Vai trò của ung bướu nội khoa trong điều trị ung thư biểu mô buồng trứng: thực tế hiện tại và triển vọng tương lai

Ung thư biểu mô buồng trứng là một trong những ung thư gây tử

vong ở nữ giới với chẩn đoán ban đầu thường ở giai đoạn đã tiến xa.

Phẫu thuật giảm tổng khối bướu và hóa trị hỗ trợ bằng phác đồ kết

hợp với Platin là tiêu chuẩn điều trị và cho thấy có hiệu quả. Hóa trị

tăng nhiệt độ trong phúc mạc trong lúc mổ cho thấy cải thiện tiên

lượng sống còn toàn bộ và sống còn không bệnh tiến triển ở những

nghiên cứu mới đây. Đối với trường hợp bệnh tiến triển hoặc kháng

trị với Platin, chỉ định sử kháng yếu tố tăng sinh nội mạch (antiVEGF) mang lại lợi ích sống còn cho bệnh nhân. Trong bài tổng

quan này, chúng tôi sẽ cập nhật vai trò của ung bướu nội khoa trong

điều trị ung thư biểu mô buồng trứng dựa trên những cột mốc của

các nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng tính đến năm 2018

pdf 5 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Vai trò của ung bướu nội khoa trong điều trị ung thư biểu mô buồng trứng: thực tế hiện tại và triển vọng tương lai", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Vai trò của ung bướu nội khoa trong điều trị ung thư biểu mô buồng trứng: thực tế hiện tại và triển vọng tương lai

Vai trò của ung bướu nội khoa trong điều trị ung thư biểu mô buồng trứng: thực tế hiện tại và triển vọng tương lai
VÕ THỊ NGỌC ĐIỆP, NGUYỄN HOÀNG QUÝ
14
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
Võ Thị Ngọc Điệp(1), Nguyễn Hoàng Quý(2) 
(1) Bệnh viện Ung bướu TP.HCM, (2) Đại học Y Dược TP.HCM
VAI TRÒ CỦA UNG BƯỚU NỘI KHOA
TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ BIỂU MÔ BUỒNG TRỨNG:
THỰC TẾ HIỆN TẠI VÀ TRIỂN VỌNG TƯƠNG LAI
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Võ Thị Ngọc Điệp, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 02/04/2018
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
02/04/2018
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 27/04/2018
Từ khóa: ung bướu nội khoa, 
ung thư biểu mô buồng trứng.
Keywords: medical oncology, 
epithelial ovarian cancer.
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
Tóm tắt
Ung thư biểu mô buồng trứng là một trong những ung thư gây tử 
vong ở nữ giới với chẩn đoán ban đầu thường ở giai đoạn đã tiến xa. 
Phẫu thuật giảm tổng khối bướu và hóa trị hỗ trợ bằng phác đồ kết 
hợp với Platin là tiêu chuẩn điều trị và cho thấy có hiệu quả. Hóa trị 
tăng nhiệt độ trong phúc mạc trong lúc mổ cho thấy cải thiện tiên 
lượng sống còn toàn bộ và sống còn không bệnh tiến triển ở những 
nghiên cứu mới đây. Đối với trường hợp bệnh tiến triển hoặc kháng 
trị với Platin, chỉ định sử kháng yếu tố tăng sinh nội mạch (anti-
VEGF) mang lại lợi ích sống còn cho bệnh nhân. Trong bài tổng 
quan này, chúng tôi sẽ cập nhật vai trò của ung bướu nội khoa trong 
điều trị ung thư biểu mô buồng trứng dựa trên những cột mốc của 
các nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng tính đến năm 2018.
Từ khóa: ung bướu nội khoa, ung thư biểu mô buồng trứng.
Abstract 
 THE ROLE OF MEDICAL ONCOLOGY IN THE 
TREATMENT OF EPITHELIAL OVARIAN CANCER: 
CURRENT STATUS AND FURTHER PERSPECTIVES 
Epithelial ovarian cancer is one of the most deadly cancers 
in women with an initial diagnosis that is usually at an advanced 
stage. Cytoreductive surgery followed by platin based combination 
chemotherapy showed efficacy and standard of treatment. 
Hyperthermic Intraperitoneal Chemotherapy during surgery has 
shown an improvement in overall survival and recurrence-free 
survival in recent study. In patients with progression/recurrence 
diseases with platinum-resistance, administration of anti-VEGF is 
beneficial for patients. In this review, we will update the treatment 
of epithelial ovarian cancer based on the milestones of clinical trials 
until 2018.
Keywords: medical oncology, epithelial ovarian cancer.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 14 - 18, 2018
15
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
1. Giới thiệu
Ung thư buồng trứng là một trong những nguyên 
nhân gây tử vong trong tất cả các loại ung thư ở 
nữ giới, thường gặp nhất là ung thư biểu mô buồng 
trứng. 25% bệnh nhân ung thư biểu mô buồng 
trứng được chẩn đoán ở giai đoạn sớm có sống 
còn 5 năm khoảng từ 80 – 90%, đối với giai đoạn 
đã tiến xa có sống còn toàn bộ dưới 30% [1,2]. 
Phẫu thuật giảm tổng khối tế bào bướu và hóa 
trị hỗ trợ cho thấy vẫn là các phương pháp điều 
trị chuẩn hiện nay. Phác đồ hóa trị bằng bộ đôi 
Platin-Taxan qua đường tĩnh mạch cho thấy mang 
lại hiệu quả sống còn toàn bộ và sống còn không 
bệnh tiến triển cho bệnh nhân ung thư biểu mô 
buồng trứng. Trong những năm gần đây, phác đồ 
Platin-Taxan tiếp tục được nghiên cứu dựa trên sự 
thay đổi khoảng cách giữa các đợt hóa trị (mỗi ba 
tuần so với hàng tuần), hay thay đổi đường truyền 
hóa trị (trong phúc mạc so với truyền tĩnh mạch 
thông thường) hoặc hóa trị tân hỗ trợ so với hỗ trợ.
Trong phần tổng quan y văn này, chúng tôi sẽ 
trình bày về vai trò của ung bướu nội khoa, đặc 
biệt là hóa trị liệu toàn thân và các liệu pháp đích 
mới trong điều trị ung thư biểu mô buồng trứng vừa 
mới chẩn đoán thông qua cập nhật các nghiên cứu 
và phác đồ hiện nay trên thế giới theo những tình 
huống thường gặp trên lâm sàng khi bệnh nhân 
được chẩn đoán xác định thông qua giải phẫu mô 
bệnh học của một ung thư biểu mô buồng trứng.
2. Chỉ định điều trị ung bướu 
nội khoa
Chỉ định điều trị ung bướu nội khoa trong ung 
thư biểu mô buồng trứng dựa trên các đặc điểm 
về giải phẫu bệnh loại tế bào, độ mô học và giai 
đoạn bệnh. Bệnh nhân có chỉ định hóa trị khi có 
một trong các đặc điểm sau:
- Giải phẫu bệnh là ung thư tế bào sáng. 
- Độ ác tính mô học cao (Grade 3) bất kể giai 
đoạn bệnh.
- Bệnh nhân được chẩn đoán giai đoạn bệnh 
IC, IIA, IIB, IIIA, IIIB và IV.
Đặc biệt đáng lưu ý ở giai đoạn IIIB, IIIC và giai 
đoạn IV thì bệnh nhân có chỉ định sử dụng thuốc ức 
chế tăng sinh mạch nhóm bevacizumab.
2.1. Chỉ định hóa trị hỗ trợ sau mổ đối 
với ung thư biểu mô buồng trứng giai 
đoạn sớm
Ngoài các chỉ định hóa trị kể trên (giai đoạn 
I có độ mô học cao (Grade 3), giai đoạn IC, ung 
thư tế bào sáng) thì ung thư biểu mô buồng trứng 
giai đoạn sớm còn có chỉ định hóa trị trong tình 
huống lâm sàng cần phẫu thuật cấp cứu ở bệnh 
cảnh của nang buồng trứng vỡ hay xoắn buồng 
trứng. Chẩn đoán sau mổ là ung thư biểu mô 
buồng trứng nhưng không xác định rõ giai đoạn 
bệnh (giai đoạn IB hay IC). Trong trường hợp này 
bệnh nhân có chỉ định hóa trị hỗ trợ.
2.2. Chỉ định điều trị ung thư biểu mô 
buồng trứng không phẫu thuật được 
hoặc phẫu thuật nhưng không cắt bướu 
hoàn toàn
Trong trường hợp này bệnh nhân thường không 
phẫu thuật được khi ung thư đã lan rộng (thông 
thường là từ giai đoạn IIIC), hoặc chống chỉ định 
với phẫu thuật/gây mê, hoặc bệnh nhân được 
phẫu thuật nhưng không lấy được hoàn toàn u do 
tình trạng di căn ổ bụng lan rộng, cản trở việc cắt 
u. Trước tình huống này, bệnh nhân có chỉ định 
hóa trị tân hỗ trợ từ 3 đến 4 chu kỳ Carboplatin kết 
hợp với Paclitaxel, sau đó được đánh giá lại bằng 
khám lâm sàng, hình ảnh học và định lượng lại các 
dấu ấn sinh học của tế bào bướu. Sau khi đánh giá 
sẽ có 3 tình huống xảy ra:
- Bệnh nhân không thể phẫu thuật được (lớn 
tuổi, có bệnh kèm theo, không thuận lợi cho gây 
mê), và bướu không tiến triển: tiếp tục hóa trị thêm 
3 chu kỳ và hội chẩn lại với phẫu thuật.
- Bệnh nhân không thể phẫu thuật được và 
bướu tiến triển: đổi phác đồ hóa trị bước 2 kết hợp 
với bevacizumab.
- Bệnh nhân có thể phẫu thuật được và cắt bướu 
hoàn toàn hoặc bướu còn tồn lưu sau phẫu thuật: 
tiếp tục hóa trị sau phẫu thuật 
2.3. Chỉ định điều trị khi bệnh tiến triển
Tình huống lâm sàng của một ung thư biểu mô 
buồng trứng đã/đang hóa trị bước 1 có thể tiến 
triển/tái phát trong các khoảng thời gian sau:
- Bệnh tiến triển trong khi hóa trị, hoặc tiến triển 
dưới 6 tháng kể từ chu kỳ cuối cùng của phác đồ 
hóa trị có Platin. Trường hợp này bệnh nhân được 
gọi là kháng trị với Platin hay tái phát sớm. Chỉ 
VÕ THỊ NGỌC ĐIỆP, NGUYỄN HOÀNG QUÝ
16
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
định điều trị trong trường hợp này là hóa trị bước 2 
(Doxorubicin bọc lyposôm hay Topotecan) kết hợp 
với bevacizumab (nếu trước đó chưa sử dụng).
- Bệnh tiến triển sau khi ngưng Platin trên 6 
tháng. Trường hợp này được gọi là tái phát muộn 
nhưng còn nhạy với điều trị Platin. Các phác đồ 
có thể sử dụng theo khuyến cáo là Carboplatin-
Paclitaxel, Carboplatin-Gemcitabine, Carboplatin 
và Doxorubicin bọc lyposôm, có thể kết hợp với 
bevacizumab (nếu trước đó chưa sử dụng). 
3. Kế hoạch điều trị
3.1. Phác đồ hóa trị
Carboplatin kết hợp Paclitaxel. 
Cơ sở của việc lựa chọn nhóm Platin-Paclitaxel 
là điều trị chuẩn trong ung thư buồng trứng dựa 
trên hai nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng pha 
III GOG111 và EORTC-NCIC OV10. Nghiên 
cứu so sánh giữa hai nhóm bệnh nhân hóa trị 
với phác đồ Cisplatin-Cyclophosphamide và 
Cisplatin-Paclitaxel. Nhóm bệnh nhân hóa trị 
bằng Cisplatin-Paclitaxel cho thấy cải thiện sống 
không bệnh tiến triển và sống còn toàn bộ so với 
nhóm điều trị bằng Cisplatin-Cyclophosphamide 
[3]. Đặc biệt, nếu thay Cisplatin bằng Carboplatin 
trong phác đồ kết hợp với Paclitaxel, thì hiệu quả 
tương đương nhưng độc tính hóa trị sẽ thấp hơn 
khi sử dụng phác đồ có Carboplatin, điều này 
được chứng minh qua nghiên cứu pha III của 
Ozols và cộng sự. Liều sử dụng của Carboplatin 
(AUC 5-6) và Paclitaxel (175 mg/m2) mỗi 3 tuần 
với 6 chu kỳ. Hiện tại không có bằng chứng cho 
thấy bệnh nhân cải thiện tiên lượng nếu hóa trị 
hơn 6 chu kỳ. 
Tuy nhiên lại có những bệnh nhân dị ứng 
hoặc không dung nạp được với Paclitaxel. Trong 
trường hợp này lựa chọn thay thế Paclitaxel bằng 
Doxorubicin bọc liposôm sẽ được xem xét dựa trên 
nghiên cứu MITO-2 cho thấy hiệu quả tương đương 
so với dùng Paclitaxel [4]. 
Trên thực tế lâm sàng, có những bệnh nhân 
không dung nạp được hóa trị, kể cả khi đã thay thế 
Paclitaxel. Trong tình huống này, lựa chọn đơn hóa 
trị bằng Carboplatin được chỉ định dựa trên nghiên 
cứu của ICON 3 (International Collaborative 
Ovarian Neoplam) [5]. Tính đến thời điểm này, thì 
không có chỉ định thêm bất kỳ một nhóm hóa chất 
độc tế bào thứ 3 nào vào trong phác đồ hóa trị ung 
thư biểu mô buồng trứng. 
3.2. Thay đổi lịch hóa trị
Tùy từng tình huống cụ thể trên bệnh nhân mà 
có thể thay đổi lịch hóa trị với bộ đôi Carboplatin 
và Paclitaxel mỗi 3 tuần bằng Paclitaxel hàng tuần 
và Carboplatin mỗi 3 tuần. Cơ sở của thay đổi lịch 
hóa trị hàng tuần dựa trên giả thuyết của nhóm 
nghiên cứu Norton-Simon nhằm mục đích làm 
giảm những dòng tế bào kháng thuốc hồi phục 
giữa các chu kỳ. Các nghiên cứu thử nghiệm lâm 
sàng đã tiến hành cho thấy không có sự khác biệt 
với phác đồ mỗi 3 tuần, ngược lại còn gây độc tính 
nhiều hơn trên hệ huyết học. Ngoài ra thì việc di 
chuyển hàng tuần điều trị ngoại trú để hóa trị và 
giá thành cũng là một trong những điểm hạn chế 
của việc thay đổi lịch hóa trị cho dù cơ sở của giả 
thuyết đặt ra có tính hợp lý cao.
3.3. Thay đổi đường truyền hóa chất
Hóa trị trong phúc mạc so với hóa trị bằng 
truyền tĩnh mạch
Thay đổi đường truyền hóa chất trong phúc 
mạc thay vì truyền tĩnh mạch được đưa ra dựa 
trên cơ sở ung thư biểu mô buồng trứng có đặc 
điểm gieo rắc phúc mạc. Tuy nhiên dựa trên 
chứng cứ lâm sàng của nghiên cứu GOG172 cho 
thấy hóa trị trong phúc mạc làm tăng độc tính, 
phương pháp thực hiện phức tạp và đòi hỏi kinh 
nghiệm của người làm, mặc dù sống còn toàn bộ 
của hóa trị trong phúc mạc cao hơn 16 tháng 
so với hóa trị bằng đường tĩnh mạch cùng phác 
đồ Carboplatin-Paclitaxel (66 tháng so với 50 
tháng). Chỉ định hóa trị trong phúc mạc vẫn đang 
còn nhiều tranh cãi [6]. 
Hóa trị tăng nhiệt trong phúc mạc (hyperthemic 
intraperitoneal chemotherapy) trong lúc phẫu thuật.
Một nghiên cứu vừa được công bố vào tháng 
1 năm 2018 của tác giả van Driel và cộng sự về 
hiệu quả của hóa trị tăng nhiệt trong phúc mạc 
trong lúc phẫu thuật đối với những bệnh nhân ung 
thư biểu mô buồng trứng tiến xa. Nghiên cứu đa 
trung tâm, pha III, phân bố ngẫu nhiên ở 245 
bệnh nhân đã hóa trị tân hỗ trợ với Carboplatin 
và Paclitaxel 3 chu kỳ. Tất cả các bệnh nhân đều 
được phẫu thuật để làm giảm tế bào bướu, hoặc 
kết hợp với hóa trị tăng nhiệt độ trong phúc mạc 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 14 - 18, 2018
17
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
trong lúc phẫu thuật bằng Cisplatin (100 mg/
m2), hoặc không hóa trị trong lúc mổ. Tất cả các 
bệnh nhân sau mổ được tiếp tục hóa trị thêm 3 
chu kỳ bằng bộ đôi Carboplatin-Paclitaxel và theo 
dõi sống còn toàn bộ. Kết quả của nghiên cứu 
cho thấy ở nhóm hóa trị trong lúc mổ có sống còn 
không bệnh tái phát là 14,2 tháng so với 10,7 
tháng ở nhóm không hóa trị trong lúc mổ, và sống 
còn toàn bộ là 45,7 tháng so với 33,9 tháng ở 
nhóm không hóa trị trong lúc mổ. Hóa trị trong lúc 
mổ hứa hẹn sẽ được phê duyệt và đưa vào phác 
đồ chuẩn trong thời gian sắp tới nhằm mang lại 
lợi ích sống còn cho bệnh nhân (7). 
3.4. Điều trị bằng kháng yếu tố tăng 
trưởng nội mạc mạch máu (anti-VEGF)
Điều trị bước một
Vai trò của điều trị hỗ trợ - duy trì của ức chế 
tăng sinh mạch bằng bevacizumab được chứng 
minh thông qua các thử nghiệm lâm sàng pha III 
GOG-218 trên 1873 bệnh nhân ung thư buồng 
trứng giai đoạn III-IV có bướu tồn lưu sau phẫu 
thuật giảm tổng khối bướu và trong nghiên cứu 
pha III ICON-7 trên 1528 bệnh nhân ung thư 
buồng trứng giai đoạn sớm nguy cơ cao. Trong 
cả hai nghiên cứu này, kết quả cho thấy vai trò 
của bevacizumab trong điều trị bước một và điều 
trị duy trì cho đến khi bệnh tiến triển đã mang lại 
lợi ích cho bệnh nhân [8]. Tuy nhiên giá thành của 
thuốc sẽ là điểm hạn chế nếu sử dụng lâu dài.
Điều trị khi bệnh tái phát – tiến triển
Kết hợp điều trị với kháng yếu tố tăng trưởng nội 
mạc mạch máu bằng bevacizumab cho thấy có hiệu 
quả trong các nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng và 
đã được khuyến cáo điều trị trong ung thư biểu mô 
buồng trứng tiến triển, trong nhóm tiến triển nhạy 
với Platin tái phát muộn và đặc biệt trong cả nhóm 
tiến triển kháng trị với Platin tái phát sớm [9].
Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng pha III 
OCEANS trên nhóm bệnh nhân tái phát nhạy với 
Platin cho thấy khi bevacizumab khi kết hợp với 
hóa trị (Gemcitabine - Carboplatin) sẽ mang lại 
sống còn không bệnh tiến triển hơn so với hóa trị 
đơn thuần không sử dụng bevacizumab. Trung vị 
sống còn toàn bộ lần lượt là 12,4 tháng và 8,4 
tháng lần lượt ở nhóm có hoặc không kết hợp với 
bevacizumab [10]. Ngoài ra trong nghiên cứu thử 
nghiệm lâm sàng pha III AURELIA trên nhóm bệnh 
nhân tiến triển kháng trị với platin, đã cho thấy 
sống còn không bệnh tiến triển ở nhóm hóa trị 
kết hợp với bevacizumab là 6,7 tháng cao hơn 
so với nhóm hóa trị đơn thuần là 3,4 tháng [11]. 
Bevacizumab đã được đưa vào sử dụng trong vài 
năm trở lại đây tại Việt Nam và bước đầu cho 
thấy hiệu quả trên bệnh nhân. Các nghiên cứu 
trong nước sẽ tiếp tục được tiến hành nhằm so 
sánh hiệu quả với các phác đồ trên thế giới.
3.5. Đích nhắm ức chế phân tử PARP
Olaparib là phân tử ức chế PARP đầu tiên được 
chỉ định trong ung thư buồng trứng có tình trạng đột 
biến gen BRCA kèm theo. Khảo sát đột biến BRCA 
có thể được thực hiện ngay lúc chẩn đoán hoặc khi 
bệnh tái phát với tỉ lệ đột biến chiếm khoảng 19 
– 31 % ở ung thư buồng trứng. Trong trường hợp 
này, điều trị bằng ức chế PARP cho thấy cải thiện 
sống còn không bệnh tiến triển là 8,4 tháng so với 
dùng giả dược là 4,8 tháng trong nghiên cứu của 
Ledermann năm 2012 [12].
4. Kết luận
Cùng với sự phát triển của sinh học phân tử 
trong chẩn đoán thì điều trị ung thư biểu mô buồng 
trứng đã có những thay đổi trong những năm gần 
đây đặc biệt là các đích nhắm trên phân tử PARP 
hay kháng yếu tố tăng sinh nội mạch (anti-VGEF). 
Tuy nhiên, phẫu thuật và theo sau bằng hóa trị bộ 
đôi Platin vẫn là những nền tảng không thể thay 
thế trong điều trị ung thư biểu mô buồng trứng tùy 
thuộc vào từng tình huống cụ thể. Ngoài ra thì hóa 
trị tăng nhiệt độ trong phúc mạc trong lúc phẫu 
thuật đã cho thấy mang lại lợi ích cho bệnh nhân 
trong thử nghiệm lâm sàng pha III trong những 
công bố gần đây. 
Trong kỷ nguyên của việc điều trị y khoa chính 
xác thì cá thể hóa điều trị bệnh nhân ung thư buồng 
trứng không chỉ dựa trên giải phẫu bệnh, loại tế 
bào, độ mô học hay giai đoạn bệnh mà còn dựa 
vào yếu tố sinh học phân tử và cả hoàn cảnh cụ thể 
từng bệnh nhân về kinh tế và xã hội. Phối hợp điều 
trị ung bướu nội khoa kết hợp với các chuyên khoa 
khác như phẫu thuật phụ khoa, giải phẫu bệnh, 
chẩn đoán hình ảnh và sản khoa sẽ mang lại lợi 
ích cho bệnh nhân ung thư buồng trứng nói riêng 
và bệnh nhân ung thư nói chung.
VÕ THỊ NGỌC ĐIỆP, NGUYỄN HOÀNG QUÝ
18
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
Tài liệu tham khảo
1. Collinson F, Qian W, Fossati R, Lissoni A, Williams C, Parmar M, et 
al. Optimal treatment of early-stage ovarian cancer. Ann Oncol. 2014 
Jun;25(6):1165–71. 
2. Singapore Cancer Network (SCAN) Gynaecological Cancers Systemic 
Therapy Workgroup. Singapore Cancer Network (SCAN) Guidelines for 
Front-Line Systemic Therapy of Newly Diagnosed Advanced Epithelial 
Ovarian Cancer. Ann Acad Med Singapore. 2015 Oct;44(10):421–33. 
3. Swart AMC, Parmar MKB, Harper P, Colombo N, Torri V. The 
European Canadian Intergroup trial (OV10 trial) and the US Gynaecologic 
Oncology Group trial (GOG 111). Int J Gynecol Cancer Off J Int Gynecol 
Cancer Soc. 2004 Aug;14(4):697; author reply 698. 
4. Pignata S, Scambia G, Ferrandina G, Savarese A, Sorio R, Breda E, et 
al. Carboplatin plus paclitaxel versus carboplatin plus pegylated liposomal 
doxorubicin as first-line treatment for patients with ovarian cancer: the 
MITO-2 randomized phase III trial. J Clin Oncol Off J Am Soc Clin Oncol. 
2011 Sep 20;29(27):3628–35. 
5. International Collaborative Ovarian Neoplasm Group. Paclitaxel 
plus carboplatin versus standard chemotherapy with either single-agent 
carboplatin or cyclophosphamide, doxorubicin, and cisplatin in women 
with ovarian cancer: the ICON3 randomised trial. Lancet Lond Engl. 2002 
Aug 17;360(9332):505–15. 
6. Monk BJ, Chan JK. Is intraperitoneal chemotherapy still an acceptable 
option in primary adjuvant chemotherapy for advanced ovarian cancer? 
Ann Oncol Off J Eur Soc Med Oncol. 2017 Nov 1;28(suppl_8):viii40-viii45. 
7. van Driel WJ, Koole SN, Sikorska K, Schagen van Leeuwen JH, 
Schreuder HWR, Hermans RHM, et al. Hyperthermic Intraperitoneal 
Chemotherapy in Ovarian Cancer. N Engl J Med. 2018 18;378(3):230–40. 
8. Rossi L, Verrico M, Zaccarelli E, Papa A, Colonna M, Strudel M, et 
al. Bevacizumab in ovarian cancer: A critical review of phase III studies. 
Oncotarget. 2016 Nov 11;8(7):12389–405. 
9. Francis J, Coakley N, Elit L, Mackay H. Systemic therapy for recurrent 
epithelial ovarian cancer: a clinical practice guideline. Curr Oncol. 2017 
Dec;24(6):e540–6. 
10. OCEANS: A Randomized, Double-Blind, Placebo-Controlled Phase 
III Trial of Chemotherapy With or Without Bevacizumab in Patients With 
Platinum-Sensitive Recurrent Epithelial Ovarian, Primary Peritoneal, 
or Fallopian Tube Cancer [Internet]. [cited 2018 Mar 6]. Available from: 
https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3646321/
11. Pujade-Lauraine E, Hilpert F, Weber B, Reuss A, Poveda A, 
Kristensen G, et al. Bevacizumab combined with chemotherapy for 
platinum-resistant recurrent ovarian cancer: The AURELIA open-label 
randomized phase III trial. J Clin Oncol Off J Am Soc Clin Oncol. 2014 
May 1;32(13):1302–8. 
12. Ledermann J, Harter P, Gourley C, Friedlander M, Vergote I, Rustin 
G, et al. Olaparib maintenance therapy in platinum-sensitive relapsed 
ovarian cancer. N Engl J Med. 2012 Apr 12;366(15):1382–92. 

File đính kèm:

  • pdfvai_tro_cua_ung_buou_noi_khoa_trong_dieu_tri_ung_thu_bieu_mo.pdf