Vạt chong chóng: chất liệu linh hoạt trong tạo hình khuyết hổng phần mềm
Đặt vấn đề: Tạo hình che phủ tổn khuyết phần mềm có lộ gân, xương hoặc những
vị trí tỳ đè cần một vạt tổ chức có sức sống tốt và dày dặn. Nghiên cứu nhận xét kết
quả bước đầu sử dụng vạt chong chóng với cuống mạch là nhánh xuyên nuôi da.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả 7 bệnh nhân (BN) khuyết hổng
phần mềm được phẫu thuật che phủ bằng vạt chong chóng.
Kết quả: 7 BN nam, tuổi từ 12 đên 37. 3 BN khuyết phần mềm cổ bàn tay, 2 BN
khuyết hổng phần mềm vùng cổ chân, 1 BN khuyết hổng phần mềm 1/3 trên cẳng
chân, 1 BN khuyết phần mềm mu ngón II bàn tay. Kích thước vạt lớn nhất 5 x
20cm và nhỏ nhất là 1,5 x 6cm. Góc xoay vạt từ 100° đến 180°. Kết quả gần 5/7
vạt sống tốt, 2/7 vạt ứ máu tĩnh mạch một phần. Kết quả xa 5/7 vạt cho kết quả tốt
và 2/7 vạt cho kết quả khá.
Kết luận: Vạt chong chóng là một dạng sử dụng của vạt mạch xuyên, đây là một
chất liệu tạo hình phủ có sức sống tốt, rất linh hoạt về kích thước, góc xoay và có
thể áp dụng được ở nhiều vị trí trên cơ thể.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Vạt chong chóng: chất liệu linh hoạt trong tạo hình khuyết hổng phần mềm
Phần 4: Phẫu thuật vi phẫu 301 Trần Xuân Thạch Bùi Mai Anh Đào Văn Giang Nguyễn Thị Thu Hằng Nguyễn Hồng Hà Khoa PT Tạo hình - Hàm mặt Bệnh viện hữu nghị Việt Đức Tran Xuan Thach Bui Mai Anh Dao Van Giang Nguyen Thi Thu Hang Nguyen Hong Ha VẠT CHONG CHÓNG: CHẤT LIỆU LINH HOẠT TRONG TẠO HÌNH KHUYẾT HỔNG PHẦN MỀM PROPELLER FLAP: A MATERIAL VERSATILITY IN RECONSTRUCTION OF TISSUE DEFECTs. CASE SERIES SUMMERY TÓM TẮT Đặt vấn đề: Tạo hình che phủ tổn khuyết phần mềm có lộ gân, xương hoặc những vị trí tỳ đè cần một vạt tổ chức có sức sống tốt và dày dặn. Nghiên cứu nhận xét kết quả bước đầu sử dụng vạt chong chóng với cuống mạch là nhánh xuyên nuôi da. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả 7 bệnh nhân (BN) khuyết hổng phần mềm được phẫu thuật che phủ bằng vạt chong chóng. Kết quả: 7 BN nam, tuổi từ 12 đên 37. 3 BN khuyết phần mềm cổ bàn tay, 2 BN khuyết hổng phần mềm vùng cổ chân, 1 BN khuyết hổng phần mềm 1/3 trên cẳng chân, 1 BN khuyết phần mềm mu ngón II bàn tay. Kích thước vạt lớn nhất 5 x 20cm và nhỏ nhất là 1,5 x 6cm. Góc xoay vạt từ 100° đến 180°. Kết quả gần 5/7 vạt sống tốt, 2/7 vạt ứ máu tĩnh mạch một phần. Kết quả xa 5/7 vạt cho kết quả tốt và 2/7 vạt cho kết quả khá. Kết luận: Vạt chong chóng là một dạng sử dụng của vạt mạch xuyên, đây là một chất liệu tạo hình phủ có sức sống tốt, rất linh hoạt về kích thước, góc xoay và có thể áp dụng được ở nhiều vị trí trên cơ thể. Từ khóa: Vạt chong chóng, vạt mạch xuyên. ABTRACT Introduction: To reconstruct the tissue defects with exposure tendon, bone and the weight-baring positions, usually required a good vitality and thick skin flaps. In study, we use propeller-type flap with perforator pedicle. Material and method: Prospective study 5 patients with tissue defect. Which were reconstructed by propeller flap. Results: All 7 patients are male, from 12 to 42 years old. 3 patients with tissue defects in hand, 2 patients with tissue defects in ankle,1 patient with tissue defect in 1/3 upper leg, 1 patient with tissue defect in finger. Flaps size from 1,5x6cm to 5x20cm. Angle of rotation from 100º to 180º. Recent results 5/7 flaps are total survival, partial flap with venous congestion in 2/7 flap. Longterm results, 5/7 flaps are good and 2/7 flaps are decent result. Conclusion: Propeller perforator flap is a cover reconstructive material which is good vitality, versatility in size, angle of rotation and the ability to apply in many defferent body regions. Key words: Propeller flap, perforator flap. TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2016 302 ĐẶT VẤN ĐỀ Khuyết da và tổ chức phần mềm là những thương tổn thường gặp do nhiều nguyên nhân khác nhau như chấn thương, sau phẫu thuật cắt bỏ các thương tổn của da (khối u, sẹo bỏng...). Theo bậc thang tạo hình, những tổn thương này có nhiều phương pháp để che phủ đơn giản nhất là ghép da. Tuy nhiên với những thương tổn có lộ gân, xương, mạch máu, thần kình hoặc những vị trí tỳ đè tốt nhất cần một vạt da dày dặn, được cấp máu tốt để che phủ. Có nhiều vạt có thể sử dụng nhưng những vạt lân cận được ưu tiên nhiều hơn. Vạt chong chóng là một loại vạt lân cận, được cấp máu bởi nhánh mạch xuyên cấp máu cho da. Được sử dụng lần đầu tiên bởi Hyakusoku và cộng sự năm 1991 [1], tác giả mô tả vạt da mỡ được nuôi bởi cuống dưới da ở trung tâm và chỉ xoay được một góc là 90º. Năm 2006, Hallock báo cáo sử dụng một vạt da tương tự như vạt da của Hyakusoku đã mô tả nhưng được cấp máu bởi nhánh mạch xuyên da chính và vạt được xoay 180º để che phủ tổn khuyết [2]. Teo (2006) là người có đóng góp lớn nhất trong việc đưa ra kỹ thuật và áp dụng của vạt chong chóng [3]. Năm 2009, tại hội nghị đầu tiên về vạt mạch xuyên và vạt chong chóng ở Tokyo đã đưa định nghĩa và phân loại cho vạt chong chóng. Ở Việt Nam, theo chúng tôi được biết đã có một số tác giả đã sử dụng vạt chong chóng nhưng chưa thấy có báo cáo nào trong các tạp chí chuyên ngành. Trong nghiên cứu này, chúng tôi báo cáo 7 trường hợp sử dụng vạt chong chóng điều trị khuyết hổng phần mềm ở cẳng bàn tay và cổ chân, bàn luận về chỉ định, kỹ thuật, các biến chứng thường gặp và khả năng áp dụng linh hoạt của vạt chong chóng. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP Nghiên cứu mô tả 7 BN trong đó có 2 BN khuyết hổng phần mềm vùng cổ chân, 2 BN khuyết hổng phần mềm vùng cổ bàn tay,1 BN sau cắt bỏ sẹo vùng cổ tay, 1 BN khuyết hổng phần mềm 1/3 trên cẳng chân và 1 BN khuyết phần mềm mu ngón II bàn tay. Các BN được phẫu thuật che phủ bằng vạt chong chóng từ tháng 02/2015 đến tháng 07/2012. Các BN được khám, đánh giá tổn thương: xác định kích thước, vị trí, tổn thương có lộ gân, xương để quyết định sử dụng vạt. Tất cả các BN đều được siêu âm doppler cầm tay: xác định vị trí, số lượng các nhánh mạch xuyên xung quang vùng tổn khuyết và thiết kế vạt, xác định nhánh xuyên sẽ lấy làm cuống mạch chính nuôi vạt. Quy trình phẫu thuật: Vô cảm dưới gây mê toàn thân hoặc tê tủy sống. Rạch da một bên vạt thiết kế và phẫu tích xác định các mạch xuyên nuôi da, tiếp tục phẫu tích và nâng vạt khỏi nền và giữ cuống mạch. Xoay vạt quanh cuống mạch nuôi che phủ khuyết và ghép da phần thiếu da. Có thể nối thêm động mạch hoặc tĩnh mạch bằng kỹ thuật vi phẫu bổ sung để tăng dẫn lưu hoặc tăng cấp máu cho vạt. Đánh giá kết quả: ♦ Kết quả gần: Kết quả tốt: Vạt sống tốt hoàn toàn, vết mổ liền tốt, da ghép sống hoàn toàn; Kết quả khá: Một phần vạt xung huyết, bong thượng bì. Vết mổ liền kỳ đầu, da ghép sống tốt; Kết quả xấu: Vạt hoại tử hoàn toàn ♦ Kết quả xa: Kết quả tốt: Vạt sống hoàn toàn, chức năng chi thể được bảo tồn; Kết quả khá: Vạt sống hoàn toàn, sẹo co kéo, chức năng chi thể giảm ít; Kết quả xấu: Vạt hoại tử, ghép da thì hai để lại sẹo co kéo, giảm chức năng. KẾT QUẢ Tất cả 7 BN đều là là nam giới, tuổi từ 12 đến 42. Thời gian theo dõi ít nhất là 1 tháng, lâu nhất là 14 tháng. Bảng tổng hợp kết quả BN Tuổi Vị trí tổn thương Đặc điểm Tổn thương Vị trí cuống mạch Kích thước vạt (cm) Góc xoay Biến chứng Kết quả Nam 12 Cổ tay Lộ xương Trung tâm 4 x 18 180º Không Tốt Nam 17 Cổ tay Vị trí tỳ đè Trung tâm 4 x 20 180º Ứ máu TM Khá Nam 42 Cổ tay Sẹo co kéo Trung tâm 5 x 20 180º Ứ máu TM Khá Phần 4: Phẫu thuật vi phẫu 303 Nam 37 Cổ chân Lộ xương Rìa vạt 4 x 12 160º Không Tốt Nam 23 Cổ chân Lộ gân Achille Rìa vạt 4 x 8 100º Không Tốt Nam 13 1/3 trên cẳng chân Lộ xương Rìa vạt, có nối TM vi phẫu 8 x 10 180º Không Tốt Nam 21 Ngón tay Lộ gân Trung tâm 1,5 x 6 160 Không Tốt Trong 7 vạt có 2 vạt là nhánh xuyên của động mạch trụ, 1 vạt là nhánh xuyên của động mạch quay, 1 vạt là nhánh xuyên của động mạch chày trước, 1 vạt là nhánh xuyên của động mạch mác, 1 vạt là nhánh xuyên kẽ ngón II, III bàn tay và một vạt là vạt đùi trước ngoài ngược dòng có nối thêm tĩnh mạch của mạch xuyên bằng kỹ thuật vi phẫu. Có 4 vạt sử dụng cuống trung tâm, 2 vạt cuống không trung tâm và 1 vạt cuống rìa có nối tĩnh mạch của cuống mạch xuyên. Góc xoay của vạt: 4 vạt xoay 180º, 2 vạt xoay 160º và 1 vạt xoay 100º. BÀN LUẬN Trong những năm gần đây, vạt chong chóng đã trở thành vạt được ưu tiên lựa chọn sử dụng để che phủ các khuyết hổng phần mềm. Hội nghị đầu tiên về vạt mạch xuyên và vạt chong chóng ở Tokyo năm 2009 đã đưa ra định nghĩa cho vạt chong chóng [4]. Vạt chong chóng hay vạt cánh quạt là một vạt đảo được chuyển đến nơi nhận khi xoay quanh một trục và trục này chính là cuống mạch nuôi của vạt. Sử dụng vạt chong chóng có nhiều ưu điểm [3,5] Đây là một vạt đảo tại chỗ nên việc thiết kế rất đa dạng và dễ dàng cả về kích thước và khối lượng vạt. Có thể lựa chọn ở bất kỳ nơi nào trên cơ thể nhờ vào tín hiệu siêu âm doppler của nhánh mạch xuyên. Vạt có thể nhanh chóng chuyển thành vạt tự do và mở rộng thêm để che phủ các khuyết hổng phức tạp. Việc phẫu tích dễ dàng và nhanh chóng. Nơi cho vạt bị ảnh hưởng rất ít, tránh hy sinh lớn về mặt giải phẫu, đặc biệt là các mạch máu lớn. Cũng tại hội nghị về vạt mạch xuyên và vạt chong chóng ở Tokyo 2009, theo đồng thuận Gent [6], vạt chong chóng được phân loại thành ba loại dựa vào mạch nuôi trong cuống nuôi của vạt. Loại 1: Vạt ngẫu nhiên cuống dưới da, cho phép quay tối đa 90º. Loại 2: Vạt chong chóng dựa trên cuống mạch nuôi là nhánh mạch xuyên. Đây là loại được sử dụng phổ biến. Vạt có thể xoay 180º. Loại 3: Vạt chong chóng có nối vi phẫu tĩnh mạch nông hoặc tĩnh mạch tùy hành của động mạch xuyên với tĩnh mạch nơi nhận hoặc có nối vi phẫu một động mạch xuyên thứ 2 của vạt với một động mạch khác của nơi nhận để tăng dẫn lưu máu hoặc tăng cấp máu cho vạt. Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 6 vạt thuộc loại 2. 1 vạt thuộc loại 3, vạt này chính là vạt đùi trước ngoài ngược dòng, chúng tôi có nối thêm tĩnh mạch của mạch xuyên để tăng dẫn lưu máu cho vạt tránh tình trạng ứ máu tĩnh mạch. TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2016 304 BN: Lò Văn S. 12 tuổi Tính linh hoạt của vạt được thể hiện ở sự đa dạng về kích thước vạt được lấy, góc xoay của vạt và vị trí lấy vạt. Về kích thước vạt, chúng ta có thể thiết kế và lấy vạt theo kích thước tổn thương, không phụ thuộc chiều dài/chiều rộng vạt. Khác với các loại vạt ngẫu nhiên khác phải tuân thủ chiều dài/chiều rộng là 3/1 hay 2/1. Mối quan tâm chính là nơi cho vạt có thể đóng được hay không, chứ không phải là mối quan tâm đến sự cấp máu cho vạt [6]. Nếu việc cấp máu hay dẫn lưu máu không đủ thì cần thiết nối thêm động mạch xuyên thứ hai của vạt hoặc tĩnh mạch nông hoặc tĩnh mạch tùy hành của mạch xuyên. Trong báo cáo này, các vạt chong chóng chúng tôi thu được có rất nhiều kích thước nhỏ nhất là 1,5 x 6cm, lớn nhất 5 x 20cm. Trong đó có 1 vạt lấy với kích thước 8 x 10cm và có nối thêm tĩnh mạch đi kèm nhánh xuyên thứ hai của vạt. Theo Hyakusoku và cộng sự [7], vạt chong chóng cuống nuôi là mạch xuyên được chia là hai loại dựa vào vị trí của nhánh mạch xuyên so với vạt da. Loại cuống trung tâm: cuống mạch nằm ở trung tâm của vạt, loại vạt này có thê xoay 90º, áp dụng để che phủ hoặc tạo hình các sẹo co kéo. Loại cuống không trung tâm: cuống mạch nằm ở vùng rìa của vạt da, loại vạt này có thể xoay 180º, áp dụng để che phủ khuyết da ở vùng xa. Việc thiết kế cuống trung tâm hay không phải trung tâm dựa vào tín hiệu mạch xuyên từ siêu âm doppler cầm tay trước mổ. Trong nghiên cứu của chúng tôi có 3 vạt cuống trung tâm được lấy ở cẳng tay, 1 vạt cuống trung tâm lấy ở mu tay, 2 vạt cuống không trung tâm lấy ở cổ chân và 1 vạt cuống rìa có nối tĩnh mạch dẫn lưu. Về sức sống của các dạng cuống nuôi này không có sự khác biệt, chúng tôi thiết kế vạt như vậy để thuận lợi cho xoay vạt che phủ khuyết. Trước phẫu thuật bệnh nhân luôn được siêu âm doppler khảo sát tất cả các nhánh mạch xuyên ở vùng da lựa chọn để thiết kế vạt. Nếu mạch xuyên hằng định và đã được biết thì việc thiết kế vạt rất dễ dàng. Trong một số trường hợp, BN cần được chụp mạch để xác định các mạch chính cấp máu cho vùng da cần lấy, đặc biệt rất quan trọng ở những BN chấn thương vì mạch máu có thể bị tổn thương hoặc trong trường hợp cần tìm mạch để nối thêm tĩnh mạch hoặc động mạch cho vạt. Trong nghiên cứu của chúng tôi có 1 trường hợp phải chụp mạch để xác định động mạch mũ đùi ngoài, vòng nối quanh gối và động mạch chày trước. Sau khi xác định các mạch thông tốt, BN đã được mổ lấy vạt đùi trước ngoài ngược dòng lấy thêm cơ quay 180º xuống che phủ khuyết da lộ đầu trên xương mác, đồng thời nối thêm Phần 4: Phẫu thuật vi phẫu 305 tĩnh mạch của cuống vạt vào tĩnh mạch tùy hành của động mạch chày trước để dẫn lưu máu về. Về kỹ thuật phẫu tích: đường rạch da một bên vạt thiết kế và bảo tồn tất cả các mạch xuyên đã được tìm thấy trước mổ nhờ siêu âm doppler. Đường mổ phải đủ rộng để có thể phẫu tích, tìm và bộc lộ các mạch xuyên rõ ràng. Đánh giá sự cấp máu cho vạt của các nhánh mạch xuyên này và lựa chọn mạch xuyên nào để làm cuống nuôi cho vạt dựa vào: độ đập mạnh của mạch, hướng của cuống mạch, kích thước và số lượng tĩnh mạch đi kèm, gần tổn thương hoặc gần một dây thần kinh cảm giác đi cùng cuống mạch (Các mạch xuyên lớn nhất thường đi kèm các thần kinh cảm giác) [8]. Trong trường hợp nhánh mạch xuyên lựa chọn trước đó không đảm bảo, ta có thể chuyển phương án dùng một trong các nhánh mạch xuyên khác và thiết kế lại đảo da để xoay hợp lý hơn (phương án B). Cần phẫu tích cuống càng sâu càng tốt để khi xoay, cuống mạch không bị xoắn vặn, theo S. D’Arpa và cộng sự [6,8], nếu đường kính mạch xuyên 1mm thì cuống cần phẫu tích dài 3cm và càng ít động chạm vào cuống mạch xuyên càng tốt để tránh sự co thắt của mạch [5,8]. Trước khi khâu đóng vạt che phủ tổn khuyết, vạt cần được kiểm tra kỹ về cấp máu, độ xoắn vặn của cuống mạch và chờ đợi khoảng 20 phút tránh co thắt. Trong trường hợp không có xoắn vặn mà còn co thắt, không nên xoay chuyển vạt ngay mà để nguyên vạt tại chỗ chờ vài ngày sau đó mới chuyển đến để che phủ tổn khuyết. Tất cả các BN trong nghiên cứu của chúng tôi đều không có hiện tượng xoắn vặn cuống hoặc co thắt mạch nên chúng tôi đều khâu đóng một thì. Ứ máu do tắc nghẽn tĩnh mạch là biến chứng thường gặp nhất của vạt chong chóng vì tĩnh mạch dễ bị xoắn hơn động mạch và cần theo dõi sau mổ [6,8]. Một số ít tiến triển làm hoại tử tổ chức nông của vạt nhưng phần sâu của vạt thường vẫn sống. Biện pháp xử trí ứ máu tĩnh mạch: nếu nhẹ có thể dùng đỉa để hút máu, nếu nặng biện pháp tốt nhất là thăm dò lại và nối thêm tĩnh mạch dẫn lưu cho vạt. Trong nghiên cứu của chúng tôi có hai trường hợp bị ứ máu tĩnh mạch một phần đầu xa của vạt, chúng tôi theo dõi trong vài ngay nhưng không lan rộng thêm và phần ứ máu chỉ bị bong hoại tử thượng bì nên chúng tôi không cần xử trí gì thêm và kết quả xa tốt. Nguyên nhân có thể do xoắn vặn tĩnh mạch và độ xoay của vạt tối đa 180º. Một trường hợp chúng tôi chủ động nối tĩnh mạch để dẫn lưu máu về tránh tình trạng ứ máu. Hoại tử hoàn toàn vạt rất hiếm khi xảy ra, theo S. D’Arpa [5,8], hoại tử một phần vạt chỉ xảy ra ở 5% số trường hợp và thường ở một phần nông của da. Phần dưới da sống có thể ghép da và cho kết quả tốt. Trong nghiên cứu của chúng tôi không gặp trường hợp nào bị hoại tử một phần vạt da. KẾT LUẬN Vạt chong chóng với cuống vạt là nhánh mạch xuyên cấp máu cho da là một chất liệu tạo hình rất linh hoạt về kích thước, góc xoay của vạt. Có thể áp dụng được ở nhiều vị trí trên cơ thể nếu có thể xác định được một mạch xuyên nuôi da để làm cuống mạch. Kỹ thuật bóc vạt không quá khó khăn và vạt có nhiều ưu điểm trong tạo hình che phủ khuyết hổng phần mềm đặc biệt là ở chi thể có lộ gân, xương hoặc những vị trí tỳ đè. Tài liệu tham khảo 1. H. Hyakusoku, T. Yamamoto, and M. Fumiiri, “The propeller flap method,” British Journal of Plastic Surgery,vol.44, no.1,pp.53–54, 1991. 2. G. G. Hallock, “The propeller flap version of the adductor muscle perforator flap for coverage of ischial or trochanteric pressure sores,” Annals of Plastic Surgery,vol.56, no.5,pp.540–542, 2006. 3. T.C.Teo,“Perforator local flaps in lower limb reconstruction,” Cirugia Plastica Ibero-Latinoamericana, vol.32, no.4, pp.15–292, 2006. 4. M.Pignatti, R.Ogawa, G.G.Hallock et al.,“The “Tokyo” con-sensus on propeller flaps,” Plastic and Reconstructive Surgery, vol. 127, no. 2, pp. 716–722, 2011. 5. S. D’Arpa, A. Cordova, M. Pignatti, and F. Moschella, “Freestyle pedicled perforator flaps: safety, prevention of complications and management based on 85 consecutive cases,”Plastic and Reconstructive Surgery, vol.128, no.4, pp.892–906,2011. 6. P. N. Blondeel, K. H. I. Van Landuyt, S. J. M. Monstreyetal, “The“Gent” consensus on perforator flap terminology: preliminary definitions,”Plastic and Reconstructive Surgery, vol.112, no.5, pp.1378–1382,2003 7. H. Hyakusoku et al, “The perforator pedicle propeller (PPP) flap method: A report of two cases”. J Nippon Med Schl 2007; 74(5). 8. S. D’Arpa et al, “Propeller Flaps: A Review of Indications, Technique, and Results”. BioMed Research International.
File đính kèm:
vat_chong_chong_chat_lieu_linh_hoat_trong_tao_hinh_khuyet_ho.pdf

