Vai trò phẫu thuật nạo hạch trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ có hạch N2

Trong thời gian 10 năm từ năm 2004 tới

năm 2014 có 94 bệnh nhân ung thư phổi không tế

bào nhỏ có hạch trung thất đã được phẫu thuật tại

bệnh viện Thống Nhất. 78 trường hợp cắt 1 thùy

phổi chiếm tỉ lệ 83%, 2 trường hợp cắt 2 thùy

phổi chiếm tỉ lệ 2,1%, cắt toàn bộ 1 bên phổi

trong 3 trường hợp chiếm tỉ lệ 3,2%, 3 trường

hợp mổ nội soi cắt thùy phổi chiếm tỉ lệ 3,2%, 8

trường hợp mổ thám sát sinh thiết u và hạch trung

thất chiếm tỉ lệ 8,5%. Tất cả 94 bệnh nhân đều

được hóa trị bổ trợ với phác đồ có platinum

pdf 8 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Vai trò phẫu thuật nạo hạch trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ có hạch N2", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Vai trò phẫu thuật nạo hạch trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ có hạch N2

Vai trò phẫu thuật nạo hạch trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ có hạch N2
VAI TRÒ PHẪU THUẬT NẠO HẠCH TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ CÓ HẠCH N2 
 17 
VAI TRÒ PHẪU THUẬT NẠO HẠCH TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỔI 
KHÔNG TẾ BÀO NHỎ CÓ HẠCH N2 
Đỗ Kim Quế*, Đào Hồng Quân* 
TÓM TẮT 
Trong thời gian 10 năm từ năm 2004 tới 
năm 2014 có 94 bệnh nhân ung thư phổi không tế 
bào nhỏ có hạch trung thất đã được phẫu thuật tại 
bệnh viện Thống Nhất. 78 trường hợp cắt 1 thùy 
phổi chiếm tỉ lệ 83%, 2 trường hợp cắt 2 thùy 
phổi chiếm tỉ lệ 2,1%, cắt toàn bộ 1 bên phổi 
trong 3 trường hợp chiếm tỉ lệ 3,2%, 3 trường 
hợp mổ nội soi cắt thùy phổi chiếm tỉ lệ 3,2%, 8 
trường hợp mổ thám sát sinh thiết u và hạch trung 
thất chiếm tỉ lệ 8,5%. Tất cả 94 bệnh nhân đều 
được hóa trị bổ trợ với phác đồ có platinum. 
62 trường hợp phát hiện có hạch trung thất 
trước mổ trên chụp vi tính cắt lớp chiếm tỉ lệ 
66,0%. 42 trường hợp hạch trung thất phát hiện 
có tế bào ung thư di căn trên mô bệnh học chiếm 
tỉ lệ 44,7%. 
Kết quả sớm cho thấy không có tử vong do 
phẫu thuật. 1 trường hợp chảy máu sau mổ chiếm 
tỉ lệ 1,1%. Xẹp phổi do tắc đàm 1 trường hợp, 
tràn khí màng phổi kéo dài 2 trường hợp. 
Thời gian sống thêm trung bình là 36 tháng, 
thời gian sống thêm không bệnh trung bình là 
30,4 tháng. Tỉ lệ sống thêm 5 năm là 19,1%. Có 
sự khác biệt giữa nhóm bệnh nhân có hạch N2 có 
tế bào ung thư di căn và nhóm hạch N2 không có 
tế bào ung thư di căn về thời gian sống thêm 5 
năm lần lượt là 14,3% và 23,1%. 
 Từ khoá: Ung thư phổi không tế bào nhỏ, 
hoá trị bổ trợ, 
SUMARY 
ROLE OF LYMPH NODE DISSECTION IN 
SURGICAL TREATMENT FOR NON SMALL 
CELL LUNG CANCER WITH N2 ON OPERATION 
During 10 years from 2004 to 2014 we treat 
for 94 patients who have NSCLC with N2 were 
operated in Thong Nhat hospital. Staging was 
based on AJCC 1997. 
Primary outcomes are mortality rate, 
morbidities. Over all survial, disease freed 
survival, 5 years survival. 
All patients underwent lobectomy or 
pneumonectomy with lymph node dissection. 
Adjuvant chemotherapy with platinum based 
regimen were given for all patients. 
78 patients (83,0%) underwent lobectomy, 
2 patients (2,1%) underwent bilobectomy, 3 
patients (3,2%) underwent pneumonectomy; 3 
patients (3,2%) underwent endoscopic 
lobectomy, 8 patients (8,5%) underwent 
explorative operation. 62 cases (66,0%) have 
mediastinal lymph node on CT scan before 
operation. 42 cases (44,7%) with N2 are positive 
on histologic findings.* 
No mortality, 1 cases had post operation 
bleeding, 1 case had atelectasia, 2 cases had 
prolonged air leak. 
5 years survival is 19,1%, in group with N2 
positive is 14,3% and in group N2 negative is 23,1% 
Key words: Resectable NSCLC, adjuvant 
chemotherapy. 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Ung thư phổi là một trong những ung thư 
thường gặp nhất ở cả nam lẫn nữ và là nguyên 
nhân gây tử vong hàng đầu trong các bệnh ung 
thư. Hiện nay tần suất ung thư phổi có khuynh 
hướng gia tăng tại các nước đang phát triển trong 
đó có Việt Nam. Theo báo cáo của Ủy ban phòng 
* Bệnh viện Thống Nhất TPHCM 
Người chịu trách nhiệm khoa học: PGS.TS. Đỗ Kim Quế 
Ngày nhận bài: 01/05/2018 - Ngày Cho Phép Đăng: 20/05/2018 
Phản Biện Khoa học: GS.TS. Bùi Đức Phú 
 PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 23 - THÁNG 6/2018 
 18 
chống ung thư quốc gia Việt nam tỉ lệ ung thư 
phổi ở nam giới là 30,7 / 100.000 dân và 6,7 / 
100.000 dân ở nữ giới. Hàng năm ở Việt nam có 
khoảng 21.800 trường hợp ung thư phổi mới mắc 
và khoảng 19.500 trường hợp tử vong. 
Theo số liệu của Globocan 2012, ước tính 
trên thế giới có khoảng 1.800.000 trường hợp ung 
thư mới phát hiện và có khoảng 1.600.000 trường 
hợp tử vong. 
Tại Mỹ trong năm 2011 có 226.160 trường 
hợp ung thư phổi mới phát hiện, và trên 180.340 
trường hợp ung thư phổi đã bị tử vong. [1, 4] 
Mặc dù phẫu thuật hiện nay vẫn là phương 
pháp điều trị chính trong ung thư phổi, tuy nhiên 
đa số các trường hợp ung thư phổi được phát hiện 
ở giai đoạn muộn không còn chỉ định điều trị 
phẫu thuật triệt để. Theo Socinski tại Mỹ hơn 
40% các trường hợp ung thư phổi được phát hiện 
ở giai đoạn IV đã có di căn xa, 40 – 70 % những 
trường hợp ung thư phổi ở giai đoạn I – III sau 
điều trị phẫu thuật và / hoặc xạ trị có tái phát tại 
chỗ xuất hiện di căn xa. [24, 26] 
Với bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ 
có hạch trung thất chiến lược điều trị còn đang được 
bàn cãi. Một số nghiên cứu cho thấy phẫu thuật cắt 
thùy phổi cho kết quả không tốt hơn hóa xạ đồng 
thời. Tuy nhiên, có những nghiên cứu cho thấy cho 
kết quả tốt hơn, nhất là những trường hợp hạch 
trung thất không có tế bào ung thư di căn. Hóa trị 
tân bổ trợ cũng cũng là một cách tiếp cận cho những 
bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ có di căn 
hạch trung thất. [17, 19, 20] 
 Mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi nhằm 
đánh giá giá trị của chụp vi tính cắt lớp trong 
đánh giá di căn hạch trung thất, và kết quả ngắn 
hạn và dài hạn của ung thư phổi có hạch trung 
thất được điều trị phẫu thuật. 
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
2.1. Đối tượng nghiên cứu: 
Toàn bộ bệnh nhân ung thư phổi không tế 
bào nhỏ được điều trị phẫu thuật tại bệnh viện 
Thống nhất trong thời gian từ tháng 2004 tới 2014. 
2.2. Phương pháp: 
Nghiên cứu tiền cứu mô tả cắt dọc. 
Tiêu chuẩn chọn bệnh: Ung thư phổi 
không tế bào nhỏ đã được phẫu thuật và có chẩn 
đoán giải phẫu bệnh lý. 
1. Chẩn đoán hình ảnh học: 
2. CT scan trước phẫu thuật. Đánh giá 
kích thước khối u, hạch di căn. 
3. Chẩn đoán giải phẫu bệnh: 
4. Nội soi phế quản, khối u, hạch rốn phổi 
và hạch trung thất sau phẫu thuật. 
5. Chẩn đoán giai đoạn: 
6. Dựa trên kết quả CT scan ngực có cản 
quang, nội soi phế quản hoặc đánh giá trong mổ 
và kết quả giải phẫu bệnh sau mổ. 
7. Đánh giá giai đoạn ung thư phổi theo 
phân giai đoạn năm 1997 của Ủy ban chống ung 
thư hoa kỳ (AJCC) và liên hiệp chống ung thư 
quốc tế (UICC). 
Phương pháp điều trị: 
 Phẫu thuật: 
 Cắt thùy phổi 
 Cắt 2 thùy phổi 
 Cắt toàn bộ 1 phổi 
 Thám sát sinh thiết. 
 Nạo hạch được thực hiện cho toàn bộ 
các hạch phát hiện khi mổ. 
Đánh giá kết quả: 
 Kết quả phẫu thuật: 
 Tốt: Không có biến chứng trong và sau 
phẫu thuật. 
 Trung bình: Có biến chứng nhẹ: nhiễm 
trùng vết mổ, xẹp phổi sau mổ. 
 Xấu: Có biến chứng nặng sau mổ: Chảy 
máu nhiều sau mổ cần mổ lại, Dò phế 
quản, mủ màng phổi. 
VAI TRÒ PHẪU THUẬT NẠO HẠCH TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ CÓ HẠCH N2 
 19 
 Tử vong. 
 Kết quả lâu dài: 
 Thời gian tái phát: 
 Tái phát tại chỗ. 
 Di căn xa. 
Thời gian sống thêm toàn bộ, thời gian sống 
thêm không bệnh. 
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 
Trong thời gian 10 năm tháng từ 2004 đến 
2014, chúng tôi đã điều trị phẫu thuật cho 94 
trường hợp ung thư phổi không tế bào nhỏ có 
hạch N2. 
Tuổi và giới: Có 73 nam và 21 nữ 
Tuổi trung bình: 65,25, nhỏ nhất là 35 và lớn nhất 
là 80 
Thói quen hút thuốc: 
92% bệnh nhân ung thư phổi có hút thuốc lá, 
trong đó tỉ lệ này ở nam là 100% và nữ là 63%. 
Thời gian hút thuốc dài nhất là 30 năm, 
trung bình lượng thuốc hút mỗi ngày 30 điếu. 
Triệu chứng lâm sàng: 
Kết quả CT scan ngực có cản quang. 
Bảng 1: 
Đặc điểm CT scan lồng ngực Số BN % 
Khối u 
< 3cm 
3 – 5 cm 
> 5cm 
94 
4 
40 
50 
100,0 
4,2 
42,5 
53,2 
Hạch rốn phổi 76 80,9 
Hạch trung thất 62 66,0 
Mức nước hơi 3 3,2 
Tràn dịch màng phổi 4 4,2 
Xẹp phổi 7 7,5 
Kết quả nội soi phế quản 
Tất cả các trường hợp u phổi của chúng tôi đều được thực hiện nội soi phế quản với kết quả. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 23 - THÁNG 6/2018 
 20 
Bảng 2: 
Kết quả nội soi phế quản Số BN % 
U nội phế quản 28 29.8 
U chèn ép khí phế quản 13 13.8 
Cây khí phế quản bình thường 53 56.4 
Kết quả giải phẫu bệnh: 
Ung thư tế bào tuyến 
Ung thư tế bào vảy 
Ung thư thư tế bào lớn 
Dị sản, chuyển sản 
Viêm mạn tính 
42 
2 
0 
6 
44 
44.7 
2.1 
0.0 
6.3 
46.8 
Đặc điểm giải phẫu bệnh lý sau mổ: 
Tất cả các trường hợp phẫu thuật đều được gửi giải phẫu bệnh lý xác định loại ung thư và mức độ 
xâm lấn và di căn. 
Bảng 3: Đặc điểm mô học: 
Đặc điểm giải phẫu bệnh Số BN % 
Ung thư tế bào lớn 4 4.2 
Ung thư biểu mô tế bào vảy 10 10.7 
Ung thư biểu mô tuyến 80 85.1 
Bảng 4: Đánh giá hạch trung thất: 
Hạch trung thất Số BN % 
CT scan ngực 62 66,0 
Phẫu thuật 94 100,0 
GPBL 42 44,7 
Chẩn đoán giai đoạn sau mổ: 
Chúng tôi dựa trên hệ thống phân giai đoạn ung thư phổi của hiệp hội chống ung thư 
Hoa kỳ năm 1999. 
Bảng 5: Chẩn đoán giai đoạn ung thư phổi: 
Giai đoạn Số BN % 
IIA 4 4.2 
IIB 22 23.4 
IIIA 60 63.9 
IIIB 6 6.4 
IV 2 2.1 
VAI TRÒ PHẪU THUẬT NẠO HẠCH TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ CÓ HẠCH N2 
 21 
Phương pháp điều trị: 
Phẫu thuật được áp dụng cho tất cả 94 trường hợp với gây mê nội phế quản chọn lọc. 
Đường mổ ngực sau bên cho tất cả các trường hợp, trừ 4 trường hợp cắt u thùy giữa phổi. 
Phẫu thuật nội soi lồng ngực được áp dụng cho 3 trường hợp. 
Bảng 6: Các phương pháp phẫu thuật 
Phương pháp phẫu thuật Số BN % 
Nội soi lồng ngực cắt thùy phổi 3 3.2 
Cắt thùy phổi 78 83.0 
Cắt 2 thùy phổi 2 2.1 
Cắt toàn bộ phổi trái 3 3.2 
Thám sát 8 8.5 
Kết quả phẫu thuật: 
Bảng 7: Kết quả điều trị ngắn hạn 
Kết quả điều trị ngắn hạn Số BN % 
Tử vong 0 0.0 
Nhiễm trùng khoang màng phổi 0 0.0 
Xẹp phổi 1 1.1 
Tràn dịch khí màng phổi 2 2.1 
Nhiễm trùng vết mổ 0 0.0% 
Bảng 8: Kết quả điều trị lâu dài. 
Kết quả điều trị lâu dài Số BN % 
Tử vong trong 6 tháng 4 4.2 
Tử vong trong 1 năm 9 9.6 
Tái phát u trong lồng ngực 2 2.1 
Di căn xa 4 4.2 
Bảng 11: Thời gian sống thêm toàn bộ 5 năm 
Nhóm bệnh Số BN % 
Hạch N2 có ung thư di căn 6 14,3 
Hạch N2 không có ung thư di căn 12 23,1 
Chung 18 19,1 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 23 - THÁNG 6/2018 
 22 
IV. BÀN LUẬN 
Ung thư phổi là một bệnh lý khá thường 
gặp, đa số các trường hợp vào viện ở giai đoạn 
muộn, trong nghiên cứu này chúng tôi thu thập 
các trường hợp có hạch N2 và được phẫu thuật tại 
khoa ngoại bệnh viện Thống nhất. Theo các báo 
cáo trong y văn, phần lớn các trường hợp đều 
được phát hiện ở giai đoạn muộn. Trong nghiên 
cứu này của chúng tôi có tới gần 70% các trường 
hợp ung thư phổi ở giai đoạn III và IV, mặc dù 
khoa chúng tôi chỉ nhận những trường hợp còn có 
khả năng điều trị phẫu thuật. 
Chẩn đoán ung thư phổi chủ yếu dựa trên 
CT scan ngực có cản quang phối hợp với nội soi 
phế quản sinh thiết hoặc trải tế bào phế quản. 
Chúng tôi kết hợp với bệnh viện Phạm Ngọc 
Thạch làm các xét nghiệm chẩn đoán trước mổ. 
Chẩn đoán chính xác giai đoạn ung thư phổi 
có ý nghĩa rất quan trọng trong việc chọn lựa 
phương pháp điều trị cũng như dự hậu cho người 
bệnh.[2, 9, 25] Tại bệnh viện chúng tôi 100% các 
trường hợp ung thư phổi được làm CT scan ngực 
và nội soi phế quản nên việc đánh giá giai đoạn 
ung thư phổi có độ nhậy và độ chuyên cao. 
Gần 50% các trường hợp nội soi phế quản 
cho kết quả dương tính về tế bào học, chúng tôi 
chỉ gặp 2 trường hợp chẩn đoán tế bào học qua 
nội soi phế quản là ung thư nhưng kết quả giải 
phẫu bệnh sau khi phẫu thuật là viêm phổi hoại 
tử và u nấm phổi. 
Chúng tôi đánh giá giai đoạn cũng như kết 
quả điều trị dựa trên kết quả CT scan, theo Mac 
Manus [12] thì tỉ lệ đáp ứng sẽ chính xác hơn và 
cao hơn nếu đánh giá dựa trên PET, tuy nhiên 
phương tiện này còn đắt tiền và không phải trung 
tâm nào cũng thực hiện được. 
Trong nghiên cứu của mình với 74 bệnh 
nhân Mac Manus [12] ghi nhận tỉ lệ có đáp ứng 
trên CT scan là 64% so với PET là 84%. Và tỉ lệ 
không đáp ứng và bệnh tiến triển là 27% trên CT 
scan so với PET chỉ còn 17%. [27] 
Theo Sebastian và cộng sự [21] 6,1% bệnh 
nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ T1 có hạch 
N2, trong đó 69% các trường hợp khối u nằm ở 
trung tâm. Vị trí hạch số 7, 4, 5 là những nơi 
thường bị tổn thương nhất với tỉ lệ 37% và 31%. 
Phẫu thuật được chúng tôi áp dụng cho tất 
cả các trường hợp. Phẫu thuật nội soi lồng ngực 
cắt thùy phổi đã được chúng tôi áp dụng cho 3 
trường hợp với kết quả tốt. Hiện nay phẫu thuật 
cắt thùy phổi với video hỗ trợ đang rất được ưa 
chuộng tại các trung tâm lớn. 
Phẫu thuật cắt thùy phổi là phương pháp 
chính trong điều trị ung thư phổi, trường hợp khối 
u xâm lấn phế quản thùy lân cận có thể phải áp 
dụng phẫu thuật cắt bỏ 2 thùy phổi hoặc cắt xử 
toàn bộ một bên phổi. Đa số các tác giả thống 
nhất cắt thùy phổi là đủ rộng khi điều trị ung thư 
phổi. [15, 16] 
Một vấn đề cần lưu ý trong xử trí ung thư 
phổi là tình trạng di căn sang thùy lân cận, Theo 
Fontain những trường hợp này xem như là di căn 
xa. Chúng tôi có gặp 2 trường hợp và cả 2 trường 
hợp chỉ được phát hiện khi phẫu thuật. 
Phẫu thuật cắt thùy phổi là một phương 
pháp an toàn với tỉ lệ tử vong thấp từ 1-5%. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi không có tử 
vong, 3.2% các trường hợp có biến chứng nhẹ và 
được xử trí đơn giản. 
Về mặt giải phẫu bệnh lý chúng tôi nhận 
thấy tỉ lệ ung thư biểu mô tuyến có tỉ lệ ngày 
càng cao. 2 trường hợp ung thư phổi tế bào nhỏ 
được chỉ định phẫu thuật khi nội soi phế quản 
không xác định được bản chất của khối u. Đây 
cũng là kết quả chung của các nghiên cứu trong 
và ngoài nước. 
Về kết quả lâu dài của ung thư phổi tùy 
thuộc chủ yếu vào giai đoạn của bệnh khi được 
xử trí. Tỉ lệ sống 5 năm của ung thư phổi là 14,3 
và 23,1% cho nhóm bệnh nhân có di căn hạch N2 
và nhóm không có di căn hạch N2. Theo Misthos 
VAI TRÒ PHẪU THUẬT NẠO HẠCH TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ CÓ HẠCH N2 
 23 
và cộng sự [14], tỉ lệ sống thêm 3 năm ở bệnh 
nhân có hạch N2 là 24% so với 38% ở nhóm 
không có di căn hạch N2. 
V. KẾT LUẬN 
Qua nghiên cứu 94 trường hợp ung thư phổi 
không tế bào nhỏ được điều trị phẫu thuật có nạo 
hạch tại bệnh viện Thống nhất chúng tôi rút ra 
một số kết luận: 
Đa số ung thư phổi gặp ở người lớn tuổi có 
hút thuốc lá, ung thư biểu mô tuyến chiếm tỉ lệ 
cao tuyệt đối so với các dạng ung thư khác. Phần 
lớn các trường hợp ung thư tới viện ở giai đoạn 
muộn đã có hạch trung thất. 
Khả năng phát hiện hạch trung thất của CT 
scan ngực chỉ đạt 66%, tuy nhiên tỉ lệ hạch trung 
thất được phát hiện trong mổ có tế bào ung thư di 
căn chỉ chiếm 44,7% 
Phẫu thuật cắt thùy phổi và nạo hạch là 
phương pháp điều trị an toàn và hiệu quả cho 
những trường hợp còn có khả năng cắt u ngay cả 
khi phát hiện có hạch N2 trong phẫu thuật. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Besse B, Chevalier TL (2008). 
Adjuvant Chemotherapy for Non–Small-Cell 
Lung Cancer: A Fading Effect? Journal of 
Clinical Oncology 26(31):5014-5017. 
2. Betticher DC, Schmitz SH, Totsch M, et 
al (2003). Mediastinal lymph node clearance after 
Docetaxel-Cisplatin Neoadjuvant chemotherapy 
is pronogtic of survival in patient with stage IIIA 
pN2 Non small cell lung cancer: A multicenter 
phase II trial. J Clin Oncol 21: 1752-1759. 
3. Bonomi M, Pilotto S, Milella M, 
Massari M (2011). Adjuvant chemotherapy for 
resected non-small cell lung cancer: future 
perspectives for clinical research. Journal of 
Experimental & Clinical Cancer Research. 30:115. 
4. Bonomi P, Kim K, Fairclough D et al, 
(2000) Comparison of survival and quanlity of 
life in advanced non-small cell lung cancer 
patients treated with two dose levels of paclitaxel 
combined with cisplatin versus etoposide with 
cisplatin: results of an Eastern Cooperative 
Oncology Group trial. J Clin Oncol 18(3):623-631. 
5. Chatwani L, Cabebe L, Wakelee HA 
(2009). Adjuvant Treatment of Resected Lung 
Cancer. Proc Am Thorac Soc. 6: 194–200. 
6. Conundrums in the management of 
lung cancer (2003). Challenges in lung cancer 
pathology. Am Soc Clin Oncol 2003, p164-169 
7. Fabrice Andre F, Grunenwald D, 
Pignon JP, Dujon A, Pujol JL, Brichon PI, 
Brouchet L, Quoix E, Westeel V, Chevalier T. 
(2000). Survival of Patients With Resected N2 
Non–Small-Cell Lung Cancer: Evidence for a 
Subclassification and Implications. Journal of 
Clinical Oncology, 18 (16): 2981-2989 
8. Gajra A, Newman N, Gamble GP, 
Kohman LJ, Graziano SL. (2003). Effect of 
number of lymph nodes on outcome in patients 
with stage I non small cell lung cancer. J Clin 
Oncol 21: 1029-1034. 
9. Hainaut P, Ma X, Lacas B, Tsao M et 
al. (2012). Lace bio pools analysis of the 
prognostic and predictive value of TP53 mutation 
in completely resected non small cell lung cancer. 
Abstract 1192PD ESMO. 
10. Langer CJ, Mac Aleer CA, Bonjo CA 
et al, (2000). Paclitaxel by 1 hour infusion in 
combination with carboplatin in advanced non-
small cell lung carcinoma. Eur J cancer 
36(2):183-193. 
11. Leong SS, Tan EH, Fong KW, et al. 
(2003). Randomized double blind trial of 
combined modality treatment with or without 
amifostin in unresectable stage II non small cell 
cancer. J Clin Oncol 21: 1767-1774. 
12. Mac Manus MP, Hicks RJ, Mathews 
JP et al, (2003). Positron Emission tomography is 
superior to computed tomography scanning for 
response-assessment after radical radiotherapy 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 23 - THÁNG 6/2018 
 24 
odr chemotherapy in patients with non-small cell 
lung cancer. J Clin Oncol. 21:1285-1292 
13. Malcolm M. DeCamp MM, Ashiku S, 
Thurer R. (2005) The Role of Surgery in N2 Non 
Small Cell Lung Cancer. Clin Cancer Res 
2005;5033s 11(13 Suppl) 
14. Misthos P, Sepsas E, Kokotsakis J, 
Skottis I, Lioulias A. (2008)The Significance of 
One-Station N2 Disease in the Prognosis of 
Patients With Nonsmall-Cell Lung Cancer. Ann 
Thorac Surg 86:1626 –31. 
15. Ohta Y, Oda M, Wu J, Tsunezuka Y, 
Hiroshi M, Nonomura A, Watanabe G. (2001) 
Can tumors size be a guide for limitted sugical 
intervention in patients with peripheral NSCLC. J 
Thorac Cardiovasc Surg 122: 900 – 906. 
16. Okada M, Yamagishi H, Satake S, 
Matsuoka H, Miyamoto Y, et al. (2000) Suvival 
related to lymph node involvement in lung 
cancer after sleeve lobectomy compared to 
pneumonectomy. J Thorac Cardiovasc Surg 
119: 814 – 19. 
17. Patel MI, Wakelee HA. (2011). 
Adjuvant chemotherapy for early stage non-small 
cell lung cancer. 1(45):1-4. 
18. Rinaldi M, Crino L, Scagliotti GV et 
al, (2000). A three weeks schedule of 
gemcitabine-cisplatin in advanced non-small 
cell lung cancer with two different cisplatin 
dose levels: A phase II randomized trial. Ann 
Oncol 11(10):1295-1300. 
19. Sandler AB, Numunaitis J, Denham C 
et al. (2000). PhaseIII trial of gemcitabine plus 
cisplatin versus cisplatin alone in patients with 
locally advanced or metastatic non-small-cell 
lung cancer. J Clin Oncol 18(1): 122-130 
20. Schiller JH, Harrington D, Sandler A 
et al, (2000) Arandomized trial of four 
chemotherapy regimens in advanced non-small 
cell lung tumors. Proc Am Soc Clin Oncol 18:1a. 
21. Sebastian A. Defranchi SA, Cassivi 
SD, Nichols FC, Allen MS, Shen KR, Deschamps 
C, Wigle DA. (2009) N2 Disease in T1 Non-
Small Cell Lung Cancer. Ann Thorac Surg 
88:924 –9. 
22. Shapiro M (2012) The role of adjuvant 
chemotherapy in early stage and locally advanced 
non-small cell lung cancer. Cleveland clinic j of 
Med. 79(1): 42-45. 
23. Shepherd F, Koschel G, von Pawel J 
et al, (2000). Comparison of Tirazone and 
cisplatin v. etoposide and cisplatin in advanced 
non-small cel lung cancer: final results of the 
international phase III CATAPULT II trial. Lung 
cancer 29(suppl 1):27. 
24. Socinski MA (2003). A dressing the 
optimal duration of therapy in advanced, 
metastatic non small cell lung cancer. American 
society of clinical oncology p144-152 
25. Srimuninimit V, (2000). A phase II 
study with carboplatin and paclitaxel plus 
amifostine in treatment of advanced non-small 
cell lung cancer: prelimentary report. Proc Am 
Soc Clin Oncol 18:524a. 
26. Takiguchi Y, Nagao K, Nishiwaki Y 
et al, (2000). The final results of a randomized 
phase III trial comparing irrinotecan and 
cisplatin with vindesine and cisplatin in 
advanced non-small cell lung cancer. Lung 
cancer 29(suppl 1):28. 
27. Vesselle H, Pugley M, Vallieres E, 
Wood DE. (2002) The impact of 
fluorodeoxyglucose F 18 positron-emission 
tomography on the sugical staging of NSCLC. J 
Thorac Cardiovasc Surg 124: 511-19. 
28. Wakelee HA. (2010). Systemic 
therapy for patients with early-stage non-small 
cell lung cancer. Globan Resource for advancing 
cancer education. 

File đính kèm:

  • pdfvai_tro_phau_thuat_nao_hach_trong_dieu_tri_ung_thu_phoi_khon.pdf