Vai trò siêu âm Doppler eo động mạch chủ tiên đoán toan hóa máu của thai chậm tăng trưởng trong tử cung

Đặt vấn đề: Các chỉ số Doppler dòng máu thai nhi giúp theo dõi và quyết định thời điểm chấm dứt thai kỳ

khi phát hiện bị toan hóa máu ở những thai chậm tăng trưởng trong tử cung. Cùng với Doppler động mạch

(ĐM) rốn, ĐM não giữa và ống tĩnh mạch, eo động mạch chủ cũng có giá trị tiên lượng cho kết cục chu sinh bất

lợi ở thai chậm tăng trưởng trong tử cung.

Mục tiêu: Xác định vai trò tiên đoán thai suy của Doppler eo động mạch chủ trong nhóm thai chậm tang

trưởng trong tử cung.

pdf 9 trang phuongnguyen 220
Bạn đang xem tài liệu "Vai trò siêu âm Doppler eo động mạch chủ tiên đoán toan hóa máu của thai chậm tăng trưởng trong tử cung", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Vai trò siêu âm Doppler eo động mạch chủ tiên đoán toan hóa máu của thai chậm tăng trưởng trong tử cung

Vai trò siêu âm Doppler eo động mạch chủ tiên đoán toan hóa máu của thai chậm tăng trưởng trong tử cung
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 123 
VAI TRÒ SIÊU ÂM DOPPLER EO ĐỘNG MẠCH CHỦ 
TIÊN ĐOÁN TOAN HÓA MÁU CỦA THAI CHẬM TĂNG TRƯỞNG 
TRONG TỬ CUNG 
Nguyễn Xuân Trang1, Nguyễn Long1, Võ Minh Tuấn2 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Các chỉ số Doppler dòng máu thai nhi giúp theo dõi và quyết định thời điểm chấm dứt thai kỳ 
khi phát hiện bị toan hóa máu ở những thai chậm tăng trưởng trong tử cung. Cùng với Doppler động mạch 
(ĐM) rốn, ĐM não giữa và ống tĩnh mạch, eo động mạch chủ cũng có giá trị tiên lượng cho kết cục chu sinh bất 
lợi ở thai chậm tăng trưởng trong tử cung. 
Mục tiêu: Xác định vai trò tiên đoán thai suy của Doppler eo động mạch chủ trong nhóm thai chậm tang 
trưởng trong tử cung. 
Đối tượng - Phương pháp: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang. Lấy mẫu toàn bộ từ tháng 3 năm 2020 đến 
tháng 8 năm 2020. Thực hiện siêu âm Dopler eo động mạch chủ các trường hợp thai chậm tăng trưởng trong tử 
cung có chỉ định chấm dứt thai kỳ. Trẻ sau sinh sẽ được đánh giá bảng điểm APGAR và xét nghiệm pH máu 
ĐM rốn để đánh giá tình trạng toan hóa máu. 
Kết quả: Sau 5 tháng điều trị và theo dõi đầy đủ được 42 trường hợp, kết cục chu sinh bất lợi: pH máu ĐM 
rốn ≤7,1 chiếm 7,1% (3/42), pH trên 7,1 đến ≤7,2 chiếm 11,9% (5/42), pH trên 7,2 đến dưới 7,3 chiếm 42,9% 
(18/42), có 5/42 trường hợp tử vong ngay sau sinh/ MLT, 2 TH tử vong sau 2 tuần. Trước sinh PI eo ĐM chủ 
bất thường chiếm 11,9%, IFI eo ĐM chủ bất thường (giảm ≤1) chiếm 33,3%. Trong dự báo pH máu ĐM rốn 
≤7,2 độ nhạy của IFI eo ĐM chủ là 87,5% (KTC 95% 47,3-99,6); giá trị tiên đoán dương là 50,0% (KTC 95% 
32,9 - 67,0); và giá trị tiên đoán âm là 96,4%. 
Kết luận: PI và IFI eo ĐM chủ có giá trị trong tiên đoán kết cục chu sinh bất lợi ở thai chậm tăng trưởng 
trong tử cung. Có thể áp dụng các giá trị bất thường PI và IFI eo ĐM chủ để có thời điểm chấm dứt thai kỳ thích 
hợp, tuy nhiên cần các nghiên cứu can thiệp lớn hơn. 
Từ khóa: thai chậm tăng trưởng trong tử cung, siêu âm dopler eo động mạch chủ 
ABSTRACT 
THE ROLE OF AORTIC ISTHMUS DOPPLER ASSESSMENT IN PREDICTING FETAL ACIDOSIS 
IN INTRAUTERINE GROWTH RESTRICTION FETUSES 
Nguyen Xuan Trang, Nguyen Long, Vo Minh Tuan 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No. 1 - 2021: 123 - 131 
Background: Fetal Doppler velocimetric parameters aid in monitoring and deciding pregnancy termination 
timing by detecting fetal acidosis in intrauterine growth restriction (IUGR) fetuses. Along with Doppler 
velocimetry of umbilical, middle cerebral artery, and ductus venous, the aortic isthmus (AoI) Doppler assessment 
is also a possible indicator for adverse perinatal outcomes in IUGR fetuses. 
Methods: This cross-sectional study includes all pregnancies with IUGR seen between March 2020 and 
August 2020. All IUGR fetuses with the indication of pregnancy termination were evaluated the AoI 
Doppler. The APGAR score at 1 and 5 minutes and umbilical cord arterial pH of the newborn were recorded 
to examine neonatal acidosis. 
1Bệnh viện Từ Dũ 2Bộ môn Sản – Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
Tác giả liên lạc: GS.TS.BS. Võ Minh Tuấn ĐT: 0909727199 Email: [email protected] 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 124 
Results: There were 42 pregnancies recruited with the full medical record. Adverse perinatal outcomes 
included: umbilical cord arterial pH of ≤7.1: 3 cases (7.1%), above 7.1 and ≤7.2: 5 cases (11.9%), above 7.2 and 
<7.3: 18 cases (42.9%); neonatal death right following delivery: 5 cases; neonatal death after 2 weeks: 2 cases. 
Abnormal patterns of perinatal PI and IFI of AoI Doppler were observed in 11.9% and 33.3% cases, respectively. 
The sensitivity, positive predictive value, and negative predictive value of IFI of AoI Doppler in predicting 
umbilical cord arterial oH of ≤ 7.2 was 87.5% (95% CI 47.3%-99.6%), 50.0% (95% CI 32.9%-67.0%), and 
96.4%, respectively. 
Conclusions: The PI and IFI of AoI Doppler play potential roles in predicting adverse perinatal outcomes in 
IUGR fetuses. Abnormal patterns of PI and IFI of AoI Doppler could be used for detecting the proper pregnancy 
termination timing. More extensive intervention studies are needed to validate their roles. 
Keywords: intrauterine growth restriction, aortic isthmus Doppler 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Tại bệnh viện Từ Dũ, thai chậm tăng trưởng 
vẫn là một vấn đề sản khoa thường gặp và gây 
khó khăn trong chẩn đoán và xử trí. Khoa Sản A 
bệnh viện Từ Dũ hiện đang là nơi tập trung điều 
trị cho các thai kỳ có bệnh lý như tiền sản giật, 
thai chậm tăng trưởng trong tử cung, đái tháo 
đường và thai, nhau tiền đạo nhau cài răng lược, 
ối vỡ non, Năm 2019, tổng số phụ điều trị tại 
khoa Sản A là 36.285, trong đó có 1.929 trường 
hợp thai chậm tăng trưởng trong tử cung cần 
phải chấm dứt thai kỳ. Bệnh viện Từ Dũ đã đưa 
ra phác đồ chẩn đoán và xử trí những trường 
hợp thai chậm tăng trưởng trong tử cung tại 
bệnh viện. Phác đồ thai chậm tăng trưởng cập 
nhật mới nhất là vào ngày 6 tháng 9 năm 2019, 
đã đưa các tiêu chuẩn chẩn đoán thai chậm tăng 
trưởng mới nhất và phần xử trí đã phân theo 
chẩn đoán thai chậm tăng trưởng khởi phát sớm 
hay muộn, cũng như cập nhật thêm giá trị các 
kết quả của siêu âm Doppler ống tĩnh mạch, chỉ 
số não nhau CPR, CTG điện toán và eo động 
mạch chủ (ĐMC). 
Tiêu chuẩn chẩn đoán thai chậm tăng trưởng 
là ước lượng cân nặng thai nhi dưới bách phân 
vị thứ 3 theo tuổi thai hoặc dưới 10 và kèm theo 
bất thường Doppler. Siêu âm Doppler được sử 
dụng để đánh giá chức năng bánh nhau và phân 
giai đoạn của thai chậm tăng trưởng gồm 
Doppler ĐM rốn, ĐM tử cung, ĐM não giữa và 
ống tĩnh mạch. Siêu âm Doppler eo ĐM chủ 
phản ánh sự cân bằng giữa trở kháng của mạch 
máu não và tuần hoàn hệ thống, đại diện cho 
bước tiếp theo của chuỗi bắt đầu với bất thường 
Doppler ĐM rốn và ĐM não giữa. Bất thường 
Doppler eo ĐM chủ có liên quan đến kết cục chu 
sinh và thần kinh bất lợi, xảy ra trước bất thường 
ống tĩnh mạch khoảng 1 tuần. 
Eo ĐM chủ là phần của ĐM chủ giữa điểm 
xuất phát của ĐM dưới đòn trái và điểm giao 
nhau của ống ĐM và ĐM chủ xuống; nó đánh 
dấu sự phân tách một phần dòng máu của thai 
nhi xuất phát từ tâm thất phải và trái. Vai trò 
tiềm năng của dòng máu trong eo ĐM chủ đã 
được đề xuất như là một chỉ báo về sự tiến triển 
của sự suy giảm huyết động của thai nhi trong 
thai chậm tăng trưởng, đặc biệt là một dấu hiệu 
ngắn hạn của kết cục chu sinh bất lợi, cũng như 
là một yếu tố dự đoán dài hạn về kết quả phát 
triển thần kinh(1). Eo ĐM chủ là kết nối dòng 
máu giữa tâm thất phải (chủ yếu cung cấp tuần 
hoàn hệ thống và nhau thai) và tâm thất trái 
(nguồn cung cấp máu cho tuần hoàn não). Do 
đó, các dạng sóng của dòng máu qua eo ĐM chủ 
phản ánh sự cân bằng giữa quá trình tống máu 
từ các tâm thất và sức cản mạch máu. Trong điều 
kiện bình thường, sức cản của nhau thai nhỏ hơn 
sức cản mạch máu ở các phần trên của hệ tuần 
hoàn thai nhi. Thông thường, chuyển động của 
dòng máu trong eo ĐM chủ là hướng về phía 
trước, tức là đến ĐM chủ xuống. Sự gia tăng sức 
cản của nhau thai ở những thai nhi bị suy nhau 
thai làm đảo ngược hướng của dòng máu qua 
eo, ám chỉ một tình trạng bệnh lý. Theo một số 
tác giả, triệu chứng này có trước tình trạng mất 
bù huyết động(1). Như vậy, thông số siêu âm 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 125 
Doppler của eo ĐM chủ sẽ thay đổi trước khi có 
sự thay đổi của Doppler ống tĩnh mạch, nên eo 
ĐM chủ sẽ là dự báo tình trạng nhiễm toan máu 
ở thai khi thai bắt đầu có sự thay đổi trên 
Dopper ĐM rốn và ĐM não giữa. 
Mục tiêu 
(1) Mô tả phân bố của đặc điểm Doppler eo 
động mạch chủ trong nhóm thai chậm tăng 
trưởng có chỉ định chấm dứt thai kỳ. 
(2) Phân tích giá trị của siêu âm Doppler eo 
động mạch chủ, động mạch rốn, động mạch não 
giữa, ống tĩnh mạch cho tình trạng sức khỏe thai 
nhi dựa trên pH máu động mạch rốn. 
Mục tiêu 
Xác định vai trò tiên đoán thai suy của 
Doppler eo động mạch chủ trong nhóm thai 
chậm tăng trưởng trong tử cung. 
ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Thực hiện từ tháng 5/2020 đến tháng 7/2020 
trên những thai kỳ được chẩn đoán thai chậm 
tăng trưởng (TCTT) trong tử cung, có chỉ định 
chấm dứt thai kỳ và thai nhi được thử pH máu 
động mạch rốn sau sinh thường hoặc sinh mổ. 
Tiêu chuẩn loại trừ 
Chúng tôi loại trừ các trường hợp: có chỉ 
định phẫu thuật cấp cứu, thai nhi có Doppler 
ĐM rốn bình thường, đa thai, thiếu dữ kiện: 
như không xác định được pH máu ĐM rốn, 
nhiễm trùng bào thai, ối vỡ non, thai có bất 
thường về hình thái học, dị tật bẩm sinh 
(DTBS) và có bất thường về nhiễm sắc thể 
(NST), bệnh nhân bỏ cuộc. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu tiến cứu. 
Cỡ mẫu 
Với mục tiêu mô tả siêu âm tỉ lệ eo ĐM chủ, 
tỉ lệ ĐM rốn bất thường bất thường trên cùng 1 
nhóm đối tượng được chẩn đoán thai chậm tăng 
trưởng, chúng tôi áp dụng công thức tính cỡ 
mẫu so sánh 2 tỉ lệ dạng bắt cặp. Theo tác giả Del 
Rio M 2008(2) tỉ lệ P1=0,51 độ nhạy của xét 
nghiệm tham khảo: độ nhạy siêu âm PI eo ĐM 
chủ AoI-RI=0,51. Theo tác giả Flood K 2014(3) tỉ lệ 
P2=0,85 độ nhạy của xét nghiệm đối chứng: độ 
nhạy siêu âm ĐM rốn UA=0,85. Với sai lầm loại 
1=0,05, sai lầm loại 2=0,2, cỡ mẫu cần có ít nhất là 
41 trường hợp thai chậm tăng trưởng. 
Trong thời gian từ 1/3/2020 đến tháng 
1/8/2020 chúng tôi thu thập được 51 trường 
hợp nhập khoa Sản A thỏa tiêu chuẩn nhận, 
đồng ý tham gia nghiên cứu, chúng tôi theo 
dõi tất cả những trường hợp này đến khi sinh 
có 7 trường hợp sinh ngã âm đạo, 35 trường 
hợp mổ lấy thai. Trong đó chúng tôi loại 9 
trường hợp ra khỏi nghiên cứu vì 6 ca sinh 
trong đêm không lấy pH máu, 3 ca MLT lấy 
pH máu không đạt chuẩn. Cuối cùng chúng 
tôi còn 42 trường hợp đủ dữ kiện. 
Phương pháp tiến hành 
Lấy mẫu toàn bộ 
Bước 1: Thu nhận vào nghiên cứu tại khoa Sản A 
Tại khoa Sản A khi thai phụ mang thai chậm 
tăng trưởng trong tử cung có chỉ định chấm dứt 
thai kỳ, bác sĩ điều trị sẽ hội chẩn Ban chủ nhiệm 
khoa. Sau khi Ban chủ nhiệm khoa đánh giá lại 
diễn tiến bệnh và đồng thuận ký chỉ định chấm 
dứt thai kỳ, hồ sơ được tập trung lại cho nhóm 
nghiên cứu mời thai phụ tham gia nghiên cứu. 
Sau khi thai phụ có chỉ định chấm dứt thai 
kỳ, tại phòng tư vấn của Khoa Sản A bệnh viện 
Từ Dũ, nghiên cứu viên sẽ xem xét tiêu chuẩn 
nhận loại nếu sản phụ đủ điều kiện sẽ nhận và 
nghiên cứu. Nghiên cứu viên sẽ đọc bản đồng 
thuận tham gia nghiên cứu, giải thích mục đích 
và phương pháp tiến hành nghiên cứu, cũng 
như giải đáp thắc mắc của thai phụ về nghiên 
cứu. Nếu đồng ý tham gia, thai phụ sẽ ký vào 
bảng đồng thuận tham gia nghiên cứu, sẽ được 
tiếp tục theo dõi điều trị theo phác đồ của bệnh 
viện, không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào. 
Nghiên cứu viên sẽ ghi nhận các thông tin của 
sản phụ và thai vào phiếu thu thập số liệu. 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 126 
Bước 2: Siêu âm Doppler các mạch máu (theo phác 
đồ) và eo ĐM chủ 
Khi thai phụ có chỉ định chấm dứt thai kỳ, 
nghiên cứu viên sẽ sẽ thực hiện siêu âm các 
mạch máu trong cùng ngày ký chỉ định chấm 
dứt thai kỳ bao gồm: ĐM rốn, ĐM não giữa, ống 
tĩnh mạch kết hợp thêm siêu âm Doppler eo ĐM 
chủ ngay tại khoa Sản A bệnh viện Từ Dũ. 
Bước 3: Thu nhận pH máu ĐM rốn 
Khi thai phụ được chuyển lên phòng mổ của 
khoa Gây mê Hồi sức hoặc khoa Sanh, các bạn 
nữ hộ sinh (NHS) trực sẽ gọi cho bác sĩ thực hiện 
đề tài để chuẩn bị cho việc lấy máu cuống rốn. 
Sau khi sổ thai, bác sĩ trong nhóm nghiên cứu 
tham gia kíp phẫu thuật hoặc bác sĩ đang đỡ 
sinh sẽ dùng kim vô trùng đã có tráng chất 
chống đông Heparin, lấy máu ĐM rốn còn mạch 
đập và hướng về phía mẹ. Ngay sau đó, ống 
tiêm đã lấy máu sẽ được vùi ngay vào đất sét để 
khóa đầu kim lại, đảm bảo không để lọt khí từ 
ngoài vào gây sai lệch kết quả. Sau đó vận 
chuyển mẫu ống tiêm và di chuyển về khoa sơ 
sinh để thực hiện xét nghiệm ngay trong vòng 5 
phút. Kết quả xét nghiệm sẽ được thực hiện 
bằng máy GEM 3500. 
Bước 4: Kết thúc nghiên cứu 
Nghiên cứu viên tổng hợp và hoàn chỉnh các 
phiếu thu thập của mỗi thai phụ và kết quả pH 
máu và tình trạng và APGAR trẻ sau sinh; kiểm 
tra lại những số liệu thiếu bằng cách đối chiếu 
với hồ sơ bệnh án hay phỏng vấn người bệnh, 
phân tích xử lý số liệu và viết luận án. 
Dù là thiết kế cắt ngang chấm dứt nghiên 
cứu ở thời điểm cùng ngày sinh tuy nhiên chúng 
tôi cũng theo dõi các bé sơ sinh có điều trị tại 
khoa Sơ sinh sẽ được nhóm nghiên cứu theo dõi 
tiếp 14 ngày. Kết quả điều trị 14 ngày của trẻ sẽ 
được ghi nhận qua hồ sơ bệnh án sơ sinh để 
đánh giá kết cục của bé. 
Định nghĩa những biến quan trọng 
Chúng tôi định nghĩa tiêu chuẩn chẩn đoán 
thai chậm tăng trưởng(4) (1) ước lượng cân nặng 
thai <bách phân vị thứ 3 theo tuổi thai hoặc (2) 
<bách phân vị thứ 10 kèm theo bất thường 
Doppler. 
Chỉ định chấm dứt thai kỳ chậm tăng trưởng 
trong tử cung tại bệnh viện Từ Dũ bao gồm (1) 
Thai chậm tăng trưởng giai đoạn 1: chấm dứt 
thai kỳ khi thai được 37 tuần, (2) Thai chậm tăng 
trưởng giai đoạn 2: chấm dứt thai kỳ khi thai 32 
tuần, (3) Thai chậm tăng trưởng giai đoạn 3: 
chấm dứt thai kỳ khi thai 30 tuần, (4) Thai chậm 
tăng trưởng giai đoạn 4: chấm dứt thai kỳ khi 
thai 28 tuần, (5) tiêu chuẩn chấm dứt thai kỳ do 
các bệnh lý khác của mẹ kèm theo như tiền sản 
giật nặng không đáp ứng với điều trị nội sau 24-
48g, ối vỡ non, đái tháo đường có biến chứng 
nặng và mất kiểm soát đường huyết, non-stress 
test không đáp ứng. 
Siêu âm Doppler eo ĐM chủ: eo ĐM chủ 
được xác định bằng siêu âm 2D trên lát cắt dọc 
cung ĐMC, mặt cắt 3 mạch máu hay mặt cắt khí 
quản. Quan sát phổ của sóng và dạng sóng. Khi 
trên màn hình xuất hiện từ 4-6 chu kỳ sóng đều 
nhau thì cố định màn hình(5). Đo và ghi nhận chỉ 
số xung của Doppler eo ĐM chủ. Để đánh giá eo 
ĐM chủ, nên thiết lập vận tốc tối đa Doppler 
được điều chỉnh thành giá trị cao để các dòng 
máu trong mạch lớn có màu sắc đồng nhất, 
không có nhiễu. Mặt phẳng quét đã được điều 
chỉnh để có được góc tới càng gần 0° càng tốt và 
luôn luôn <15°. Các bản ghi được thực hiện khi 
không có chuyển động của thai nhi. Khảo sát 
vận tốc Doppler eo ĐM chủ thai nhi đã được 
thực hiện như đã mô tả trước đây ở cả mặt cắt 
dọc cung ĐM chủ hay mặt cắt ba mạch máu và 
khí quản, vì cả hai mặt cắt siêu âm của đoạn 
mạch máu này đã được chứng minh là cung cấp 
các thông số Doppler lặp lại. Đối với mỗi khảo 
sát, các thông số sau được đo và so sánh với 
khoảng tham chiếu: vận tốc đỉnh tâm thu (PSV), 
vận tốc cuối tâm trương (EDV) và vận tốc tối đa 
trung bình theo thời gian (TAMXV), chỉ số xung 
(PI) và chỉ số kháng (RI). Công thức tính 
IFI=(S+D)/S = (vận tốc đỉnh tâm thu + cuối tâm 
trương)/vận tốc cuối tâm trương. 
- Phân loại phổ sóng Doppler eo ĐM chủ 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ C ...  nghiên cứu này. Các 
giá trị siêu âm mạch máu bao gồm vận tốc và chỉ 
số trở kháng có điểm cut-off bpv thứ 95 và thứ 5 
cho mỗi thông số được coi là phân loại bệnh lý. 
Giá trị dự đoán của AoI và các biến đổi Doppler 
khác trong việc dự đoán toan hóa máu trung 
bình nặng được đánh giá bằng cách ước lượng 
độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương và 
giá trị tiên đoán âm. 
Y đức 
Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội 
đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại 
học Y Dược TP. HCM, số 557/ĐHYD-HĐĐĐ, 
ngày 28/10/2019. 
KẾT QUẢ 
Trong 42 trường hợp tham gia nghiên cứu 
tuổi thai lúc chấm dứt thai kỳ của các đối tượng 
tham gia là 31,7±1,9 tuần, trong đó nhỏ nhất có 1 
trường hợp có tuổi thai 28,1 tuần và lớn nhất có 
8 trường hợp 34 tuần. Nhóm tuổi thai trên 32 
đến ≤34 tuần chiếm tỉ lệ cao nhất là 50,0% 
(23/42), thấp nhất là nhóm tuổi thai từ 28 đến ≤30 
tuần chiếm tỉ lệ 23,8% (10/42). 
Thời gian dưỡng thai trung bình của các đối 
tượng tham gia nghiên cứu là 2,2±1,7 ngày. 
Trong đó có 6 trường hợp phải chấm dứt thai kỳ 
chiếm tỉ lệ 14,3% (6/42), dưỡng thai từ 1-2 ngày 
chiếm tỉ lệ cao nhất 50,0% (21/42), tiếp đến là 
dưỡng thai 3-5 ngày chiếm tỉ lệ 28,6% (12/42), 
thấp nhất là dưỡng thai được 6-7 ngày chiếm tỉ 
lệ 7,1% (3/42). Trong đó nhóm có thời gian 
dưỡng thai ≤2 ngày có 6/27 trường hợp tử vong, 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 128 
trong khi nhóm có thời gian dưỡng thai ≥ 3 ngày 
chỉ có 1/15 các trường hợp trong nghiên cứu này 
đều được sử dụng thuốc corticosteroids hỗ trợ 
phổi thai nhi theo đúng khuyến cáo của phác đồ 
bệnh viện Từ Dũ xử lý thai chậm tăng trưởng 
trước khi chấm dứt thai kỳ. Có những trường 
hợp nhập viện trong tình trạng bệnh lý tiền sản 
giật nặng, cần chấm dứt thai kỳ ngay, nhưng các 
bác sĩ tại khoa đã cố gắng điều trị nội khoa, đảm 
bảo thời gian để hoàn tất liệu pháp hổ trợ phổi 
thai nhi. Mục tiêu điều trị là chấm dứt thai kỳ 
đúng thời điểm. Thời điểm chấm dứt thai kỳ 
được lựa chọn là khi nguy cơ thai chết trong tử 
cung lớn hơn nguy cơ chết sau sinh. 
Bảng 1: Đặc điểm thai kỳ 
Đặc điểm 
Tổng 
(n=42) 
Tỷ lệ 
(%) 
Tuổi thai lúc chấm dứt thai kỳ 31,7±1,9 
Từ 28 đến ≤30 tuần 10 23,8 
Trên 30 đến ≤32 tuần 11 26,2 
Trên 32 đến ≤34 tuần 21 50,0 
Thời gian dưỡng thai 2,2±1,7 
Không dưỡng thai 6 14,3 
Từ 1 đến 2 ngày 21 50,0 
Từ 3 đến 5 ngày 12 28,6 
Từ 6 đến 7 ngày 3 7,1 
Bệnh lý mẹ 
Tiền sản giật (TSG) nặng 19 45,2 
Đái tháo đường (ĐTĐ) và thai 10 23,8 
ĐTĐ và TSG 8 19,0 
TSG chưa dấu hiệu nặng 2 4,8 
Tăng huyết áp (THA) mạn 1 2,4 
Bệnh thận 1 2,4 
Ối vỡ non 1 2,4 
Bảng 2: Đặc điểm siêu âm thai 
Đặc điểm 
Tổng 
(n=42) 
Tỷ lệ 
(%) 
Chỉ số ối (AFI) 9,1±1,9* 
≤ 5 2 4,8 
> 5 40 95,2 
ĐM rốn 
PI 1,2 (1,1-1,3)* 
Bình thường (< 95 BPV) 18 42,9 
Bất thường (≥ 95 BPV) 24 57,1 
Hình dạng Doppler 
Bình thường 35 83,3 
Bất thường (Mất sóng tâm trương) 7 16,7 
ĐM não giữa 
Đặc điểm 
Tổng 
(n=42) 
Tỷ lệ 
(%) 
PI 1,4±0,2* 
Bình thường (> 5 BPV) 17 40,5 
Bất thường (≤ 5 BPV) 25 59,5 
PSV 53,1±9,5* 
Bình thường (< 95 BPV) 33 78,6 
Bất thường (≥ 95 BPV) 9 21,4 
Hình dạng ống tĩnh mạch 
Bình thường 42 100 
Bất thường (mất sóng a) 0 0 
Chỉ số CPR 1,1 (0,9-1,3)** 
Bình thường (≥ 5 BPV) 0 0,0 
Bất thường (< 5 BPV) 42 100,0 
Eo động mạch chủ 2,25 (2,1-2,6)** 
PI 
Bình thường (≤ 95 BPV) 37 88,1 
Bất thường (> 95 BPV) 5 11,9 
IFI 1,1±0,1* 
<1 5 11,9 
=1 9 21,4 
>1 (bình thường) 28 66,7 
Kết luận siêu âm 
TCTT giai đoạn 1 35 83,3 
TCTT giai đoạn 2 7 16,7 
TCTT giai đoạn 3 0 0 
* Trung bình ± độ lệch chuẩn 
** Trung vị (tứ phân vị 25-75%) 
Nhóm PI eo ĐM chủ bình thường chiếm đa 
số trong nghiên cứu 88,9%, nhóm bất thường 
chiếm 11,9%. Trong nghiên cứu này không có 
nhóm thai có dòng chảy ngược bất thường 
Doppler eo ĐM chủ, chỉ có nhóm có dòng chảy 
xuôi hoàn toàn IFI>1 và nhóm có dòng chảy tâm 
trương triệt tiêu IFI=1 và IFI<1 là nhóm xuất hiện 
một số sóng tâm trương đảo ngược nhưng dòng 
chảy xuôi vẫn chiếm ưu thế. Nhóm Doppler eo 
ĐM chủ có dòng chảy xuôi hoàn toàn là IFI>1 
chiếm 66,7% (khoảng 2/3), còn lại là nhóm có IFI 
giảm ≤1 chiếm 33,3% (khoảng 1/3). 
Kết quả thai kỳ 
Bảng 3: Kết quả thai kỳ 
Đặc điểm 
Tổng 
(n=42) 
Tỷ lệ 
(%) 
Chỉ định chấm dứt thai kỳ 
Khởi phát chuyển dạ thất bại/TSG nặng 29 69,0 
NST không đáp ứng 9 21,4 
Ối vỡ non 3 7,1 
Thiểu ối nặng 1 2,4 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 129 
Đặc điểm 
Tổng 
(n=42) 
Tỷ lệ 
(%) 
Phương pháp sinh 
Mổ lấy thai 35 83,3 
Sinh ngả âm đạo 7 16,7 
Cân nặng con 1347,6 ± 383,9* 
Dưới 1000 8 19,0 
Từ 1000-1200 8 19,0 
Trên 1200 đến 1500 8 19,0 
Trên 1500 18 42,9 
pH máu ĐM rốn 7,29 (7,24-7,3)** 
≤ 7,1 3 7,1 
Trên 7,1 đến ≤ 7,2 5 11,9 
Trên 7,2 đến dưới 7,3 18 42,9 
≥7,3 16 38,1 
APGAR 1 phút 
Rất thấp (0-3) 7 16,7 
Khá thấp (4-6) 29 69,0 
Bình thường (7-10) 6 14,3 
APGAR 5 phút 
Rất thấp (0-3) 4 9,5 
Khá thấp (4-6) 14 33,3 
Bình thường (7-10) 24 57,1 
Bệnh suất và tử suất sơ sinh 
Suy hô hấp cấp 33 78,6 
Viêm phổi 30 71,4 
Viêm ruột hoại tử 17 40,5 
Tử vong ngay sau sinh 5 11,9 
Xuất huyết não độ 3/4 3 7,1 
Thở nhanh thoáng qua 3 7,1 
Tử vong sau 7 ngày 2 4,8 
Kết cục sơ sinh 14 ngày 
Sống 35 83,3 
Tử vong 7 16,7 
Phương pháp sinh của các đối tượng tham 
gia nghiên cứu chủ yếu là mổ lấy thai chiếm 
83,3% (35/42), sinh ngả âm đạo chỉ có 7 trường 
hợp chiếm 16,7%. Nhóm chỉ đinh mổ lấy thai là 
do NST không đáp ứng chiếm 9/42 ca (21,4%), 
ngoài ra lý do mổ là do thiểu ối nặng và ối vỡ 
non (4 ca), ngôi ngang (4 ca), và hầu hết còn lại là 
do khởi phát chuyển dạ thất bại ở những trường 
hợp tiền sản giật nặng. 
Sau sinh hoặc mổ lấy trẻ sơ sinh được thử 
pH máu động mạch rốn, pH máu ĐM rốn có 
trung vị 7,29 (tứ phân vị 25-75 là 7,24-7,3). Mẫu 
nghiên cứu này chỉ có 7 trường hợp là thai chậm 
tăng trưởng giai đoạn 2 còn lại là giai đoạn 1, 
nên pH máu >7,3 chiếm 38,1%. Nhóm có pH 
máu <7,2 là 7 ca 17%. Chỉ có 3 trường hợp là 
nhiễm toan rất nặng có pH máu <7,1. Mối liên 
quan giữa tỉ lệ tử vong và pH máu cũng được 
chứng minh tương tự trong một phân tích tổng 
hợp của Malin 2010(11) gồm 51 nghiên cứu thuần 
tập và bệnh chứng bao gồm hơn 480.000 trẻ sơ 
sinh, phân tích phân nhóm chỉ ra mối liên quan 
mạnh nhất giữa tỷ lệ bệnh suất sơ sinh và pH ở 
ngưỡng pH là 7,0 (OR=12,5, KTC 95% 6,1-25,6); 
tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh liên quan mạnh nhất là ở 
ngưỡng pH 7,1 (OR 7,1, KTC 95% 3,3-15,3). 
Giá trị siêu âm Doppler tiên đoán toan hóa 
máu trung bình nặng ở trẻ sau sinh 
Các yếu tố siêu âm tiên lượng tình trạng toan 
hóa máu trung bình nặng (Ph ≤2) ở trẻ sơ sinh có 
độ chính xác dao động từ 40,4 đến 92,8%. Trong 
đó độ chính xác của yếu tố siêu âm hình dạng 
ĐM rốn (ĐMR), IFI và PI eo ĐM chủ có giá trị 
tiên đoán tốt >80%. Độ nhạy của các yếu tố: chỉ 
có IFI eo ĐMC trên 80%, còn lại các SA mạch 
máu khác giá trị tiên đoán có độ nhạy tử 50 đến 
<80%. Độ đặc hiệu trên 80% ở các yếu tố hình 
dạng ĐMR, PSV ĐMNG, PI Eo ĐMC có giá trị 
tiên đoán tốt. 
Bảng 4: Giá trị siêu âm Doppler tiên đoán toan hóa máu trung bình nặng pH≤ 7,2 ở trẻ sau sinh 
Đặc điểm 
Độ chính xác 
(KTC 95%) 
Độ nhạy 
(KTC 95%) 
Độ đặc hiệu 
(KTC 95%) 
Tiên đoán dương 
(KTC 95%) 
Tiên đoán âm 
(KTC 95%) 
AUC 
(KTC 95%) 
PI ĐMR 
52,3 
36,4 - 68,0 
75,0 
34,9 - 96,8 
47, 
29,7 - 64,8 
25,0 
16,6 - 35,7 
88,8 
69,5 - 96,5 
0,61 
0,40-0,82 
Hình dạng ĐMR 
92,8 
80,5 - 98,5 
75,0 
34,9 - 96,8 
97,0 
84,6 - 99,9 
85,7 
45,5 - 97,7 
94,2 
83,2 - 98,2 
0,86 
0,67-1,00 
PI ĐMNG 
40,4 
25,6 - 56,7 
50,0 
15,7 - 84,3 
38,2 
22,1 - 56,4 
16,0 
8,3 - 28,5 
76,4 
59,0 - 88,0 
0,44 
0,22-0,67 
PSV ĐMNG 
73,8 
57,9 - 86,1 
37,5 
8,5 - 75,5 
82,3 
65,4 - 93,2 
33,3 
13,6 - 61,2 
84,8 
76,2 - 90,7 
0,60 
0,37-0,83 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 130 
Đặc điểm 
Độ chính xác 
(KTC 95%) 
Độ nhạy 
(KTC 95%) 
Độ đặc hiệu 
(KTC 95%) 
Tiên đoán dương 
(KTC 95%) 
Tiên đoán âm 
(KTC 95%) 
AUC 
(KTC 95%) 
IFI Eo ĐMC 
80,9 
65,8 - 91,4 
87,5 
47,3 - 99,6 
79,4 
62,1 - 91,3 
50,0 
32,9 - 67,0 
96,4 
81,0 - 99,4 
0,16 
0,67-0,99 
PI Eo ĐMC 
88,1 
74,3 - 96,0 
50,0 
15,7 - 84,3 
97,0 
84,6 - 99,9 
80,0 
33,9 - 96,8 
89,1 
80,4 - 94,3 
0,84 
0,67-0,99 
BÀN LUẬN 
Tác giả Del Rio M(2) kết cục chu sinh bất lợi 
có sự liên hệ đáng kể với sự tăng PI eo ĐM chủ 
(AUC 0,77; 95% CI, 0,63–0,92; p <0,005). Sự xuất 
hiện của dòng máu chảy ngược trong eo ĐM chủ 
có liên quan chặt chẽ đến kết quả chu sinh bất 
lợi, đặc biệt là thai lưu trong tử cung. Thai nhi 
sinh non có chậm tăng trưởng cho thấy vận tốc 
tuyệt đối trong eo ĐM chủ giảm, và rất có thể 
phản ánh lưu lượng máu toàn thân giảm. 
Nghiên cứu của Abdelrazzaq K năm 2013 tại 
Thổ Nhĩ Kỳ(12) đã chứng minh thông số Doppler 
eo ĐM chủ là hữu ích để xác định trước tình 
trạng xấu đi của dòng chảy trong ống tĩnh mạch 
và chuyển sang tình trạng nhiễm toan thai nhi ở 
thai chậm tăng trưởng. Dữ liệu cho thấy vai trò 
tiềm năng của siêu âm Doppler eo ĐM chủ trong 
theo dõi lâm sàng những thai chậm tăng trưởng 
nghiêm trọng. 
Giá trị tiên đoán toan hóa máu nặng của IFI 
và PI eo ĐM não giữa tương đối tốt, với IFI có độ 
chính xác 80,9%, độ nhạy 87,5%, độ đặc hiệu 
79,4%, tiên đoán dương 50,0%, tiên đoán âm 
96,4%; PI có có độ chính xác 88,1%, độ nhạy 
50,0%, độ đặc hiệu 97,0%, tiên đoán dương 
80,0%, tiên đoán âm 89,1%. Tương tự theo tác giả 
Del Rio M(2) kết cục chu sinh bất lợi có sự liên hệ 
đáng kể với sự tăng PI eo ĐM chủ (AUC 0,77; 
95% CI, 0,63–0,92; p <0,005). Tương quan có ý 
nghĩa (p <0,001) được tìm ra giữa dòng chảy 
ngược trong eo ĐM chủ và kết cục chu sinh bất 
lợi, tỷ lệ tử vong chung cao hơn ở nhóm dòng 
chảy ngược (70% vs 4,8%, p <0,001). Trong 80% 
các thai thì sự đảo ngược dòng chảy trong eo 
ĐM chủ diễn ra trước trong ống tĩnh mạch từ 
24–48 h. Tác giả kết luận cho thấy rằng sự xuất 
hiện của dòng máu chảy ngược trong eo ĐM chủ 
có liên quan chặt chẽ đến kết quả chu sinh bất 
lợi, đặc biệt là thai lưu trong tử cung. Thai nhi 
sinh non có chậm tăng trưởng cho thấy vận tốc 
tuyệt đối trong eo ĐM chủ giảm, và rất có thể 
phản ánh lưu lượng máu toàn thân giảm. 
Nghiên cứu của Abdelrazzaq K năm 2013 
tại Thổ Nhĩ Kỳ(9) đã chứng minh thông số 
Doppler eo ĐM chủ là hữu ích để xác định 
trước tình trạng xấu đi của dòng chảy trong 
ống tĩnh mạch và chuyển sang tình trạng 
nhiễm toan thai nhi ở thai chậm tăng trưởng. 
Những kết quả này chứng minh rằng dòng 
chảy eo ĐM chủ bất thường làm tăng tỷ lệ mắc 
bệnh và tử vong chu sinh. 
Hạn chế của nghiên cứu 
Mối tương quan tốt nhất giữa eo ĐM chủ và 
kết cục chu sinh đạt được khi dạng sóng 
Doppler được phân loại là xuôi dòng hoặc 
ngược dòng. Tuy nhiên trong nghiên cứu này, 
do mẫu nghiên cứu nhận vô là những trường 
hợp thai chậm tăng trưởng giai đoạn 1 và 2, 
không có giai đoạn 3,4 nên nghiên cứu cũng thu 
nhận được IFI loại 1, 2, và 3 là nhóm bắt đầu có 
dòng phụt ngược. 
Siêu âm Doppler mạch máu là một kỹ thuật 
khó, đòi hỏi người thực hiện phải có kinh 
nghiệm, tuân thủ đúng các kỹ thuật yêu cầu và 
cần một máy siêu âm đủ tiêu chuẩn cần thiết để 
tránh những sai số có thể có. Do đó, cần chuyên 
gia chẩn đoán hình ảnh có nhiều kinh nghiệm để 
thực thi và thiết bị siêu âm có độ tương phản tốt, 
đủ tiêu chuẩn để hạn chế sai số tối đa. 
Cỡ mẫu và năng lực mẫu đủ mạnh để phân 
tích giá trị nội kiểm cho mục tiêu nghiên cứu 
chính trong giai đoạn hiện tại. Cần thêm nghiên 
cứu Cohort dài hơn với cỡ mẫu lớn hơn để xác 
định ngoại kiểm thật sự cho vai trò của siêu âm 
Doppler eo ĐM chủ. 
KẾT LUẬN 
Như vậy, với siêu âm Doppler eo ĐM chủ có 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 131 
giá trị tiên đoán tương đối tốt tình trạng toan 
hóa máu trung bình nặng pH ≤7,2. Cung cấp 
thêm thông số để bác sĩ lâm sàng đưa ra quyết 
định dưỡng thai tiếp hay chấm dứt thai kỳ, đảm 
bảo cho ra đời bé không quá non tháng và không 
nhiễm toan quá nặng. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Tynan D, Alphonse J, Henry A, et al (2016). The Aortic Isthmus: 
A Significant yet Underexplored Watershed of the Fetal 
Circulation. Fetal Diagn Ther, 40(2): 81-93. 
2. Del Rio M, Martinez JM, Figueras F, et al (2008). Doppler 
assessment of the aortic isthmus and perinatal outcome in 
preterm fetuses with severe intrauterine growth restriction. 
Ultrasound Obstet Gynecol, 31(1):41-7. 
3. Flood K, Unterscheider J, Daly S, et al (2014). The role of brain 
sparing in the prediction of adverse outcomes in intrauterine 
growth restriction: results of the multicenter PORTO Study. Am 
J Obstet Gynecol, 288.e1-5. 
4. Figueroa-Diesel H, Hernandez-Andrade E, Acosta-Rojas R et al 
(2007). Doppler changes in the main fetal brain arteries at 
different stages of hemodynamic adaptation in severe 
intrauterine growth restriction. Ultrasound Obstet Gynecol, 
30(3):297-302. 
5. Bhide A, Acharya G, Bilardo CM, et al (2013). ISUOG practice 
guidelines: use of Doppler ultrasonography in obstetrics. 
Ultrasound Obstet Gynecol, 41(2):233-239. 
6. Morris RK, SayR, Robson SC, et al (2012). Systematic review and 
meta-analysis of middle cerebral artery Doppler to predict 
perinatal wellbeing. Eur J Obstet Gynecol Reprod Biol, 165(2):141-
155. 
7. Morris RK, Malin G, Robson SC, et al (2011). Fetal umbilical 
artery Doppler to predict compromise of fetal/neonatal 
wellbeing in a high-risk population: systematic review and 
bivariate meta-analysis. Ultrasound Obstet Gynecol, 37(2):135-42. 
8. Morales-Rosello J, Khalil A, Morlando M, et al (2014). Changes 
in fetal Doppler indices as a marker of failure to reach growth 
potential at term. Ultrasound Obstet Gynecol, 43(3):303-10. 
9. Morris RK, Selman TJ, Verma M, et al (2010). Systematic review 
and meta-analysis of the test accuracy of ductus venosus 
Doppler to predict compromise of fetal/neonatal wellbeing in 
high risk pregnancies with placental insufficiency. Eur J Obstet 
Gynecol Reprod Biol, 152(1):3-12. 
10. Low JA, Pancham SR, Piercy WN, et al (1977). Intrapartum fetal 
asphyxia: clinical characteristics, diagnosis, and significance in 
relation to pattern of development. Am J Obstet Gynecol, 
129(8):857-72. 
11. Malin GL, Morris RK, Khan KS (2010). Strength of association 
between umbilical cord pH and perinatal and long term 
outcomes: systematic review and meta-analysis. BMJ, 340:c1471 
12. Abdelrazzaq K, Yeniel AO, Ergenoglu AM et al (2013). Fetal 
aortic isthmus Doppler measurements for prediction of 
perinatal morbidity and mortality associated with fetal growth 
restriction, Acta Obstet Gynecol Scand, 92(6):656-61. 
Ngày nhận bài báo: 10/11/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 06/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021 

File đính kèm:

  • pdfvai_tro_sieu_am_doppler_eo_dong_mach_chu_tien_doan_toan_hoa.pdf