Vạt chong chóng: chất liệu linh hoạt trong tạo hình khuyết hổng phần mềm

Đặt vấn đề: Tạo hình che phủ tổn khuyết phần mềm có lộ gân, xương hoặc những

vị trí tỳ đè cần một vạt tổ chức có sức sống tốt và dày dặn. Nghiên cứu nhận xét kết

quả bước đầu sử dụng vạt chong chóng với cuống mạch là nhánh xuyên nuôi da.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả 7 bệnh nhân (BN) khuyết hổng

phần mềm được phẫu thuật che phủ bằng vạt chong chóng.

Kết quả: 7 BN nam, tuổi từ 12 đên 37. 3 BN khuyết phần mềm cổ bàn tay, 2 BN

khuyết hổng phần mềm vùng cổ chân, 1 BN khuyết hổng phần mềm 1/3 trên cẳng

chân, 1 BN khuyết phần mềm mu ngón II bàn tay. Kích thước vạt lớn nhất 5 x

20cm và nhỏ nhất là 1,5 x 6cm. Góc xoay vạt từ 100° đến 180°. Kết quả gần 5/7

vạt sống tốt, 2/7 vạt ứ máu tĩnh mạch một phần. Kết quả xa 5/7 vạt cho kết quả tốt

và 2/7 vạt cho kết quả khá.

Kết luận: Vạt chong chóng là một dạng sử dụng của vạt mạch xuyên, đây là một

chất liệu tạo hình phủ có sức sống tốt, rất linh hoạt về kích thước, góc xoay và có

thể áp dụng được ở nhiều vị trí trên cơ thể.

pdf 5 trang phuongnguyen 220
Bạn đang xem tài liệu "Vạt chong chóng: chất liệu linh hoạt trong tạo hình khuyết hổng phần mềm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Vạt chong chóng: chất liệu linh hoạt trong tạo hình khuyết hổng phần mềm

Vạt chong chóng: chất liệu linh hoạt trong tạo hình khuyết hổng phần mềm
Phần 4: Phẫu thuật vi phẫu
301
Trần Xuân Thạch 
Bùi Mai Anh 
 Đào Văn Giang 
Nguyễn Thị Thu Hằng 
Nguyễn Hồng Hà
Khoa PT Tạo hình - Hàm mặt 
Bệnh viện hữu nghị Việt Đức
Tran Xuan Thach
Bui Mai Anh
Dao Van Giang 
Nguyen Thi Thu Hang 
Nguyen Hong Ha
VẠT CHONG CHÓNG: CHẤT LIỆU LINH HOẠT 
TRONG TẠO HÌNH KHUYẾT HỔNG PHẦN MỀM 
PROPELLER FLAP: A MATERIAL VERSATILITY
IN RECONSTRUCTION OF TISSUE DEFECTs. CASE 
SERIES SUMMERY
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Tạo hình che phủ tổn khuyết phần mềm có lộ gân, xương hoặc những 
vị trí tỳ đè cần một vạt tổ chức có sức sống tốt và dày dặn. Nghiên cứu nhận xét kết 
quả bước đầu sử dụng vạt chong chóng với cuống mạch là nhánh xuyên nuôi da. 
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả 7 bệnh nhân (BN) khuyết hổng 
phần mềm được phẫu thuật che phủ bằng vạt chong chóng.
Kết quả: 7 BN nam, tuổi từ 12 đên 37. 3 BN khuyết phần mềm cổ bàn tay, 2 BN 
khuyết hổng phần mềm vùng cổ chân, 1 BN khuyết hổng phần mềm 1/3 trên cẳng 
chân, 1 BN khuyết phần mềm mu ngón II bàn tay. Kích thước vạt lớn nhất 5 x 
20cm và nhỏ nhất là 1,5 x 6cm. Góc xoay vạt từ 100° đến 180°. Kết quả gần 5/7 
vạt sống tốt, 2/7 vạt ứ máu tĩnh mạch một phần. Kết quả xa 5/7 vạt cho kết quả tốt 
và 2/7 vạt cho kết quả khá.
Kết luận: Vạt chong chóng là một dạng sử dụng của vạt mạch xuyên, đây là một 
chất liệu tạo hình phủ có sức sống tốt, rất linh hoạt về kích thước, góc xoay và có 
thể áp dụng được ở nhiều vị trí trên cơ thể.
Từ khóa: Vạt chong chóng, vạt mạch xuyên.
ABTRACT
Introduction: To reconstruct the tissue defects with exposure tendon, bone and 
the weight-baring positions, usually required a good vitality and thick skin flaps. 
In study, we use propeller-type flap with perforator pedicle. 
Material and method: Prospective study 5 patients with tissue defect. Which were 
reconstructed by propeller flap.
Results: All 7 patients are male, from 12 to 42 years old. 3 patients with tissue 
defects in hand, 2 patients with tissue defects in ankle,1 patient with tissue defect 
in 1/3 upper leg, 1 patient with tissue defect in finger. Flaps size from 1,5x6cm 
to 5x20cm. Angle of rotation from 100º to 180º. Recent results 5/7 flaps are total 
survival, partial flap with venous congestion in 2/7 flap. Longterm results, 5/7 
flaps are good and 2/7 flaps are decent result.
Conclusion: Propeller perforator flap is a cover reconstructive material which is 
good vitality, versatility in size, angle of rotation and the ability to apply in many 
defferent body regions.
Key words: Propeller flap, perforator flap.
TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2016
302
ĐẶT VẤN ĐỀ
Khuyết da và tổ chức phần mềm là những thương 
tổn thường gặp do nhiều nguyên nhân khác nhau như 
chấn thương, sau phẫu thuật cắt bỏ các thương tổn của 
da (khối u, sẹo bỏng...). Theo bậc thang tạo hình, những 
tổn thương này có nhiều phương pháp để che phủ đơn 
giản nhất là ghép da. Tuy nhiên với những thương tổn có 
lộ gân, xương, mạch máu, thần kình hoặc những vị trí tỳ 
đè tốt nhất cần một vạt da dày dặn, được cấp máu tốt để 
che phủ. Có nhiều vạt có thể sử dụng nhưng những vạt 
lân cận được ưu tiên nhiều hơn. 
Vạt chong chóng là một loại vạt lân cận, được cấp 
máu bởi nhánh mạch xuyên cấp máu cho da. Được sử 
dụng lần đầu tiên bởi Hyakusoku và cộng sự năm 1991 
[1], tác giả mô tả vạt da mỡ được nuôi bởi cuống dưới 
da ở trung tâm và chỉ xoay được một góc là 90º. Năm 
2006, Hallock báo cáo sử dụng một vạt da tương tự như 
vạt da của Hyakusoku đã mô tả nhưng được cấp máu 
bởi nhánh mạch xuyên da chính và vạt được xoay 180º 
để che phủ tổn khuyết [2]. Teo (2006) là người có đóng 
góp lớn nhất trong việc đưa ra kỹ thuật và áp dụng của 
vạt chong chóng [3]. Năm 2009, tại hội nghị đầu tiên 
về vạt mạch xuyên và vạt chong chóng ở Tokyo đã đưa 
định nghĩa và phân loại cho vạt chong chóng.
Ở Việt Nam, theo chúng tôi được biết đã có một số 
tác giả đã sử dụng vạt chong chóng nhưng chưa thấy 
có báo cáo nào trong các tạp chí chuyên ngành. Trong 
nghiên cứu này, chúng tôi báo cáo 7 trường hợp sử dụng 
vạt chong chóng điều trị khuyết hổng phần mềm ở cẳng 
bàn tay và cổ chân, bàn luận về chỉ định, kỹ thuật, các 
biến chứng thường gặp và khả năng áp dụng linh hoạt 
của vạt chong chóng.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
Nghiên cứu mô tả 7 BN trong đó có 2 BN khuyết 
hổng phần mềm vùng cổ chân, 2 BN khuyết hổng phần 
mềm vùng cổ bàn tay,1 BN sau cắt bỏ sẹo vùng cổ tay, 
1 BN khuyết hổng phần mềm 1/3 trên cẳng chân và 
1 BN khuyết phần mềm mu ngón II bàn tay. Các BN 
được phẫu thuật che phủ bằng vạt chong chóng từ tháng 
02/2015 đến tháng 07/2012.
Các BN được khám, đánh giá tổn thương: xác định 
kích thước, vị trí, tổn thương có lộ gân, xương để quyết 
định sử dụng vạt. Tất cả các BN đều được siêu âm doppler 
cầm tay: xác định vị trí, số lượng các nhánh mạch xuyên 
xung quang vùng tổn khuyết và thiết kế vạt, xác định 
nhánh xuyên sẽ lấy làm cuống mạch chính nuôi vạt.
Quy trình phẫu thuật: Vô cảm dưới gây mê toàn thân 
hoặc tê tủy sống. Rạch da một bên vạt thiết kế và phẫu 
tích xác định các mạch xuyên nuôi da, tiếp tục phẫu 
tích và nâng vạt khỏi nền và giữ cuống mạch. Xoay vạt 
quanh cuống mạch nuôi che phủ khuyết và ghép da phần 
thiếu da. Có thể nối thêm động mạch hoặc tĩnh mạch 
bằng kỹ thuật vi phẫu bổ sung để tăng dẫn lưu hoặc tăng 
cấp máu cho vạt.
Đánh giá kết quả:
♦ Kết quả gần: Kết quả tốt: Vạt sống tốt hoàn toàn, 
vết mổ liền tốt, da ghép sống hoàn toàn; Kết quả khá: Một 
phần vạt xung huyết, bong thượng bì. Vết mổ liền kỳ đầu, 
da ghép sống tốt; Kết quả xấu: Vạt hoại tử hoàn toàn
♦ Kết quả xa: Kết quả tốt: Vạt sống hoàn toàn, chức 
năng chi thể được bảo tồn; Kết quả khá: Vạt sống hoàn 
toàn, sẹo co kéo, chức năng chi thể giảm ít; Kết quả xấu: 
Vạt hoại tử, ghép da thì hai để lại sẹo co kéo, giảm chức 
năng.
KẾT QUẢ
Tất cả 7 BN đều là là nam giới, tuổi từ 12 đến 42. 
Thời gian theo dõi ít nhất là 1 tháng, lâu nhất là 14 tháng.
Bảng tổng hợp kết quả
BN Tuổi
Vị trí tổn 
thương
Đặc điểm
Tổn thương
Vị trí
cuống mạch
Kích 
thước vạt 
(cm)
Góc 
xoay
Biến 
chứng
Kết 
quả
Nam 12 Cổ tay Lộ xương Trung tâm 4 x 18 180º Không Tốt
Nam 17 Cổ tay Vị trí tỳ đè Trung tâm 4 x 20 180º
Ứ máu 
TM
Khá
Nam 42 Cổ tay Sẹo co kéo Trung tâm 5 x 20 180º
Ứ máu 
TM
Khá
Phần 4: Phẫu thuật vi phẫu
303
Nam 37 Cổ chân Lộ xương Rìa vạt 4 x 12 160º Không Tốt
Nam 23 Cổ chân Lộ gân Achille Rìa vạt 4 x 8 100º Không Tốt
Nam 13
1/3 trên cẳng 
chân
Lộ xương
Rìa vạt, có nối 
TM vi phẫu
8 x 10 180º Không Tốt
Nam 21 Ngón tay Lộ gân Trung tâm 1,5 x 6 160 Không Tốt
Trong 7 vạt có 2 vạt là nhánh xuyên của động mạch 
trụ, 1 vạt là nhánh xuyên của động mạch quay, 1 vạt là 
nhánh xuyên của động mạch chày trước, 1 vạt là nhánh 
xuyên của động mạch mác, 1 vạt là nhánh xuyên kẽ 
ngón II, III bàn tay và một vạt là vạt đùi trước ngoài 
ngược dòng có nối thêm tĩnh mạch của mạch xuyên 
bằng kỹ thuật vi phẫu.
Có 4 vạt sử dụng cuống trung tâm, 2 vạt cuống 
không trung tâm và 1 vạt cuống rìa có nối tĩnh mạch của 
cuống mạch xuyên. Góc xoay của vạt: 4 vạt xoay 180º, 
2 vạt xoay 160º và 1 vạt xoay 100º.
BÀN LUẬN 
Trong những năm gần đây, vạt chong chóng đã trở 
thành vạt được ưu tiên lựa chọn sử dụng để che phủ 
các khuyết hổng phần mềm. Hội nghị đầu tiên về vạt 
mạch xuyên và vạt chong chóng ở Tokyo năm 2009 đã 
đưa ra định nghĩa cho vạt chong chóng [4]. Vạt chong 
chóng hay vạt cánh quạt là một vạt đảo được chuyển 
đến nơi nhận khi xoay quanh một trục và trục này chính 
là cuống mạch nuôi của vạt. Sử dụng vạt chong chóng 
có nhiều ưu điểm [3,5]
	Đây là một vạt đảo tại chỗ nên việc thiết kế rất đa 
dạng và dễ dàng cả về kích thước và khối lượng vạt. 
Có thể lựa chọn ở bất kỳ nơi nào trên cơ thể nhờ vào 
tín hiệu siêu âm doppler của nhánh mạch xuyên.
	Vạt có thể nhanh chóng chuyển thành vạt tự do và 
mở rộng thêm để che phủ các khuyết hổng phức tạp.
	Việc phẫu tích dễ dàng và nhanh chóng.
	Nơi cho vạt bị ảnh hưởng rất ít, tránh hy sinh lớn về 
mặt giải phẫu, đặc biệt là các mạch máu lớn.
 Cũng tại hội nghị về vạt mạch xuyên và vạt chong 
chóng ở Tokyo 2009, theo đồng thuận Gent [6], vạt 
chong chóng được phân loại thành ba loại dựa vào 
mạch nuôi trong cuống nuôi của vạt.
	Loại 1: Vạt ngẫu nhiên cuống dưới da, cho phép 
quay tối đa 90º.
	Loại 2: Vạt chong chóng dựa trên cuống mạch nuôi 
là nhánh mạch xuyên. Đây là loại được sử dụng phổ 
biến. Vạt có thể xoay 180º.
	Loại 3: Vạt chong chóng có nối vi phẫu tĩnh mạch 
nông hoặc tĩnh mạch tùy hành của động mạch xuyên 
với tĩnh mạch nơi nhận hoặc có nối vi phẫu một động 
mạch xuyên thứ 2 của vạt với một động mạch khác 
của nơi nhận để tăng dẫn lưu máu hoặc tăng cấp máu 
cho vạt.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 6 vạt thuộc loại 
2. 1 vạt thuộc loại 3, vạt này chính là vạt đùi trước ngoài 
ngược dòng, chúng tôi có nối thêm tĩnh mạch của mạch 
xuyên để tăng dẫn lưu máu cho vạt tránh tình trạng ứ 
máu tĩnh mạch.
TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2016
304
BN: Lò Văn S. 12 tuổi
Tính linh hoạt của vạt được thể hiện ở sự đa dạng về 
kích thước vạt được lấy, góc xoay của vạt và vị trí lấy 
vạt. Về kích thước vạt, chúng ta có thể thiết kế và lấy 
vạt theo kích thước tổn thương, không phụ thuộc chiều 
dài/chiều rộng vạt. Khác với các loại vạt ngẫu nhiên 
khác phải tuân thủ chiều dài/chiều rộng là 3/1 hay 2/1. 
Mối quan tâm chính là nơi cho vạt có thể đóng được hay 
không, chứ không phải là mối quan tâm đến sự cấp máu 
cho vạt [6]. Nếu việc cấp máu hay dẫn lưu máu không 
đủ thì cần thiết nối thêm động mạch xuyên thứ hai của 
vạt hoặc tĩnh mạch nông hoặc tĩnh mạch tùy hành của 
mạch xuyên. Trong báo cáo này, các vạt chong chóng 
chúng tôi thu được có rất nhiều kích thước nhỏ nhất là 
1,5 x 6cm, lớn nhất 5 x 20cm. Trong đó có 1 vạt lấy với 
kích thước 8 x 10cm và có nối thêm tĩnh mạch đi kèm 
nhánh xuyên thứ hai của vạt.
Theo Hyakusoku và cộng sự [7], vạt chong chóng 
cuống nuôi là mạch xuyên được chia là hai loại dựa vào 
vị trí của nhánh mạch xuyên so với vạt da. Loại cuống 
trung tâm: cuống mạch nằm ở trung tâm của vạt, loại 
vạt này có thê xoay 90º, áp dụng để che phủ hoặc tạo 
hình các sẹo co kéo. Loại cuống không trung tâm: cuống 
mạch nằm ở vùng rìa của vạt da, loại vạt này có thể 
xoay 180º, áp dụng để che phủ khuyết da ở vùng xa. 
Việc thiết kế cuống trung tâm hay không phải trung tâm 
dựa vào tín hiệu mạch xuyên từ siêu âm doppler cầm 
tay trước mổ. Trong nghiên cứu của chúng tôi có 3 vạt 
cuống trung tâm được lấy ở cẳng tay, 1 vạt cuống trung 
tâm lấy ở mu tay, 2 vạt cuống không trung tâm lấy ở cổ 
chân và 1 vạt cuống rìa có nối tĩnh mạch dẫn lưu. Về 
sức sống của các dạng cuống nuôi này không có sự khác 
biệt, chúng tôi thiết kế vạt như vậy để thuận lợi cho xoay 
vạt che phủ khuyết.
Trước phẫu thuật bệnh nhân luôn được siêu âm 
doppler khảo sát tất cả các nhánh mạch xuyên ở vùng da 
lựa chọn để thiết kế vạt. Nếu mạch xuyên hằng định và 
đã được biết thì việc thiết kế vạt rất dễ dàng. Trong một 
số trường hợp, BN cần được chụp mạch để xác định các 
mạch chính cấp máu cho vùng da cần lấy, đặc biệt rất 
quan trọng ở những BN chấn thương vì mạch máu có 
thể bị tổn thương hoặc trong trường hợp cần tìm mạch 
để nối thêm tĩnh mạch hoặc động mạch cho vạt. Trong 
nghiên cứu của chúng tôi có 1 trường hợp phải chụp 
mạch để xác định động mạch mũ đùi ngoài, vòng nối 
quanh gối và động mạch chày trước. Sau khi xác định 
các mạch thông tốt, BN đã được mổ lấy vạt đùi trước 
ngoài ngược dòng lấy thêm cơ quay 180º xuống che phủ 
khuyết da lộ đầu trên xương mác, đồng thời nối thêm 
Phần 4: Phẫu thuật vi phẫu
305
tĩnh mạch của cuống vạt vào tĩnh mạch tùy hành của 
động mạch chày trước để dẫn lưu máu về.
Về kỹ thuật phẫu tích: đường rạch da một bên vạt 
thiết kế và bảo tồn tất cả các mạch xuyên đã được tìm 
thấy trước mổ nhờ siêu âm doppler. Đường mổ phải đủ 
rộng để có thể phẫu tích, tìm và bộc lộ các mạch xuyên 
rõ ràng. Đánh giá sự cấp máu cho vạt của các nhánh 
mạch xuyên này và lựa chọn mạch xuyên nào để làm 
cuống nuôi cho vạt dựa vào: độ đập mạnh của mạch, 
hướng của cuống mạch, kích thước và số lượng tĩnh 
mạch đi kèm, gần tổn thương hoặc gần một dây thần 
kinh cảm giác đi cùng cuống mạch (Các mạch xuyên 
lớn nhất thường đi kèm các thần kinh cảm giác) [8]. 
Trong trường hợp nhánh mạch xuyên lựa chọn trước đó 
không đảm bảo, ta có thể chuyển phương án dùng một 
trong các nhánh mạch xuyên khác và thiết kế lại đảo 
da để xoay hợp lý hơn (phương án B). Cần phẫu tích 
cuống càng sâu càng tốt để khi xoay, cuống mạch không 
bị xoắn vặn, theo S. D’Arpa và cộng sự [6,8], nếu đường 
kính mạch xuyên 1mm thì cuống cần phẫu tích dài 3cm 
và càng ít động chạm vào cuống mạch xuyên càng tốt 
để tránh sự co thắt của mạch [5,8]. Trước khi khâu đóng 
vạt che phủ tổn khuyết, vạt cần được kiểm tra kỹ về cấp 
máu, độ xoắn vặn của cuống mạch và chờ đợi khoảng 20 
phút tránh co thắt. Trong trường hợp không có xoắn vặn 
mà còn co thắt, không nên xoay chuyển vạt ngay mà để 
nguyên vạt tại chỗ chờ vài ngày sau đó mới chuyển đến 
để che phủ tổn khuyết. Tất cả các BN trong nghiên cứu 
của chúng tôi đều không có hiện tượng xoắn vặn cuống 
hoặc co thắt mạch nên chúng tôi đều khâu đóng một thì.
Ứ máu do tắc nghẽn tĩnh mạch là biến chứng thường 
gặp nhất của vạt chong chóng vì tĩnh mạch dễ bị xoắn 
hơn động mạch và cần theo dõi sau mổ [6,8]. Một số ít 
tiến triển làm hoại tử tổ chức nông của vạt nhưng phần 
sâu của vạt thường vẫn sống. Biện pháp xử trí ứ máu 
tĩnh mạch: nếu nhẹ có thể dùng đỉa để hút máu, nếu nặng 
biện pháp tốt nhất là thăm dò lại và nối thêm tĩnh mạch 
dẫn lưu cho vạt. Trong nghiên cứu của chúng tôi có hai 
trường hợp bị ứ máu tĩnh mạch một phần đầu xa của 
vạt, chúng tôi theo dõi trong vài ngay nhưng không lan 
rộng thêm và phần ứ máu chỉ bị bong hoại tử thượng bì 
nên chúng tôi không cần xử trí gì thêm và kết quả xa tốt. 
Nguyên nhân có thể do xoắn vặn tĩnh mạch và độ xoay 
của vạt tối đa 180º. Một trường hợp chúng tôi chủ động 
nối tĩnh mạch để dẫn lưu máu về tránh tình trạng ứ máu.
Hoại tử hoàn toàn vạt rất hiếm khi xảy ra, theo S. 
D’Arpa [5,8], hoại tử một phần vạt chỉ xảy ra ở 5% số 
trường hợp và thường ở một phần nông của da. Phần 
dưới da sống có thể ghép da và cho kết quả tốt. Trong 
nghiên cứu của chúng tôi không gặp trường hợp nào bị 
hoại tử một phần vạt da.
KẾT LUẬN
Vạt chong chóng với cuống vạt là nhánh mạch xuyên 
cấp máu cho da là một chất liệu tạo hình rất linh hoạt 
về kích thước, góc xoay của vạt. Có thể áp dụng được 
ở nhiều vị trí trên cơ thể nếu có thể xác định được một 
mạch xuyên nuôi da để làm cuống mạch. Kỹ thuật bóc 
vạt không quá khó khăn và vạt có nhiều ưu điểm trong 
tạo hình che phủ khuyết hổng phần mềm đặc biệt là ở 
chi thể có lộ gân, xương hoặc những vị trí tỳ đè.
Tài liệu tham khảo
1. H. Hyakusoku, T. Yamamoto, and M. Fumiiri, “The 
propeller flap method,” British Journal of Plastic 
Surgery,vol.44, no.1,pp.53–54, 1991.
2. G. G. Hallock, “The propeller flap version of the adductor 
muscle perforator flap for coverage of ischial or trochanteric 
pressure sores,” Annals of Plastic Surgery,vol.56, 
no.5,pp.540–542, 2006.
3. T.C.Teo,“Perforator local flaps in lower limb reconstruction,” 
Cirugia Plastica Ibero-Latinoamericana, vol.32, no.4, 
pp.15–292, 2006.
4. M.Pignatti, R.Ogawa, G.G.Hallock et al.,“The “Tokyo” 
con-sensus on propeller flaps,” Plastic and Reconstructive 
Surgery, vol. 127, no. 2, pp. 716–722, 2011.
5. S. D’Arpa, A. Cordova, M. Pignatti, and F. Moschella, 
“Freestyle pedicled perforator flaps: safety, prevention of 
complications and management based on 85 consecutive 
cases,”Plastic and Reconstructive Surgery, vol.128, no.4, 
pp.892–906,2011.
6. P. N. Blondeel, K. H. I. Van Landuyt, S. J. M. 
Monstreyetal, “The“Gent” consensus on perforator 
flap terminology: preliminary definitions,”Plastic and 
Reconstructive Surgery, vol.112, no.5, pp.1378–1382,2003
7. H. Hyakusoku et al, “The perforator pedicle propeller (PPP) 
flap method: A report of two cases”. J Nippon Med Schl 
2007; 74(5).
8. S. D’Arpa et al, “Propeller Flaps: A Review of Indications, 
Technique, and Results”. BioMed Research International.

File đính kèm:

  • pdfvat_chong_chong_chat_lieu_linh_hoat_trong_tao_hinh_khuyet_ho.pdf