Vai trò siêu âm bìu trong tiên lượng kết quả phẫu thuật trích tinh trùng ở các trường hợp vô tinh

Đặt vấn đề: Siêu âm bìu có thể cung cấp các thông tin trong đánh

giá tinh hoàn, mào tinh và các bất thường về hình thái cơ quan sinh

dục nam, đặc biệt ở các bệnh nhân vô sinh. Thực hành lâm sàng

không chỉ định siêu âm bìu một cách thường quy. Trong trường hợp

vô tinh, siêu âm bìu có thể có giá trị tiên lượng có tinh trùng trong

phẫu thuật trích tinh trùng. Nghiên cứu này nhằm khảo sát đặc điểm

siêu âm bìu ở các bệnh nhân vô tinh và tìm hiểu mối liên quan giữa

các thông số siêu âm bìu với kết quả phẫu thuật trích tinh trùng.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang

các trường hợp vô sinh nam đến khám tại Trung tâm Nội tiết sinh

sản và vô sinh, Bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế từ tháng

6/2016 đến tháng 5/2018 có kết quả tinh dịch đồ kết luận vô tinh.

Tất cả bệnh nhân đều được siêu âm bìu và xét nghiệm nội tiết sinh

sản, được chỉ định phẫu thuật trích tinh trùng từ tinh hoàn, mào tinh

bằng các kỹ thuật TESA, PESA và TESE. Kết quả được phân tích

bằng phần mềm SPSS 20.0.

Kết quả: Tổng số 127 trường hợp vô sinh nam vô tinh được đưa

vào mẫu nghiên cứu. Đặc điểm giữa hai nhóm có tinh trùng và không

có tinh trùng sau phẫu thuật có sự khác biệt về độ tuổi, phân loại

vô sinh. Thể tích tinh hoàn trung bình 18.2±16.6ml (trái: 9.0±8.3ml;

phải: 9.2±8.5ml), Giãn tĩnh mạch thừng tinh 11.8%; kết quả phẫu

thuật trích tinh trùng: có tinh trùng 50.4%, không có tinh trùng

49.6%. So sánh thể tích tinh hoàn giữa nhóm phẫu thuật có (26.8±

18.7ml) và không tìm thấy tinh trùng (9.5 ± 7.1ml), khác biệt có ý

nghĩa với OR=17.3 (95%CI: 12.3-22.3; p<0.05); tại="" điểm="" cắt="">

thể tích tinh hoàn 13.75ml có giá trị dự báo có tinh trùng là 76.6%.

Kết luận: Đánh giá thể tích tinh hoàn trên siêu âm hữu ích cho

việc tiên lượng kết quả phẫu thuật trích tinh trùng ở các bệnh nhân vô tinh.

pdf 6 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Vai trò siêu âm bìu trong tiên lượng kết quả phẫu thuật trích tinh trùng ở các trường hợp vô tinh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Vai trò siêu âm bìu trong tiên lượng kết quả phẫu thuật trích tinh trùng ở các trường hợp vô tinh

Vai trò siêu âm bìu trong tiên lượng kết quả phẫu thuật trích tinh trùng ở các trường hợp vô tinh
NGUYỄN THỊ THANH TÂM, LÊ MINH TÂM
114
Tậ
p 
16
, s
ố 
02
Th
án
g 
08
-2
01
8
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
Nguyễn Thị Thanh Tâm(1), Lê Minh Tâm(2) 
(1) Bác sĩ Nội trú Chẩn đoán hình ảnh, (2) Đại học Y Dược Huế
VAI TRÒ SIÊU ÂM BÌU
TRONG TIÊN LƯỢNG KẾT QUẢ PHẪU THUẬT
TRÍCH TINH TRÙNG Ở CÁC TRƯỜNG HỢP VÔ TINH
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Thị Thanh Tâm, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 08/06/2018
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
25/06/2018
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 29/06/2018
Từ khóa: siêu âm bìu, phẫu 
thuật trích tinh trùng, vô tinh.
Key words: scrotal ultrasound, 
surgical sperm retrieval, 
azoospermia
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Siêu âm bìu có thể cung cấp các thông tin trong đánh 
giá tinh hoàn, mào tinh và các bất thường về hình thái cơ quan sinh 
dục nam, đặc biệt ở các bệnh nhân vô sinh. Thực hành lâm sàng 
không chỉ định siêu âm bìu một cách thường quy. Trong trường hợp 
vô tinh, siêu âm bìu có thể có giá trị tiên lượng có tinh trùng trong 
phẫu thuật trích tinh trùng. Nghiên cứu này nhằm khảo sát đặc điểm 
siêu âm bìu ở các bệnh nhân vô tinh và tìm hiểu mối liên quan giữa 
các thông số siêu âm bìu với kết quả phẫu thuật trích tinh trùng.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang 
các trường hợp vô sinh nam đến khám tại Trung tâm Nội tiết sinh 
sản và vô sinh, Bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế từ tháng 
6/2016 đến tháng 5/2018 có kết quả tinh dịch đồ kết luận vô tinh. 
Tất cả bệnh nhân đều được siêu âm bìu và xét nghiệm nội tiết sinh 
sản, được chỉ định phẫu thuật trích tinh trùng từ tinh hoàn, mào tinh 
bằng các kỹ thuật TESA, PESA và TESE. Kết quả được phân tích 
bằng phần mềm SPSS 20.0. 
Kết quả: Tổng số 127 trường hợp vô sinh nam vô tinh được đưa 
vào mẫu nghiên cứu. Đặc điểm giữa hai nhóm có tinh trùng và không 
có tinh trùng sau phẫu thuật có sự khác biệt về độ tuổi, phân loại 
vô sinh. Thể tích tinh hoàn trung bình 18.2±16.6ml (trái: 9.0±8.3ml; 
phải: 9.2±8.5ml), Giãn tĩnh mạch thừng tinh 11.8%; kết quả phẫu 
thuật trích tinh trùng: có tinh trùng 50.4%, không có tinh trùng 
49.6%. So sánh thể tích tinh hoàn giữa nhóm phẫu thuật có (26.8± 
18.7ml) và không tìm thấy tinh trùng (9.5 ± 7.1ml), khác biệt có ý 
nghĩa với OR=17.3 (95%CI: 12.3-22.3; p<0.05); tại điểm cắt tổng 
thể tích tinh hoàn 13.75ml có giá trị dự báo có tinh trùng là 76.6%. 
Kết luận: Đánh giá thể tích tinh hoàn trên siêu âm hữu ích cho 
việc tiên lượng kết quả phẫu thuật trích tinh trùng ở các bệnh nhân 
vô tinh.
Từ khóa: siêu âm bìu, phẫu thuật trích tinh trùng, vô tinh.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
115
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
1. Đặt vấn đề
Vô tinh chiếm khoảng 1% nam giới và khoảng 
10-15% các trường hợp vô sinh nam(8) gồm vô tinh 
không do tắc nghẽn (nguyên nhân trước tinh hoàn 
hoặc tại tinh hoàn) và vô tinh do tắc nghẽn (nguyên 
nhân sau tinh hoàn). Việc chẩn đoán nguyên nhân 
vô tinh rất quan trọng vì các phương thức điều trị 
đều phải dựa vào nguyên nhân, tuy nhiên vấn đề 
này khá phức tạp đòi hỏi nhiều phương tiện kỹ thuật 
xét nghiệm cao cấp, mặt khác không phải trường 
hợp nào cũng có thể tìm ra nguyên nhân chính xác 
hoặc một bệnh nhân có thể kết hợp nhiều yếu tố. 
Do đó, trong thực tế, các trường hợp vô tinh thường 
được chỉ định phẫu thuật trích tinh trùng (TESA, 
PESA, TESE) sau khi có kết quả xét nghiệm nội tiết 
(LH, FSH, Testosterol) để loại trừ các trường hợp vô 
tinh thứ phát kết hợp các kỹ thuật hình ảnh để xác 
định các bất thường về mặt hình thái học ảnh hưởng 
trực tiếp đến khả năng sinh sản của nam giới. 
Tinh hoàn có chức năng nội tiết và chức năng 
sản xuất tinh trùng, các ống sinh tinh chiếm đến 
70-80% khối lượng tinh hoàn, do đó việc đánh 
giá thể tích tinh hoàn phản ánh khả năng sinh tinh 
trùng ở nam giới [15], chức năng tinh hoàn có thể 
được đánh giá qua khám lâm sàng, phân tích tinh 
dịch đồ, chụp Xquang ống dẫn tinh, siêu âm bìu và 
sinh thiết tinh hoàn. 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(02), 114 - 119, 2018
Tập 16, số 02
Tháng 08-2018
Abstract 
ROLE OF SCROTAL ULTRASOUND ON PREDICTION OF SURGICAL SPERM 
RETRIEVAL RESULT IN AZOOSPERMIC PATIENTS 
Background: Scrotal ultrasound can provide the information of testis, epididymis and other 
abnormalities of male genital organ, especially in infertile men. Scrotal ultrasound is not indicated as 
routine practice. In men with azoospermia, this investigation can be helpful in prognosis of surgical 
sperm retrieval. This study aims to determine scrotal ultrasound characteristics in azoospermic 
patients and to evaluate the relationship between scrotal untrasound values and the result of surgical 
sperm retrieval.
Materials and methods: Cross-sectional descriptive study 127 cases of infertility men who examined 
at Hue Center for Reproductive Endocrinology and Infertility (HUECREI), Hue University Hospital 
from 6/2016 to 5/2018 with azoospermia by semen analysis. All patients had ultrasound scan and 
reproductive endocrine tests, were performed surgical sperm retrieval from testes, epididymides by 
TESA, PESA and TESE techniques. The results are analysed by SPSS 20.0 software.
Results: The characteristics of two groups have sperm and have no sperm after performing 
surgical sperm retrieval have distinctive of age, infertility type. The mean testicular volume of 127 
azoospermic patients was 18.2±16.6ml (left testis 9.0±8.3ml, right testis 9.2±8.5ml), varicocele 
15 cases (11.8%), results of surgical sperm retrieval: have sperm 64 cases (50.4%). Comprising 
testicular volume between have sperm (26.8±18.7ml) and haven’t sperm group (9.5±7.1ml), having 
meaningful difference with OR=17.3 (95%CI: 12.3-22.3; p<0.05), the cut-off value of the testis 
volume is 13.75ml, with sensitivity of 76.6% and specificity of 79.4%. Testicular volume has a strong 
correlation with results of surgical sperm retrieval (p<0.05)
Conclusion: The measurement of testicular volume can be helpful for predicting the result of 
surgical sperm retrieval
Key words: scrotal ultrasound, surgical sperm retrieval, azoospermia.
NGUYỄN THỊ THANH TÂM, LÊ MINH TÂM
116
Tậ
p 
16
, s
ố 
02
Th
án
g 
08
-2
01
8
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
Hiện nay, siêu âm bìu là kĩ thuật hình ảnh đang 
ngày càng được chỉ định rộng rãi nhờ có nhiều ưu 
điểm: phát hiện được các bất thường về mặt hình 
thái học, kỹ thuật không xâm lấn, dễ thực hiện và 
có thể lặp lại nhiều lần mà không gây nguy cơ 
nhiễm xạ cho bệnh nhân. Tại Việt Nam, vô sinh do 
nam giới ngày càng được quan tâm và các trường 
hợp vô tinh được phát hiện ngày càng nhiều. Việc 
tiên lượng khả năng có tinh trùng nhờ phẫu thuật 
là rất cần thiết, có ý nghĩa khoa học và mang tính 
thực hành cao. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này 
nhằm mục tiêu khảo sát các đặc điểm tinh hoàn, 
mào tinh hoàn trên siêu âm ở các bệnh nhân vô 
tinh và tìm hiểu mối liên quan giữa các đặc điểm 
siêu âm bìu với kết quả phẫu thuật trích tinh trùng.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu được 
thực hiện trên 127 bệnh nhân đến khám và điều 
trị tại Trung tâm nội tiết sinh sản và vô sinh Bệnh 
viện Trường Đại học Y Dược Huế từ tháng 6/2016 
đến tháng 5/2018 với chẩn đoán là vô tinh 
(Azoospermia) theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế 
giới WHO 2010, sau 2 lần làm xét nghiệm tinh dịch 
đồ (quay ly tâm), không tìm thấy tinh trùng trong 
mẫu tinh dịch. Tất cả các trường hợp này được siêu 
âm bìu, và phẫu thuật trích tinh trùng từ tinh hoàn 
và mào tinh. Loại khỏi nghiên cứu các trường hợp 
đang mắc các bệnh toàn thân cấp tính, viêm nhiễm 
đường tiết niệu sinh dục cấp, có rối loạn chức năng 
gan hay bệnh ác tính, xuất tinh ngược dòng.
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang
Các bước tiến hành
- Khai thác và ghi nhận các dữ liệu về hành 
chính, tiền sử, các lâm sàng theo mẫu định sẵn. 
- Xét nghiệm tinh dịch đồ: kỹ thuật xét nghiệm 
và đánh giá theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế 
giới 2010: Vô tinh được xác định khi không tìm 
thấy tinh trùng trong hai mẫu tinh dịch khác nhau 
sau quay ly tâm (1000xg trong 15 phút) [17].
 - Siêu âm bìu: Siêu âm 2D đánh giá thể tích tinh 
hoàn theo công thức Lambert Vtinh hoàn=WxHxLx0.71 
(ml), ghi nhận các bất thường ở bìu. Siêu âm Doppler 
đánh giá giãn tĩnh mạch thừng tinh.-Phẫu thuật trích 
tinh trùng thực hiện tại Trung tâm nội tiết sinh sản 
và vô sinh - Bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế 
gồm 3 kỹ thuật: chọc hút tinh hoàn qua da (TESA), 
chọc hút tinh trùng từ mào tinh qua da (PESA), phẫu 
thuật tinh hoàn (TESE). Đánh giá từ mẫu thu được: 
Có tinh trùng, không có tinh trùng. Đầu tiên bệnh 
nhân được trích tinh trùng theo phương pháp TESA 
từng bên. Nếu TESA thất bại với hai bên tinh hoàn 
thì tiến hành kĩ thuật PESA ở tinh hoàn bên phải, 
nếu không có sẽ làm với tinh hoàn bên trái. Sau khi 
làm PESA hai bên tinh hoàn mà không có tinh trùng 
sẽ tiến hành kỹ thuật TESE ngay sau đó cũng bắt 
đầu với tinh hoàn bên phải trước nếu không có sẽ 
làm với bên trái: Bệnh nhân được tiền mê. Ở vị trí 
phẫu thuật trên tinh hoàn, bác sĩ dùng dao rạch mở 
da bìu vào bao trắng tinh hoàn, cắt lấy mảnh mô 
tinh hoàn, xé mô để tìm tinh trùng dưới kính hiển vi 
phóng đại 300 lần. Bệnh nhân ra về 4 - 6 giờ sau 
thủ thuật nếu không thấy biến chứng. 
Xử lý số liệu: Xử lý số liệu theo phương pháp 
thống kê y học với phần mềm thống kê SPSS 20.0. 
Xác định tỉ lệ, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn các 
biến số về đặc điểm chung của bệnh nhân; Phân 
tích mối liên quan giữa các biến tuổi, thể tích tinh 
hoàn bằng Independent-sample T test; phân tích 
mối liên quan giữa loại vô sinh, tiền sử phẫu thuật, 
giãn tĩnh mạch thừng tinh bằng kiểm định Fisher 
hoặc Chi bình phương. Sử dụng đường cong ROC 
để tìm ngưỡng thể tích tinh hoàn tiên đoán khả 
năng tìm thấy tinh trùng sau phẫu thuật. Kết quả 
được đánh giá là có ý nghĩa khi p<0,05.
3. Kết quả
Qua nghiên cứu 127 bệnh nhân vô tinh được 
phẫu thuật trích tinh trùng, chúng tôi ghi nhận một 
số đặc điểm như sau:
Đặc điểm N %
Tuổi trung bình (năm) 34.5 ±7.8
Thời gian vô sinh (năm) 3.9 ±3.0
Loại vô sinh
Vô sinh 1 118 92.9
Vô sinh 2 9 7.1
BMI (kg/m2) 22.3± 2.6
Tiền sử quai bị 48 37.8
Hút thuốc lá 93 73.2
Uống rượu bia 73 57.5
Tiền sử phẫu thuật 12 9.4
Bảng 1: Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
117
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(02), 114 - 119, 2018
Tập 16, số 02
Tháng 08-2018
Độ tuổi trung bình nhóm nghiên cứu 34.5 ±7.8, 
tuổi lớn nhất là 70 tuổi, tuổi nhỏ nhất là 24 tuổi; 
thời gian vô sinh trung bình 3.9 ±3.0 năm; vô sinh 
1 chiếm chủ yếu 92.9%; BMI trung bình 22.3± 2.6; 
tiền sử mắc quai bị 37,8%, hút thuốc lá 73,2%, uống 
rượu bia 57.5% và tiền sử phẫu thuật chiếm 9.4%.
Giãn tĩnh mạch thừng tinh gặp trong 15 trường 
hợp (11.8%), tổng thể tích tinh hoàn trung bình là 
18.2±16.6ml (tinh hoàn trái 9.0±8.3ml và tinh 
hoàn phải 9.2±8.5ml
Có 64 trường hợp (50.4%) tìm thấy tinh trùng 
sau phẫu thuật.
Đặc điểm giữa hai nhóm có tinh trùng và không 
có tinh trùng sau phẫu thuật có sự khác biệt về độ tuổi, 
tiền sử phẫu thuật, phân loại vô sinh, thể tích tinh hoàn.
Đường cong ROC xác định giá trị dự báo của thể 
tích tinh hoàn trong mổ trích tinh trùng thành công
Bất thường trên siêu âm bìu N %
Giãn tĩnh mạch thừng tinh 15 11.8
Tổng thể tích tinh hoàn 18.2±16.6
Tinh hoàn trái 9.0±8.3
Tinh hoàn phải 9.2±8.5
Kết quả phẫu thuật
Có tinh trùng 64 50.4
Không có tinh trùng 63 49.6
Bảng 2: Các đặc điểm siêu âm bìu và kết quả phẫu thuật
Kết quả PT
Thể tích
Có tinh 
trùng
Không có 
tinh trùng p-value OR (95%CI)
Tuổi (năm) 36.5 ± 9.7 32.4 ± 4.5 p=0.03 OR 4.1 (95% CI: 1.5-6.8) 
Thể tích tinh hoàn trái (ml) 13.4 ± 9.5 4.5 ± 3.5 p=0.000 OR 8.7 (95% CI: 6.2-11.2)
Thể tích tinh hoàn phải (ml) 13.5 ±9.4 4.9 ± 4.1 p=0.000 OR 8.6 (95% CI: 6.0-11.1)
Tổng thể tích tinh hoàn (ml) 26.8 ± 18.7 9.5 ± 7.1 p=0.000 OR 17.3 (95% CI: 12.3-22.3)
Loại vô sinh (n)
Vô sinh 1 56 62
p=0.033
Vô sinh 2 8 1
Giãn tĩnh mạch thừng tinh (n) 8 7 p=0.8
Có tiền sử phẫu thuật 6 6 p=0.03
Bảng 3: Mối liên quan giữa đặc điểm siêu âm bìu và kết quả phẫu thuật trích tinh trùng
Se: Độ nhạy, Sp: độ đặc hiệu, PPV: Giá trị tiên 
đoán dương tính, NPV: giá trị tiên đoán âm tính, LR+: 
tỷ lệ tiên đoán dương tính, LR-: tỷ lệ tiên đoán âm tính.
4. Bàn luận
Các bệnh nhân có độ tuổi trung bình 34.5±7.8 
tuổi, thời gian vô sinh trung bình 3.9±3.0 năm, chủ 
yếu là đối tượng vô sinh 1 (nguyên phát). 
Nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả giãn tĩnh 
mạch thừng tinh gặp trong 15 trường hợp (11.8%). 
Tỷ lệ các bệnh nhân vô tinh và giảm tinh trùng mức 
độ nặng có giãn tĩnh mạch thừng tinh khoảng 4.3% 
đến 13.3% [3], ở bệnh nhân vô sinh thứ phát tỷ lệ 
này lên đến 81% [5] . Tuy nhiên có một số nghiên 
cứu không xác lập mối liên quan giữa sự gia tăng 
tỷ lệ giãn tĩnh mạch thừng tinh ở nam giới vô sinh 
thứ phát [7]. Giãn tĩnh mạch thừng tinh tăng dần 
theo tuổi, nguy cơ mắc tăng 10% sau mỗi 10 năm, 
tỷ lệ mắc giãn tĩnh mạch thừng tinh khoảng 18% ở 
tuổi 30 – 39, 24% ở tuổi 40 – 49 và tăng đến 75% 
ở tuổi 80 – 89 [11]. Mặc dù mối liên quan giữa 
giãn tĩnh mạch thừng tinh với vô sinh nam đã được 
chứng minh qua nhiều nghiên cứu nhưng cơ chế 
gây ra ảnh hưởng của tình trạng này đến khả năng 
sinh sản của nam giới chưa được giải thích một 
cách rõ rang [18]. Trong nghiên cứu của chúng tôi 
không có mối liên quan giữa giãn tĩnh mạch thừng 
tinh và loại vô sinh cũng như kết quả phẫu thuật 
trích tinh trùng. Siêu âm bìu có vai trò trong chẩn 
đoán nguyên nhân ở các bệnh nhân vô tinh, theo 
nghiên cứu của Abdulwahed SR ở 268 trường hợp 
vô tinh được chia thành hai nhóm vô tinh tắc nghẽn 
và vô tinh không tắc nghẽn dựa trên mô bệnh học 
thì thể tích tinh hoàn nhỏ, giãn tĩnh mạch thừng tinh 
ở trong và ngoài tinh hoàn là những bất thường 
phổ biến nhất được phát hiện qua siêu âm bìu ở 
các trường hợp vô tinh tắc nghẽn, trong khi đó, 
viêm mào tinh hoàn, nang thừng tinh và giãn ống 
dẫn tinh là các bất thường phổ biến ở các trường 
hợp vô tinh tắc nghẽn, độ đặc hiệu của siêu âm bìu 
trong phát hiện nguyên nhân vô tinh tắc nghẽn khá 
cao (87%) nhưng độ nhạy lại thấp (29.8%) do đó 
Cut off AUC Se Sp PPV NPV LR+ LR-
VTinh hoàn trái 6.945 0.855 76.6 82.8 81.7 77.9 4.45 0.075
VTinh hoàn phải 7.255 0.843 76.6 82.8 81.7 77.9 4.45 0.075
VTổng 13.75 0.850 76.6 79.4 79.0 76.9 3.72 0.035
NGUYỄN THỊ THANH TÂM, LÊ MINH TÂM
118
Tậ
p 
16
, s
ố 
02
Th
án
g 
08
-2
01
8
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
kết quả siêu âm bìu thường có giá trị loại trừ hơn là 
chẩn đoán vô tinh tắc nghẽn [1].
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tổng thể 
tích trung bình cả hai tinh hoàn là 18.2 ± 16.6 ml 
(tinh hoàn trái là 9.0 ± 8.3ml và tinh hoàn phải 
là 9.2±8.5ml). So sánh với kết quả của tác giả 
Sharath Kumar (2013) ở nhóm nam giới có tinh 
dịch đồ bất thường, thể tích tinh hoàn trung bình 
là 14.61±7.21ml; tinh hoàn phải 7.62±4.056; tinh 
hoàn trái 6.99±3.60 ml [9]. Vì có sự khác biệt trong 
lựa chọn phương pháp trích tinh trùng ở bệnh nhân 
OA (TESA, Perc Biopsy, PESA, MESA) và NOA 
(TESE, micro TESE) nên một số tác giả nghiên cứu 
giá trị của siêu âm 2D và siêu âm Doppler trong 
phân biệt hai nhóm này, Min Hoan Moon nghiên 
cứu các bệnh nhân vô tinh cho kết quả thể tích tinh 
hoàn trung bình ở nhóm vô tinh tắc nghẽn là 11.6 
ml và nhóm vô tinh không do tắc nghẽn là 8.3 ml, sự 
khác biệt giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê với p < 
0.05. Theo Huang IS và cộng sự (2018) nghiên cứu 
phân biệt NOA và OA dựa vào nồng độ hormon và 
thể tích tinh hoàn cho kết quả kết hợp giữa nồng độ 
FSH > 9,2mIU/ml và thể tích tinh hoàn phải < 15ml 
có giá trị tiên đoán dương cho NOA lên đến 99,2% 
[6]. Dù có sự khác nhau về thể tích tinh hoàn trong 
từng nghiên cứu nhưng đa số cho thấy thể tích tinh 
hoàn trung bình ở các trường hợp vô sinh nam nhỏ 
hơn so với tinh hoàn ở nam giới bình thường.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, sự khác biệt 
giữa thể tích tinh hoàn trung bình và kết quả phẫu 
thuật trích tinh trùng có ý nghĩa thống kê (p=0.000), 
thể tích tinh hoàn trung bình càng lớn thì khả năng 
phẫu thuật thành công, tức là có tinh trùng trong 
mẫu thu được càng cao, thể tích tinh hoàn trung 
bình ở nhóm có tinh trùng là 26.8±18.7ml và thể 
tích tinh hoàn trung bình ở nhóm không có tinh 
trùng là 9.5±7.1ml, khi tổng thể tích tinh hoàn 
trung bình > 31ml thì 100% trường hợp tìm được 
tinh trùng, tổng thể tích tinh hoàn < 7ml thì có đến 
96.4% không tìm được tinh trùng. So sánh với kết 
quả của tác giả Tang WH (2012) nghiên cứu mối 
liên quan giữa thể tích tinh hoàn với kết quả phẫu 
thuật TESA ở các bệnh nhân NOA, kết quả cho 
thấy thể tích tinh hoàn có nhóm không có tinh trùng 
và có tinh trùng lần lượt là tinh hoàn trái (7.07 
±1.06) ml và (11.75 ±1.38) ml, tinh hoàn phải 
(7.37±1.37) ml và (11.70 ±1.98) ml, sự khác biệt 
về thể tích tinh hoàn giữa hai nhóm này không có 
ý nghĩa thống kê, giá trị điểm cắt của thể tích tinh 
hoàn là 9ml với độ nhạy là 93.8%/89.6% (trái/
phải) và độ đặc hiệu 100%/94.3% (trái/phải) 
[16]. So sánh với kết quả nghiên cứu của tác giả 
Peyman (2017) Theo nghiên cứu của Noritoshi 
Enatsu (2016) ở đối tượng NOA, đánh giá các yếu 
tố tiên lượng kết quả micro-TESE cho thấy thể tích 
tinh hoàn trung bình của 329 bệnh nhân vô tinh 
không do tắc nghẽn là 10.9±5.1ml, trong đó thể 
tích tinh hoàn trung bình ở nhóm sau phẫu thuật có 
tinh trùng là 11,2±5.4ml, và nhóm không có tinh 
trùng là 10.8±5.1ml, sự khác biệt giữa hai nhóm 
không có ý nghĩa thống kê với p=0.42 [4]. Nghiên 
cứu trên 170 bệnh nhân NOA thực hiện TESE và 
micro-TESE cho thấy tỷ lệ tìm thấy tinh trùng là 
48.8%, thể tích tinh hoàn có liên quan đến kết quả 
phẫu thuật (OR, 10.5, p< 0.01) [14]. Sự khác biệt 
trong nghiên cứu của chúng tôi so với các nghiên 
cứu trên là chúng tôi không phân biệt vô tinh tắc 
nghẽn và vô tinh không tắc nghẽn, trong khi các 
nghiên cứu trên chủ yếu thực hiện trên đối tượng 
vô tinh không do tắc nghẽn (các nghiên cứu còn 
khác nhau về tỷ lệ các nguyên nhân gây vô tinh tắc 
nghẽn) nên kết quả phần nào sẽ có sự khác biệt. 
Trên thực tế, nhiều nghiên cứu cho thấy thể tích 
tinh hoàn thường không giảm ở các trường hợp vô 
tinh tắc nghẽn, sự sinh tinh trùng trong các bệnh 
nhân này hoàn toàn bình thường nên tỷ lệ tìm thấy 
tinh trùng bằng các phương pháp như TESA hay 
PESE rất cao, nghiên cứu của tác giả Laurence A 
Levine đánh giá hiệu quả của PESA và TESA trên 
các bệnh nhân NOA và OA cho thấy tỷ lệ tìm thấy 
tinh trùng ở bệnh nhân NOA 47% và ở bệnh nhân 
OA là 100%(10), (13) do đó ở các bệnh nhân OA 
thể tích tinh hoàn không được đưa ra như một yếu 
tố tiên lượng kết quả phẫu thuật trích tinh trùng.
Điểm cắt của thể tích tinh hoàn trái và phải trong 
dự báo kết quả phẫu thuật trích tinh trùng lần lượt 
là 6.945ml (AUC=0.855) và 7.255ml (AUC=0.843), 
với độ nhạy và độ đặc hiệu lần lượt là 76.6% và 
82.8%, giá trị tiên đoán dương và giá trị tiên đoán âm 
là 81.7% và 77.9%. Điểm cắt tổng thể tích tinh hoàn 
là 13.75ml (AUC=0.850) với độ nhạy 76.6%, độ đặc 
hiệu 79.4%, giá trị tiên đoán dương và giá trị tiên 
đoán âm lần lượt là 79.4% và 79%. Nghiên cứu của 
chúng tôi cho thấy thể tích tinh hoàn là một yếu tố tiên 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
119
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(02), 114 - 119, 2018
Tập 16, số 02
Tháng 08-2018
lượng có giá trị cao đối với kết quả phẫu thuật trích 
tinh trùng. Nghiên cứu của tác giả Boitrelle cho thấy 
không có sự khác biệt giữa hai nhóm (có tinh trùng 
và không có tinh trùng sau TESE) về tuổi, nồng độ 
Testosterone, LH; ở các bệnh nhân tìm được tinh trùng 
cho thấy có tổng thể tích tinh hoàn lớn hơn các bệnh 
nhân không tìm thấy tinh trùng sau phẫu thuật (18± 
0.7 ml với 15±0.6ml, p=0.00013), giá trị dự đoán 
của tổng thể tích tinh hoàn đối với khả năng thành 
công của phẫu thuật TESE được đánh giá bằng diện 
tích tương ứng dưới đường cong ROC (AUC=0.606): 
với điểm cắt 16ml thì độ nhạy là 59.7%, độ đặc hiệu 
56.5%, giá trị tiên đoán dương tính 61%, giá trị tiên 
đoán âm tính 55.2%, tỉ lệ tiên đoán dương tính 1.37 
và tỷ lệ tiên đoán âm tính là 0.7 cho thấy tổng thể tích 
tinh hoàn là yếu tố tiên lượng cho kết quả TESE; phân 
tích hồi quy logistic đa biến cho thấy kết hợp giữa 
nồng độ FSH, Inhibin B và tổng thể tích tinh hoàn cho 
giá trị dự đoán kết quả phẫu thuật TESE cao nhất 
(AUC=0.663) [2]. Tác giả Hao Li phân tích gộp 5 
nghiên cứu gồm 1764 trường hợp NOA nghiên cứu 
về giá trị thể tích tinh hoàn trong dự đoán khả năng 
thu hồi tinh trùng cho kết quả AUSROC là 0.6389, 
độ nhạy 0.8 (95%CI:0.78-0.83), độ đặc hiệu 0.35 
(95%CI:0.32-0.39) [12].
5. Kết luận
Qua nghiên cứu 127 trường hợp vô tinh, chúng 
tôi rút ra kết luận: 
Thể tích tinh hoàn có giá trị trong tiên lượng kết 
quả phẫu thuật trích tinh trùng (p<0.05), tại điểm 
cắt thể tích tinh hoàn 13.75ml có giá trị dự báo có 
tinh trùng là 76.6%. 
Tài liệu tham khảo
1. Abdulwahed SR, Mohamed EE, Taha EA, Saleh MA, Abdelsalam 
YM, and ElGanainy EO. Sensitivity and specificity of ultrasonography in 
predicting etiology of azoospermia. Urology 81: 967-971, 2013.
2. Boitrelle F, Robin G, Marcelli F, Albert M, Leroy-Martin B, Dewailly D, 
Rigot JM, and Mitchell V. A predictive score for testicular sperm extraction 
quality and surgical ICSI outcome in non-obstructive azoospermia: a 
retrospective study. Hum Reprod 26: 3215-3221, 2011.
3. Czaplicki M, Bablok L, and Janczewski Z. Varicocelectomy in patients 
with azoospermia. Arch Androl 3: 51-55, 1979.
4. Enatsu N, Miyake H, Chiba K, Fujisawa M, and Predictive factors of 
successful sperm retrieval on microdissection testicular sperm extraction in 
Japanese men. Reproductive Medicine and Biology 15: 29-33, 2016.
5. Gorelick JI, and Goldstein M. Loss of fertility in men with varicocele. Fertil 
Steril 59: 613-616, 1993.
6. Huang IS, Huang WJ, and Lin AT. Distinguishing non-obstructive 
azoospermia from obstructive azoospermia in Taiwanese patients by 
hormone profile and testis size. J Chin Med Assoc 81: 531-535, 2018.
7. Jarow JP, Coburn M, and Sigman M. Incidence of varicoceles in men 
with primary and secondary infertility. Urology 47: 73-76, 1996.
8. Jarow JP, Espeland MA, and Lipshultz LI. Evaluation of the azoospermic 
patient. J Urol 142: 62-65, 1989.
9. Kumar SC, Najafi M, Vineeth VS, and Malini SS. Assessment of 
testicular volume in correlation with spermiogram of infertile males in South 
India. Biology 5: 327-335, 2013.
10. Levine LA, Dimitriou RJ, and Fakouri B. Testicular and epididymal 
percutaneous sperm aspiration in men with either obstructive or 
nonobstructive azoospermia. Urology 62: 328-332, 2003.
11. Levinger U, Gornish M, Gat Y, and Bachar GN. Is varicocele prevalence 
increasing with age? Andrologia 39: 77-80, 2007.
12. Li H, Chen LP, Yang J, Li MC, Chen RB, Lan RZ, Wang SG, Liu JH, and T 
W. Predictive value of FSH, testicular volume, and histopathological findings 
for the sperm retrieval rate of microdissection TESE in nonobstructive 
azoospermia: a meta-analysis. Asian J Androl 20: 30-36, 2018.
13. Moon MH, Kim SH, Cho JY, Seo JT, and Chun YK. Scrotal US for 
evaluation of infertile men with azoospermia. Radiology 239: 168-173, 2006.
14. Salehi P, Derakhshan-Horeh M, Nadeali Z, Hosseinzadeh M, Sadeghi 
E, Izadpanahi MH, and Salehi M. Factors influencing sperm retrieval 
following testicular sperm extraction in nonobstructive azoospermia patients. 
Clin Exp Reprod Med 44: 22-27, 2017.
15. Setchell BP, and Brooks DE. Anatomy, vasculature, innervation and 
fluids of the male reproductive tract. The Physiology of Reproduction 735-
836, 1988.
16. Tang WH, Jiang H, Ma LL, Hong K, Zhao LM, Mao JM, Liu DF, Yang Y, Bai 
Q, Huang X, and Zhang X. Correlation of testicular volume and reproductive 
hormone level with the results of testicular sperm aspiration in non-obstructive 
azoospermia patients. Zhonghua Nan Ke Xue 18: 48-51, 2012.
17. World Health Organization DoRHaR. WHO labortary manual for the 
examination and processing of human semen. World Health Organization, 
Geneva 2010.
18. Zhang Y, Ma T, Su Z, Ye M, Tian H, Li J, and Liu J. Varicoceles affect 
semen quality of infertile men in Southern China: A cross-sectional study of 
5447 cases. Medicine (Baltimore) 96: e7707, 2017.

File đính kèm:

  • pdfvai_tro_sieu_am_biu_trong_tien_luong_ket_qua_phau_thuat_tric.pdf