Vai trò của vitamin D trong duy trì sức khỏe

Vitamin D thường được gọi là một sinh tố nhưng không phải là một sinh tố bình thường như những sinh tố khác mà là một chất giữ vai trò quan trọng trong việc điều hòa calci và biến dưỡng ở xương. Ngoài ra, trong những nghiên cứu khoảng 2 thập kỷ gần đây cho thấy có nhiều tác dụng sinh học của vitamin D liên quan đến lãnh vực phân hóa tế bào, ức chế sự tăng trưởng tế bào, sự điều hòa miễn dịch và điều khiển những hệ thống nội tiết trong cơ thể. Tình trạng thiếu vitamin D gia tăng là do lối sống: thiếu sự phơi nắng và tăng tỷ lệ béo phì khiến loại vitamin tan trong dầu như vitamin D bị giữ lại trong mô mỡ. Trong thai kỳ nếu thiếu vitamin D sẽ dẫn đến sanh con nhẹ cân, sanh non, tiền sản giật, nhiễm trùng.1 Ở người cao tuổi thiếu vitamin D thường có nguy cơ tử vong cao hơn người có đủ vitamin D

pdf 4 trang phuongnguyen 40
Bạn đang xem tài liệu "Vai trò của vitamin D trong duy trì sức khỏe", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Vai trò của vitamin D trong duy trì sức khỏe

Vai trò của vitamin D trong duy trì sức khỏe
22
THỜI SỰ Y HỌC, Chuyên đề SỨC KHỎE SINH SẢN, Tập 18, Số 1, Tháng 5 – 2018
Vai trò của vitamin D trong duy trì sức khỏe 
Vũ Thị Nhung* 
Vitamin D thường được gọi là một sinh tố 
nhưng không phải là một sinh tố bình 
thường như những sinh tố khác mà là một 
chất giữ vai trò quan trọng trong việc điều 
hòa calci và biến dưỡng ở xương. Ngoài 
ra, trong những nghiên cứu khoảng 2 thập 
kỷ gần đây cho thấy có nhiều tác dụng sinh 
học của vitamin D liên quan đến lãnh vực 
phân hóa tế bào, ức chế sự tăng trưởng tế 
bào, sự điều hòa miễn dịch và điều khiển 
những hệ thống nội tiết trong cơ thể. 
Tình trạng thiếu vitamin D gia tăng là do 
lối sống: thiếu sự phơi nắng và tăng tỷ lệ 
béo phì khiến loại vitamin tan trong dầu 
như vitamin D bị giữ lại trong mô mỡ. 
Trong thai kỳ nếu thiếu vitamin D sẽ dẫn 
đến sanh con nhẹ cân, sanh non, tiền sản 
giật, nhiễm trùng.1 Ở người cao tuổi thiếu 
vitamin D thường có nguy cơ tử vong cao 
hơn người có đủ vitamin D. 
Biến dưỡng vitamin D 
Vitamin D là một nhóm các secosteroid 
tan được trong chất béo. Hai dạng chính là 
vitamin D2 hay còn gọi là ergocalciferol và 
vitamin D3 hay cholecalciferol; chúng 
được gọi chung là calciferol, có thể có 
được từ khẩu phần ăn và nhờ tác động của 
ánh sáng mặt trời lên da. Tia tử ngoại 
trong ánh nắng mặt trời làm biến đổi tiền 
chất của vitamin D3 là 
7-dehydrocholesterol. Da tạo ra vitamin 
D3 và cung cấp khoảng 90% nhu cầu 
vitamin D cho cơ thể.8 Tại gan, 
cholecalciferol (vitamin D3) được chuyển 
hóa thành calcidiol (25-hydroxy 
cholecalciferol viết tắt là 25(OH)D3). Ở 
thận, dưới sự xúc tác của men 
1-hydroxylaz, 25 hydroxycholecalciferol 
chuyển hóa thành calcitriol 1,25- 
dihydroxycholecalciferol (1,25-(OH)2-D3) 
là chất có hoạt tính sinh học cao giúp hấp 
*Bv. Hùng Vương DĐ: 0903383005 Email: 
[email protected] 
thu Ca++ và PO43- ở ruột, thận, huy động 
Ca++ và PO43- từ xương ra máu. Vì vậy, 
vitamin D giúp ngừa bệnh còi xương. 
Calcitriol cũng ảnh hưởng đến chức năng 
thần kinh-cơ và hệ miễn dịch.12 Nghiên 
cứu cho thấy thiếu hụt Vit D có liên quan 
đến bệnh ung thư và những bệnh tự miễn. 
Ergocalciferol (vitamin D2) được chuyển 
hóa thành 25-hydroxyergocalciferol, còn 
được gọi là 25-hydroxyvitamin D2 — viết 
tắt là 25(OH)D2. Nồng độ trong huyết 
thanh của 25(OH)D3 và 25(OH)D2 được đo 
để xác định tình trạng thiếu đủ vitamin D 
của một người.9,10 Nồng độ 25-OH Vit D 
bình thường của người hoạt động ngoài 
trời là 42-65 ng/mL Thiếu vitamin D khi 
nồng độ <10–15 ng/mL.5 
Vitamin D hoạt động như nội tiết tố vì nó 
được sản xuất lúc đầu ở một cơ quan 
(thận) trước khi đi vào máu để đến những 
cơ quan khác mà nơi đó nó có nhiều tác 
động khác nhau. Nguồn vitamin D đến từ 
bên ngoài là từ thức ăn như phó mát, bơ, 
margarine, sữa bổ sung chất bổ dưỡng, cá, 
ngũ cốc bổ sung chất bổ. Tuy nhiên, phần 
lớn vitamin D không đến từ khẩu phần ăn 
mà từ biểu bì khi da phơi dưới ánh nắng 
mặt trời. Dưới tác dụng của tia tử ngoại, 
vitamin D3 được tạo thành từ 7-
dehydrocholesterol. Phơi nắng nhiều 
không sợ ngộ độc vitamin D vì tia tử ngoại 
sẽ chuyển hóa lượng vitamin D3 thành 
những những chất đồng phân trơ và bị đào 
thãi số lượng dư thừa.5 
 Vitamin D3 được thủy phân ở gan, ở thận 
và những mô khác thành 25-hydroxy- D3. 
Dưới tác dụng của enzyme 1α 
hydroxylase, 25-OH- D3 được kích hoạt 
thành dạng hoạt động 1-25-OH-vitamin 
D3. Chất này đi xuyên qua màng tế bào, đi 
qua tế bào chất để vào nhân và gắn vào thụ 
thể của nó trong nhân. Bất cứ một 
hormone nào cũng phải hoạt động qua thụ 
thể, và thụ thể vitamin D có mặt hầu hết 
trong các tế bào. Do đó, không ngạc nhiên 
23
TỔNG QUAN Y VĂN
khi thấy vitamin D ảnh hưởmg đến hàng 
loạt bệnh. 
 Tác dụng của vitamin D là ở đường tiêu 
hóa nhằm giúp sự hấp thụ canxi tại đây. 
Khi canxi trong máu giảm, thụ thể Ca ở 
tuyến phó giáp trạng được kích hoạt để tạo 
ra PTH. Ngoài tác dụng của PTH trực tiếp 
trên thụ thể của PTH ở xương để giải 
phóng Ca làm tăng Ca huyết. PTH còn làm 
tăng sự chuyển hóa 25-OH-vitamin D ở 
thận thành 1-25-OH-vitamin D, từ đó kích 
hoạt thụ thể của nó ở ruột non để làm tăng 
sự hấp thụ Ca tại ruột.5 
Nguyên nhân thiếu vitamin D 
 Khẩu phần ăn thiếu vitamin D 
 Kém hấp thu vitamin D do mắc các 
bệnh về gan, tuyến tụy 
 Thiếu phơi nắng (do mặc quần áo che 
kín thân thể, dùng kem chống nắng, 
sống ở nơi thiếu ánh sáng mặt trời). 
 Chủng tộc: khả năng sản xuất vitamin 
D tỷ lệ nghịch với mức độ sậm màu 
của da, thí dụ người Mỹ Phi Châu da 
đen có nồng độ 25-OH vitamin D trong 
máu thấp hơn người Mỹ da trắng.6 Da 
sậm màu chứa nhiều melanin, có tác 
dụng như một bức màn chống nắng 
ngăn chận tia tử ngoại. Vì thế, người 
da màu cần phơi nắng lâu mới đủ thời 
gian để ánh nắng tạo vitamin D dưới 
da so với người da trắng. 
 Độ tuổi: Ở người già khả năng da tạo 
ra vitamin D giảm. Người từ 65 tuổi 
giảm sản xuất vitamin D đến 75%. 
 Hiện nay, nguyên nhân thiếu vitamin D 
ở các nước tây phương là do béo phì 
dù có phơi đủ nắng, ăn đủ vitamin D 
nhưng vitamin D lại nằm trong mỡ mà 
nơi đó thì vitamin D không hoạt động. 
Ai là người thiếu vitamin D ? 
Hiện nay ước tính có khoảng hơn 1 tỷ 
người thiếu vitamin D trên thế giới. Một số 
nơi ở Mỹ và Âu Châu có từ 40-100% 
người già thiếu vitamin D. Ngay như ở 
Hawaii là nơi có mặt trời chiếu nắng 11 
giờ mỗi tuần nhưng 50% người lớn thiếu 
vitamin D, có lẽ vì da họ sậm màu và béo 
phì.10 Nguy cơ thiếu vitamin D ở trẻ em 
Mỹ bao gồm các yếu tố như họ thuộc 
chủng tộc Mỹ châu Phi, người già, ít uống 
sữa, có nhiều thời gian ngồi trong nhà xem 
TV và chơi game. Tỷ lệ thiếu vitamin D 
xảy ra trong 47,8% người cho con bú và 
50% ở phụ nữ mãn kinh. 
Thiếu vitamin D và thai 
Tần suất thiếu vitamin D trong khi mang 
thai thay đổi từ 18-84% tùy theo nơi sinh 
sống gần hay xa đường xích đạo, sự che 
chắn nắng với quần áo nhiều hay ít.4 Thiếu 
vitamin D trong khi mang thai có liên quan 
với sanh con nhẹ cân, giảm mật độ xương 
ở thai nhi, tăng nguy cơ sinh non, nhiễm 
trùng và sản giật,15 đái tháo đường thai kỳ. 
Ngoài ra đối với trè nhỏ trong năm đầu sau 
sinh thường bị hen suyễn, có sự hiện diện 
của kháng thể kháng tế bào beta tiết 
Insulin của tuyến tụy dẫn đến đái tháo 
đường type I. Bổ sung vitamin D cho trẻ 
nhỏ có thể làm giảm tỷ lệ này. Hầu hết trẻ 
sơ sinh mất hết dự trữ vitamin D trong 8 
tuần sau sinh. Trẻ bú mẹ nguy cơ thiếu 
vitamin D hơn trẻ bú sữa công thức vì sữa 
mẹ có ít vitamin D. 
 Vì thế, Hội Nhi khoa Hoa kỳ khuyến cáo 
nên bổ sung cho trẻ hoàn toàn bú mẹ 
200UI vitamin D mỗi ngày trong năm 
đầu.7 Trong thời gian mang thai, người mẹ 
nên tắm nắng bằng cách đi dạo ngoài trời 
để tiếp nhận vitamin D, đồng thời ăn uống 
đủ chất để phòng tránh sinh non, suy dinh 
dưỡng bào thai. Từ tháng đầu sau sinh cả 
mẹ và con cần được tắm nắng, có thể tắm 
nắng buổi sáng, thời gian tăng dần từ 5 – 
20 phút. 
Hậu quả của thiếu sinh tố D 
 Thiếu vitamin D sẽ bị mềm xương hay 
còi xương ở trẻ em với các triệu chứng 
chậm lớn, cong xương sống, biến dạng 
chân, yếu cơ, dễ té ngã. 
 Loãng xương, dễ ngã dẫn đến gãy 
xương. Một nghiên cứu gộp của 6 
nghiên cứu về bổ sung vitamin D cho 
người lớn với liều 800UI/ ngày giúp 
giảm tần suất té ngã có ý nghĩa thống 
kê.2 
24
THỜI SỰ Y HỌC, Chuyên đề SỨC KHỎE SINH SẢN, Tập 18, Số 1, Tháng 5 – 2018
 Gia tăng tần suất ung thư: 1-25-OH 
vitamin D có tác động trong sự điều 
hòa sinh sản tế bào. Nghiên cứu cho 
thấy phụ nữ được bổ sung vitamin D 
và calcium giảm nguy cơ mắc bệnh 
ung thư gần 80%. Nồng độ vitamin D 
trong máu càng cao, nguy cơ mắc bệnh 
ung thư càng thấp; và ngược lại, những 
người có nồng độ vitamin D thấp thì 
nguy cơ mắc bệnh ung thư tăng cao. 
 Vitamin D điều biến hệ miễn dịch. 
vitamin D điều chỉnh hoạt động của tế 
bào lympho B và T, các đại thực bào, 
tuyến ức. Điều này giải thích tại sao 
thiếu vitamin D có liên quan đến các 
bệnh tự miễn, nhiễm trùng (cảm cúm, 
viêm phổi, lao phổi), phản ứng dị ứng, 
bệnh đái tháo đường týp 2 và các bệnh 
tim mạch. Khi nồng độ vitamin D dưới 
15 ng/mL máu, thậm chí có thể dẫn 
đến đột quỵ và gây tử vong.3,12 
 Nguy cơ tử vong: Một nghiên cứu trên 
13.000 người Mỹ trên 20 tuổi cho thấy 
những người có nồng độ vitamin D 
thấp có nguy cơ tử vong tăng 26% so 
với những người có nồng độ vitamin D 
bình thường.16 
Nguồn cung cấp vitamin D 
 Khoảng 90-95% vitamin D trong cơ 
thể chúng ta là do da sản sinh, và chỉ 
5-10% là do nguồn thực phẩm. Phơi 
nắng trong 10-30 phút cơ thể đã có 
thể sản xuất trung bình 20.000IU 
vitamin D 
 Thức ăn chứa vitamin D: 
 Cá hồi, cá tuyết, cá thu, cá trích 
có lượng vitamin D cao hơn 
những loại cá khác. 
 Nấm phơi khô 
 Trứng 
 Các sản phẩm bơ, sữa. 
Tình trạng thiếu vitamin D ở 
Việt Nam 
 Nghiên cứu của Hồ Phạm Thục Lan, 
Nguyễn văn Tuấn và cs ở Tp HCM 
năm 2009 phân tích 25(OH)D trên 205 
nam và 432 nữ, và thấy 20% nam và 
46% nữ thiếu vitamin D.11 
 Trong nghiên cứu ở phía Bắc, nhóm 
nghiên cứu đã phân tích 25(OH)D trên 
222 nam và 269 nữ tuổi từ 13 đến 83. 
Kết quả cho thấy 77% nữ và 58% nam 
thiếu vitamin D. Trong đó, 30% nữ và 
16% nam thiếu vitamin D nặng. 
 Người ở thành phố thiếu vitamin D 
hơn người ở nông thôn (nam: 81% so 
với 56%; nữ: 90% so với 84%).13 
 Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Phong 
ở BV An Sinh khảo sát tình trạng thiếu 
vitamin D ở 110 bệnh nhân đái tháo 
đường týp 2 và 110 đối tượng không bị 
đái tháo đường, tuổi từ 40 đến 79, 
chúng tôi nhận thấy: Bệnh nhân đái 
tháo đường týp 2 có tỷ lệ thiếu vitamin 
D là 28,9% ở nam và 40% ở nữ so với 
đối tượng không đái tháo đường là 
22,2% nam và 21,5% nữ. Bệnh nhân 
đái tháo đường týp 2 ở thành thị có 
nguy cơ thiếu vitamin D cao hơn bệnh 
nhân đái tháo đường sống ở nông 
thôn.15 
Các dấu hiệu thiếu vitamin D 
 Yếu cơ bắp. 
 Trầm cảm. 
 Bệnh thận mạn tính. 
 Bệnh về xương: Còi xương ở trẻ em, 
loãng xương ở người lớn. 
 Cao huyết áp. 
 Tính khí bất thường do suy giảm 
serotonin vì vitamin D có ảnh hưởng 
đến nồng độ serotonin trong não, gây 
ảnh hưởng đến tâm trạng. buồn chán 
hoặc dễ cáu giận, 
Điều trị và phòng ngừa thiếu 
vitamin D 
 Nên tầm soát thiếu vitamin D ở những 
người có nguy cơ thiếu vitamin D: 
người bệnh loãng xương, người da 
sậm màu, béo phì (BMI >30 kg/m2). 
 Liều duy trì vitamin D thay đổi tùy 
theo tuổi: 600-2.000IU/ngày. 
 Tắm nắng: Khi nắng làm da hồng lên 
là lúc tương đương với uống một 
lượng vitamin D từ 10.000-25.000 IU. 
 Khẩu phần ăn thường không đủ lượng 
vitamin D cần thiết hàng ngày. Các 
25
TỔNG QUAN Y VĂN
loại thực phẩm chứa nhiều vitamin D 
như: cá hồi, cá thu, sữa vá các chế 
phẩm từ sữa, nấm phơi khô. Rau có ít 
vitamin D. 
Tài liệu tham khảo 
1. Baker AM, Haeri S, Camargo CA Jr, et al 
(2010). A nested case-control study of 
midgestation vitamin D deficiency and risk of 
severe preeclampsia J Clin Endocrinol 
Metab 2010;95:5105–5109 
2. Bischoff-Ferrari HA, Dawson-Hughes B, Willett 
WC, et al.(2004) Effect of vitamin D on falls: a 
meta-analysis. JAMA2004;291:1999–2006. 
3. Cannell JJ, Vieth R, Umhau JC, Holick MF, 
Grant WB, Madronich S, Garland CF, 
Giovannucci E (2006). “Epidemic influenza and 
vitamin D”. Epidemiology and Infection 134(6): 
1129–40. 
4. Dawodu A, Wagner CL(2007). Mother-child 
vitamin D deficiency: an international 
perspective. Arch Dis Child 2007;92:737–740. 
5. David S.H. Bell, (2011) Protean Manifesta-
tions of Vitamin D Deficiency, Part 1 
6. The Epidemic of Deficiency South Med 
J. 2011;1045):331-334 
7. Fiscella K, Franks P. (2010) Vitamin D, race, 
and cardiovascular mortality: findings from a 
national US sample. Ann Fam Med 2010;8:11–
18. 
8. Gartner LM, Greer FR;(2003) Section on 
Breastfeeding and Committee on Nutrition. 
American Academy of Pediatrics. Prevention of 
rickets and vitamin D deficiency: new 
guidelines for vitamin D 
intake. Pediatrics 2003;111(4 pt 1):908–910 
9. Holick MF.(2007) Vitamin D deficiency. N Engl 
J Med 2007;357:266–281. 
10. Holick MF. (2004) Sunlight and vitamin D for 
bone health and prevention of autoimmune 
diseases, cancers, and cardiovascular 
disease. Am J Clin Nutr 2004;80(6 
suppl):1678S-1688S. 
11. Looker AC, Dawson-Hughes B, Calvo MS, et 
al. (2002) Serum 25-hydroxyvitamin D status of 
adolescents and adults in two seasonal 
subpopulations from NHANES 
III. Bone 2002;30:771–777. 
12. Hồ Phạm Thục Lan và cộng sự (2010), “Thiếu 
vitamin D trong cộng đồng: thực trạng và yếu 
tố nguy cơ”, Thời sự Y học, (46), tr. 3 – 10. 
13. Nnoaham KE, Clarke, A (2008). “Low serum 
vitamin D levels and tuberculosis: a systematic 
review and meta-analysis”. International 
Journal of Epidemiology 37 (1): 113–9 
14. Nguyen HT, von Schoultz B, Nguyen 
TV, Dzung DN, Duc PT, Thuy VT, Hirschberg 
AL (2011). Vitamin D deficiency in northern 
Vietnam: Prevalence, risk factors and 
associations with bone mineral density. 
Osteoporos Int. 2011 Jan;22(1):241-8. 
15. Nguyễn Thanh Phong (2014) Khảo sát nồng độ 
vitamin D huyết thanh ở bệnh nhân đái tháo 
đường týp 2 Tạp chí Y học Việt Nam Số 1- 
3/2014 Tr 87-93 
16. Scholl TO, Chen X. (2009) Vitamin D intake 
during pregnancy: association with maternal 
characteristics and infant birth weight. Early 
Hum Dev 2009;85:231–234. 
17. Teresa Kulie, Amy Groff et al (2009) Vitamin D: 
An Evidence-Based Review. J Am Board Fam 
Med November-December 2009 vol. 22 no. 6: 
698-706

File đính kèm:

  • pdfvai_tro_cua_vitamin_d_trong_duy_tri_suc_khoe.pdf