trắng đặc sệt Kết quả điều trị Tiền sử viêm âm đạo do nấm pCó Không Tổng n % n % n % Khỏi bệnh 43 50,6 29 34,1 72 84,7 p< 0,01Không khỏi bệnh 13 15,3 0 0 13 15,3 Tổng 56 65,9 29 34,1 85 100 Bảng 10: Mối liên quan giữa kết quả sau một đợt điều trị viêm âm đạo do nấm Candida và tiền sử điều trị viêm âm đạo do nấm NGUYỄN NGUYÊN PHƯƠNG, NGUYỄN VŨ QUỐC HUY, NGUYỄN THỊ KIM ANH 98 Tậ p 15 , s ố 03 Th án g 09 -2 01 7 SẢ N K H O A – S Ơ S IN H (27%). Kết quả này cũng tương tự với nghiên cứu của Lê Thị Hải Yến với các triệu chứng chính của viêm âm đạo do nấm Candida trong mẫu nghiên cứu gồm ngứa âm hộ âm đạo, khí hư dạng bột như sữa đông và viêm âm hộ âm đạo [2]. Các triệu chứng này chiếm tỷ lệ cao và xuất hiện nhiều ở các bệnh nhân viêm âm đạo do nấm Candida, điều này cũng phù hợp với y văn [4], [6], [7]. Trong nghiên cứu của chúng tôi, các triệu chứng thường gặp bao gồm viêm âm hộ âm đạo, khí hư trắng đặc sệt và viêm âm hộ âm đạo có liên quan đến viêm âm đạo do nấm Candida (p < 0,01). Kết quả này cũng tương đồng với nghiên cứu của Lê Thị Hải Yến cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa giữa các triệu chứng lâm sàng viêm âm hộ âm đạo, khí hư dạng bột sữa đông, viêm âm hộ âm đạo với tình trạng viêm âm đạo do nấm Candida [2]. Liên quan giữa các yếu tố về thói quen sinh hoạt, tiền sử phụ khoa viêm âm đạo do nấm Candida, tuổi thai với viêm âm đạo do nấm Candida Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nhóm các sản phụ có thói quen thụt rửa sâu vào trong âm đạo khi vệ sinh, không vệ sinh sau tiểu tiện có tỷ lệ mắc viêm âm đạo do nấm Candida cao hơn nhóm sản phụ còn lại (p < 0,01). Kết quả này cũng tương đồng với nghiên cứu của Lê Thị Hải Yến với các sản phụ có thói quen rửa vệ sinh âm hộ âm đạo bằng thụt sâu vào trong âm đạo ( p > 0,05), không vệ sinh sau tiểu tiện ( p < 0,01) có chiều hướng làm gia tăng tỷ lệ viêm âm đạo do nấm Candida ở các sản phụ này so với nhóm còn lại [2]. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nhóm các sản phụ có tiền sử viêm âm đạo do nấm Candida có tỷ lệ viêm âm đạo do nấm Candida cao hơn nhóm sản phụ không có tiền sử viêm âm đạo do nấm Candida ( p < 0,01). Kết quả này tương tự với nghiên cứu của Lê Thị Hải Yến với các sản phụ có tiền sử viêm đạo do nấm trước đó có tỷ lệ viêm âm đạo do nấm Candida trong thai kỳ cao hơn nhóm sản phụ còn lại ( p < 0,05) [2]. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy viêm âm đạo do nấm Candida thường gặp hơn ở quý III thai kỳ, trong các sản phụ mắc viêm âm đạo do nấm Candida, các phụ nữ mang thai quý III chiếm 51%, các phụ nữ mang thai quý II chiếm 49 %, tỷ lệ viêm âm đạo do nấm Candida ở nhóm sản phụ quý III cao hơn so với nhóm sản phụ quý II có ý nghĩa (p < 0,01). Kết quả này cũng tương đồng với nghiên cứu của Nelson với tỷ lệ phụ nữ mang thai viêm âm đạo do nấm Candida trong thai kỳ, sản phụ mang thai quý III chiếm 68,9%, sản phụ mang thai quý II chiếm 21,28% ( p < 0,01) [8]. Kết quả điều trị: Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có 84,7% trường hợp cải thiện sau một đợt điều trị, không còn các triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm soi tươi dịch âm đạo tái khám không có nấm. Các triệu chứng lâm sàng thường gặp cải thiện nhanh sau một đợt điều trị. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy các sản phụ có tiền sử viêm âm đạo do nấm trước đó tỷ lệ đáp ứng điều trị thấp hơn so với nhóm sản phụ không có tiền sử viêm âm đạo do nấm trước đó ( p < 0,01). Tình trạng mang thai là yếu tố làm dễ cho viêm âm đạo do nấm Candida ở phụ nữ mang thai, viêm âm đạo do nấm Candida không thể điều trị khỏi hoàn toàn trong thai kỳ và rất dễ tái phát, do đó, bác sĩ chuyên khoa cần tư vấn và giải thích cho bệnh nhân, giúp cho bệnh nhân hiểu được các đặc điểm của viêm âm đạo do nấm Candida trong thai kỳ, tầm quan trọng của việc tuân thủ điều trị, nhằm giúp quá trình điều trị đạt hiệu quả, tránh các biến chứng như ối vỡ non, viêm màng ối và mang lại một thai kỳ an toàn cho mẹ và thai . 5. Kết luận Tỷ lệ viêm âm đạo do nấm Candida ở các sản phụ quý II, III trong nghiên cứu là 35,4%. Tỷ lệ viêm âm đạo do nấm Candida đơn thuần là 88,7%, viêm âm đạo do nấm Candida phối hợp với vi khuẩn là 11,3%. Kết quả cấy nấm cho thấy Candida albicans chiếm chủ yếu với 69%. Các triệu chứng lâm sàng thường gặp là ngứa âm hộ âm đạo, khí hư đặc sệt như sữa chua, viêm âm hộ âm đạo, các triệu chứng này liên quan với viêm âm đạo do nấm Candida ( p < 0,01) Nhóm các sản phụ có thói quen rửa vệ sinh thụt sâu vào âm đạo, không vệ sinh sau tiểu tiện có tỷ lệ viêm âm đạo do nấm Candida cao hơn nhóm các sản phụ không có các thói quen trên ( p TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 15(03), 94 - 99, 2017 99 Tập 15, số 03 Tháng 09-2017 < 0,01). Các sản phụ có tiền sử viêm âm đạo do nấm có tỷ lệ viêm âm đạo do nấm Candida trong thai kỳ cao hơn các sản phụ không có tiền sử viêm âm đạo do nấm Candida trước đó ( p < 0,01). Tỷ lệ viêm âm đạo do nấm Candida ở các sản phụ mang thai quý III cao hơn ở các sản phụ mang thai quý II (p < 0,01). Tỷ lệ khỏi bệnh sau một đợt điều trị viêm âm đạo do nấm Candida 84,7%. Các triệu chứng lâm sàng không còn xuất hiện sau một đợt điều trị. Các sản phụ có tiền sử viêm âm đạo do nấm tỷ lệ khỏi bệnh sau điều trị thấp hơn nhóm các sản phụ không có tiền sử viêm âm đạo do nấm (p < 0,01). Tài liệu tham khảo 1. Bộ Y Tế (2009), “ Hội chứng tiết dịch âm đạo”, Hướng Dẫn Quốc Gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, tr.322-324. 2. Lê Thị Hải Yến (2007), “ Nghiên cứu tình hình nhiễm nấm Candida albicans ở phụ nữ mang thai vào ba tháng cuối của thai kỳ và đánh giá kết quả điều trị tại Bệnh viện trung ương Huế”, Luận văn thạc sĩ y học, Trường Đại học Y Dược Huế. 3. Altayyar I. A., Alsanosi A. S., Osman N. A. (2016), “Prevalence of vaginal Candidiasis among pregnant women attending different gynecological clinic at South Libya”, European Journal of Experimental Biology, 6(3), pp.25–29. 4. Daniels D. (1999), “National guideline for the management of vulvovaginal candidiasis”, Sex Trans Inf, pp.1–5. 5. DeCherney A. H., Nathan L. (2003), “Benign and Disorder of the vulva and vagina”, Current Obstetric & Gynecologic Diagnosis and Treatment, pp.651-676. 6. Cunningham F. G. (2014), “Vagina and perinium”, Williams Obstetrics, pp.293-295, 24th edition. 7. Berek J. S. (2011), “Vaginal Candidiasis”, Berek and Novak’s Gynecology, pp.543-547, 15th edition, Mc graw hills. 8. Nelson M., Wanjiru W., Margaret M. W. (2013), “ Prevalence of Vaginal Candidiasis and Determination of the Occurrence of Candida Species in Pregnant Women Attending the Antenatal Clinic of Thika”, Open Journal of Medical Microbiology, 3, pp.264–272. 9. Rasti S., Asadi M. A., Taghriri A., Behrashi M., Mousavie G. (2014), “Vaginal candidiasis complications on pregnant women”, Jundishapur Journal of Microbiology, 7(2), pp.10–12. 10. Soong D., Einarson A. (2009), “Vaginal yeast infections during pregnancy”, Canadian Family Physician, 55(3), pp.255–256. 11. WHO (2001), “Vulvovaginal candidiasis in pregnancy”, Guideline for management of Sexually transmitted infections, pp.54-55. 12. Yadav K., Prakash S. (2016), “ Prevalence of Vulvovaginal Candidiasis in Pregnancy”, Gobal Journal of Medicine and Medical Science, 4(1), pp.108–116.
File đính kèm:
viem_am_dao_do_nam_candida_trong_thai_ky_cac_yeu_to_anh_huon.pdf

