Vai trò của tỷ số sFLT-1/PLGF trong dự báo và chẩn đoán tiền sản giật

Mục tiêu: (1) Tổng kết một số nghiên cứu gần đây trong việc sử dụng tỷ số sFlt-1/PlGF để dự báo và chẩn đoán tiền sản giật, (2) kết quả thử nghiệm sử dụng tỷ số sFlt-1/PlGF trong theo dõi tiền sản giật tại Bệnh Viện Trường Đại Học Y Dược Huế và (3) giới thiệu một chương trình “in house” chạy trên nền Excel để thuận lợi cho việc sử dụng tỷ số sFlt-1/ PlGF trong theo dõi TSG trên lâm sàng

pdf 4 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Vai trò của tỷ số sFLT-1/PLGF trong dự báo và chẩn đoán tiền sản giật", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Vai trò của tỷ số sFLT-1/PLGF trong dự báo và chẩn đoán tiền sản giật

Vai trò của tỷ số sFLT-1/PLGF trong dự báo và chẩn đoán tiền sản giật
Tập 13, số 04
Tháng 03-2016
Tạp chí PHỤ SẢN 
13
NGUYỄN VIẾT NHÂN, CAO NGỌC THÀNH, HÀ THỊ MINH THI, 
NGUYỄN VŨ QUỐC HUY, VÕ VĂN ĐỨC, TRƯƠNG QUANG VINH, TRẦN MẠNH LINH TẠP CHÍ PHỤ SẢN - 13(4), 12-19, 2016SẢN KHOA – SƠ SINH
Tập 13, số 04
Tháng 03-2016
Tạp chí PHỤ SẢN 
12
Tác giả liên hệ (Corresponding author): Nguyễn Viết Nhân, email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/11/2015. Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 26/11/2015. Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 18/12/2015
1. Mở đầu
Tiền sản giật (TSG) xảy ra trong khoảng từ 2 – 
8% thai kỳ và là nguyên nhân chính gây ra tử vong 
và bệnh lý ở mẹ và giai đoạn chu sinh [7]. Các bằng 
chứng nghiên cứu cho thấy TSG có thể được chia 
thành hai nhóm: (1) nhóm TSG sớm, đòi hỏi phải cho 
khởi sinh trước 34 tuần thai và (2) TSG muộn, phải cho 
khởi sinh ở 34 hoặc sau tuần thai [2]. Do TSG sớm kết 
hợp với một tỷ lệ tai biến cao trong sản khoa nên điều 
này đặt ra một yêu cầu là làm thế nào để có thể phát 
hiện sớm các thai kỳ có nguy cơ cao xảy ra TSG sớm 
để qua đó thực hiện các biện pháp cần thiết nhằm cải 
thiện chất lượng của bánh rau và giảm tỷ lệ TSG.
Để có thể dự báo TSG, việc sử dụng biện pháp 
kết hợp các thông tin từ các đặc điểm sinh lý của 
thai phụ, tiền sử mẹ thai phụ và gia đình, xung động 
mạch tử cung (ĐMTC), huyết áp trung bình, PAPP-A 
(pregnancy-associated plasma protein-A) và PlGF 
(placental growth factor) trong huyết thanh mẹ ở 
tuổi thai 11 đến 13+6 tuần để sàng lọc nguy cơ xảy 
ra TSG [6] trong quý 1 của thai kỳ đã được thực hiện 
thường quy tại một số cơ sở y tế. Tuy nhiên việc sàng 
lọc TSG ở quý 1 của thai kỳ vẫn cần tới các xét nghiệm 
hỗ trợ cho việc chẩn đoán và theo dõi tiến triển của 
TSG ở quý 2 và 3 của thai kỳ. Qua nhiều nghiên cứu, 
xét nghiệm đánh giá tỷ số sFlt-1/PlGF trong huyết 
thanh của thai phụ ở tuần thai từ 24 đến 37 đang dần 
trở thành một công cụ để chẩn đoán, dự báo và theo 
dõi diễn tiến của TSG [9]. Trong bài bào này chúng tôi 
Nguyễn Viết Nhân, Cao Ngọc Thành, Hà Thị Minh Thi, Nguyễn Vũ Quốc Huy, Võ Văn Đức, Trương Quang Vinh, Trần Mạnh Linh
VAI TRÒ CỦA TỶ SỐ sFLT-1/PLGF 
TRONG DỰ BÁO VÀ CHẨN ĐOÁN TIỀN SẢN GIẬT
Tóm tắt
Mục tiêu: (1) Tổng kết một số nghiên cứu gần 
đây trong việc sử dụng tỷ số sFlt-1/PlGF để dự báo 
và chẩn đoán tiền sản giật, (2) kết quả thử nghiệm 
sử dụng tỷ số sFlt-1/PlGF trong theo dõi tiền sản 
giật tại Bệnh Viện Trường Đại Học Y Dược Huế và 
(3) giới thiệu một chương trình “in house” chạy trên 
nền Excel để thuận lợi cho việc sử dụng tỷ số sFlt-1/
PlGF trong theo dõi TSG trên lâm sàng.
Abstract 
ROLE OF sFLT-1/PLGF RATIO FOR PREDICTION AND 
DIAGNOSIS OF PRE- ECLAMPSIA 
Objectives: (1) Summary the results of recent 
studies in implemention of the sFlt-1/PlGF ratio for 
prediction and diagnosis of pre-eclampsia, (2) The 
results of using test sFlt-1/PlGF ratio in following up pre-
eclampsia in the hospital of Hue University of Medicine 
and Pharmacy and (3) introduce an “in house” program 
in Excel to facilitate the use of sFlt-1/PlGF ratio for 
monitoring pre-eclampsia in clinical practice.
điểm qua một số nghiên cứu gần đây trong việc sử 
dụng tỷ số sFlt-1/PlGF để dự báo và chẩn đoán TSG, 
kết quả sử dụng tỷ số này trong theo dõi tiền sản 
giật tại Bệnh Viện Trường Đại Học Y Dược Huế và giới 
thiệu một chương trình “in house” chạy trên nền Excel 
để việc sử dụng tỷ số sFlt-1/PlGF trong theo dõi TSG 
trên lâm sàng thuận lợi hơn.
2. sFlt-1 (Soluble Fms-like tyrosine 
kinase -1) và PlGF (Placental Growth 
Factor) trong tiền sản giật [14][4]
PlGF (Placental Growth Factor: Yếu tố phát triển rau 
thai), bản chất là một glycoprotein đime được glycosyl 
hóa, thuộc nhóm các yếu tố tăng trưởng nội mô mạch 
máu (vascular endothelial growth factor). PlGF gắn 
với thụ thể yếu tố tăng trưởng nội mô-mạch máu 
1 trong thai kỳ và được tổng hợp trong các đơn bào 
nuôi gai rau và ngoài gai rau. PlGF vừa có chức năng 
sinh mạch máu (vasculargenetic) và tái tạo mạch máu 
(angiogenetic) và được cho là đã đóng góp vào sự thay 
đổi trong quá trình tái tạo mạch máu từ dạng phân 
nhánh thành dạng không phân nhánh nhằm kiểm 
soát sự mở rộng hệ thống mạng lưới mao mạch. Khả 
năng tái tạo mạch máu của PlGF được cho là có một vai 
trò nhất định trong thai kỳ bình thường do đó những 
thay đổi trong nồng độ của PlGF hoặc thụ thể ức chế 
PlGF được cho là có liên quan đến khả năng xảy ra TSG 
[8]. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy TSG đi kèm với việc 
giảm sản xuất PlGF của bánh rau và nồng độ của PlGF 
trong huyết thanh mẹ giảm trong các giai đoạn lâm 
sàng của TSG. Đã có những bằng chứng cho thấy sự 
sụt giảm PlGF xảy ra trước khi khởi phát TSG xảy ra 
trong cả quý I và II của thai kỳ [18] [5].
sFlt-1 là 1 chất kháng tái tạo mô mạch máu (anti 
angiogenetic) dạng hòa tan thuộc thụ thể VEGF 
(Vascular endothelial growth factor: yếu tố tăng 
trưởng nội mạc mạch máu) týp 1. sFlt-1 được hình 
thành từ receptor Flt-1, một receptor nội mạch cho 
cả VEGF và PlGF. Thành phần của sFlt-1 chỉ gồm một 
cấu phần (domain) của Flt-1 gắn với phối tử (ligand) 
ngoại bào nhưng không có các cấu phần tín hiệu nội 
bào và xuyên màng. sFlt-1 lưu chuyển tự do trong 
huyết thanh, gắn và trung hòa hoạt tính của VEGF và 
PlGF trong huyết thanh. Nhiều nghiên cứu cho thấy 
có sự gia tăng nồng độ của sFlt-1 ở các thai phụ bị 
tiền sản giật so với nhóm đối chứng. 
Đã có nhiều nghiên cứu bệnh chứng [11] và 
nghiên cứu theo thời gian (prospective study) [13] đã 
nhấn mạnh đến vai trò của việc đo lường nồng độ của 
sFlt-1 và PlGF trong máu ngoại vi của thai phụ như là 
một xét nhiệm dự báo cũng như chẩn đoán tiền sản 
giật. Nghiên cứu Stefan Verlohren và cs (2013) [17] 
cho thấy tỷ số sFlt-1/PlGF là một công cụ tin cậy để 
đánh giá TSG.
3. Chẩn đoán và theo dõi tiền sản giật 
dựa trên tỷ số sFlt-1/PlGF
Về mặt cơ chế bệnh sinh, TSG được cho là hậu 
quả của sự mất cân bằng giữa các protein tân tạo 
mạch máu (angiogenic) và kháng tân tạo mạch máu 
(antiangiogenic). Các nghiên cứu gần đây trên nhóm 
thai phụ có biểu hiện tăng HA nhằm mục đích xác 
định nhóm thai phụ sẽ bị TSG nặng cần phải khởi sinh 
sau từ 1 đến 4 tuần cho thấy tỷ số sFlt-1/PlGF có giá trị 
trong việc xác định nhóm thai phụ sẽ xuất hiện TSG 
với độ chính xác cao [3]. 
Nghiên cứu của Stefan Verlohren và cs (2013) [17] 
đưa ra ngưỡng đặc hiệu của tỷ số sFlt-1/PlGF trong chẩn 
đoán TSG với ngưỡng cho giai đoạn thai sớm (20+0 đến 
33+6 tuần) và giai đoạn thai muộn (34+0 tuần đến khi 
sinh). Với mỗi giai đoạn của thai kỳ, 2 ngưỡng tỷ số được 
xác lập nhằm xác định vùng nghi ngờ và vùng có giá 
trị chẩn đoán, ngưỡng tỷ số thứ nhất tập trung vào độ 
nhạy cao và tỷ số thứ hai tập trung vào độ đặc hiệu cao. 
- Trong giai đoạn từ 20+0 đến 33+6 tuần thai, 
ngưỡng ≤33 và ≥85 cho độ nhạy/độ đặc hiệu lần lượt 
là 95% và 94% và 88% và 99,5%. 
- Tỷ số sFlt-1/PlGF ≤33 cho tỷ số khả dĩ âm (negative 
likelihood) thấp nhất (0,05; 95% CI: 0,02–0,13), trong 
khi đó tỷ số ≥85 cho tỷ số khả dĩ dương (positive 
likelihood) cao nhất (176; 95% CI: 24,88–0,13). Sau 
34+0 tuần thai, ngưỡng ≤33 và ≥115 cho độ nhạy/độ 
đặc hiệu lần lượt là 89,6% và 73,1%; 58,2% và 95,5%. 
- Tỷ số sFlt-1/PlGF ≤33 cho tỷ số khả dĩ âm thấp 
nhất (0,14; 95% CI: 0,09–0,24), trong khi đó tỷ số 
≥110 cho tỷ số khả dĩ dương cao nhất (13; 95% CI: 
7,34–23,0).
Sự thuận tiện và đơn giản trong việc xác lập tỷ 
số sFlt-1/PlGF trên lâm sàng cùng với việc sử dụng 
Hình 1: Biểu đồ Gerhard minh họa các giới hạn quyết định TSG trên cơ sở xác định ngưỡng và vùng nghi ngờ. Đường xanh lam nhạt minh họa độ nhạy, đường xanh lam đậm minh họa độ đặc 
hiệu. Hình bên trái: Vị trí của ngưỡng 85 trên biểu đồ cho toàn bộ thai kỳ. Hình giữa: Ngưỡng cắt cho giai đoạn thai sớm. Hình phải: Ngưỡng cắt cho giai đoạn thai muộn. Vùng màu xanh lục ở 
phía dưới ngưỡng: nguy cơ thấp; vùng màu đỏ: nguy cơ cao; vùng màu vàng: nguy cơ trung gian. 
Toàn bộ thai kỳ Giai đoạn thai sớm Giai đoạn thai muộn
- Trường hợp tăng quá cao tỷ số sFlt-1/PlGF (>655 
ở tuổi thai 201 ở tuổi thai ≥34+0 tuần): 
xem xét nhu cầu khởi sinh trong vòng 48 giờ.
- Nếu < 34 tuần thai, cần giám sát chặt chẽ và bắt 
đầu sử dụng corticoid trước sinh để tăng cường sự 
trưởng thành phổi thai nhi.
- Tùy thuộc vào quyết định của bác sĩ, dựa trên mức 
độ nghiêm trọng, đánh giá lại tỷ số sFlt-1/PlGF sau từ 2 
đến 4 ngày để xác định xu hướng diễn tiến và theo dõi.
- Tần số thực hiện xét nghiệm có thể được điều 
chỉnh cho phù hợp với tình trạng lâm sàng và diễn 
biến của tỷ số sFlt-1/PlGF.
Tập 13, số 04
Tháng 03-2016
Tạp chí PHỤ SẢN 
15
NGUYỄN VIẾT NHÂN, CAO NGỌC THÀNH, HÀ THỊ MINH THI, 
NGUYỄN VŨ QUỐC HUY, VÕ VĂN ĐỨC, TRƯƠNG QUANG VINH, TRẦN MẠNH LINH TẠP CHÍ PHỤ SẢN - 13(4), 12-19, 2016SẢN KHOA – SƠ SINH
Tập 13, số 04
Tháng 03-2016
Tạp chí PHỤ SẢN 
14
2 mức ngưỡng thay vì chỉ một ngưỡng cho phép 
phản ảnh tốt hơn bệnh sinh của TSG. Thiết lập 2 mức 
ngưỡng đặc hiệu cho hai giai đoạn thai sớm và thai 
muộn giúp xác lập được mức nguy cơ cao (vùng màu 
đỏ trên biểu đồ Gerhard), nguy cơ thấp (vùng xanh 
lục) và vùng nghi ngờ (màu vàng) trong mỗi giai 
đoạn mang thai làm tăng tính chính xác của việc sử 
dụng tỷ số sFlt-1/PlGF trong chẩn đoán và theo dõi 
TSG qua đó làm giảm nguy cơ tử vong và bệnh lý của 
mẹ và thai (Hình 1).
Tuy nhiên nghiên cứu kiểu bệnh chứng của Stefan 
Verlohren và cs không cho phép tính các giá trị dự báo 
dương tính dương và âm, kết quả chỉ áp dụng cho các 
trường hợp đơn thai mà không thể dùng trong các 
trường hợp đa thai. Một hạn chế khác là nghiên cứu 
được thực hiện ở Châu Âu với đối tượng nghiên cứu chủ 
yếu là người da trắng do đó có thể ở những chủng tộc 
khác, ở những quần thể khác với tỷ lệ mắc TSG khác kết 
quả nghiên cứu sẽ thay đổi do đó cần có nhiều nhiều 
nghiên cứu hơn để làm sáng tỏ những điểm này. 
Martin Hunt và cs (2014) [15] giới thiệu quy trình 
nghiên cứu tiền cứu trên nhiều trung tâm y khoa để 
đánh giá về dự báo kết quả ngắn hạn ở những thai 
phụ nghi ngờ TSG nhằm cung cấp bằng chứng toàn 
diện về sự chính xác của tỷ số sFlt-1/PlGF trong việc 
dự báo ngắn hạn hội chứng tiền sản giật/sản giật / 
HELLP. Đánh giá tiềm năng làm giảm tần số của các 
kết cục thai kỳ bất lợi cho cả mẹ và thai và giảm chi 
phí chăm sóc sức khỏe liên quan đến việc nhập viện 
không cần thiết của các thai phụ nghi ngờ TSG.
Harald Zeisler và cs (2014) [10] căn cứ trên đề 
cương nghiên cứu của Martin Hunt và cs. đã đưa ra 
kết quả nghiên cứu với tỷ lệ lưu hành TSG trong nhóm 
nghiên cứu là 19%, ngưỡng thích hợp của tỷ số sFlt-
1/PlGF là 38 cho tất cả các tuổi thai từ 24 – 37 tuần. 
Với giá trị dự báo âm (NPV: negative predictive value) 
>96% cho phép khẳng định loại bỏ khả năng xảy ra 
TSG trong vòng 1 tuần (95% CI: 97,9 – 99,9%), giá trị 
dự báo dương (PPV: positive predictive value) >25% 
cho phép khẳng định xảy ra TSG trong vòng 4 tuần 
với khoảng tin cậy 95% (28,4– 45,7%), trên tổng số 
Giá trị dự báo của tỷ số sFlT-1/PlGF 38, %(95% CI)
Lọai trừ TSG trong vòng 1 tuần Khả năng xảy ra TSG trong vòng 4 tuần
NPV 99.1 (98.2–99.6) 94.9 (93.1–96.3)
PPV 16.7 (12.3–21.9) 38.6 (32.6–45.0)
Độ nhạy 85.7 (72.8–94.1) 70.3 (61.9–77.8)
Độ đặc hiệu 79.1 (76.5–81.6) 83.1 (80.5–85.5)
Bảng 1. Ngưỡng tỷ số sFlt-1/PlGF là 38 ở khoảng tin cậy 95% cho kết quả giá trị dự báo 
âm (NPV: negative predictive value) giá trị dự báo dương (PPV: positive predictive value), độ 
nhạy và độ đặc hiệu
Có các dấu hiệu hoặc triệu chứng lâm sàng dưới đây:
• Xuất hiện tăng huyết áp tiên phát 
• Tình trạng tăng huyết áp sẵn có trở nên nghiêm trọng hơn
• Xuất hiện protein niệu tiên phát
• Tình trạng protein niệu sẵn có trở nên nghiêm trọng hơn
Có một hoặc một số dấu hiệu gợi ý TSG dưới đây:
Có các triệu chứng liên quan đến TSG:
• Đau vùng thượng vị
• Phù quá mức (vùng mặt, bàn tay, bàn chân)
• Nhức đầu
• Xuất hiện các rối loạn thị giác
• Tăng cân đột ngột (>1kg/tuần ở quý III của thai kỳ)
Có các kết quả xét nghiệm liên quan đến TSG: 
• Tiểu cầu giảm
• Tăng men gan
• Nghi ngờ thai kém phát triển trong tử cung
• Doppler động mạch tử cung bất thường (mean PI>95th centile ở quý II và/hoặc khuyết tâm 
trương hai bên)
Bảng 3. Các biểu hiện nghi ngờ khả năng xảy ra TSG trên lâm sàng
1050 đối tượng nghiên cứu với ngưỡng tỷ số sFlt-1/
PlGF là 38 ở khoảng tin cậy 95% cho kết quả giá trị dự 
báo âm giá trị dự báo dương, độ nhạy và độ đặc hiệu 
được trình bày trong bảng 1.
Qua nghiên cứu các tác giả đi đến kết luận: với 
ngưỡng 38 của tỷ số sFlt-1/PlGF có giá trị để loại trừ 
TSG trong vòng 1 tuần và khả năng xảy ra TSG trong 
vòng 4 tuần ở các thai phụ nghi ngờ TSG ở tuổi thai 
24 – 37 tuần và dự đoán kết cục xấu của thai nhi.
H. Stepan và cs (2015) [9] nhấn mạnh tiềm năng 
của tỷ số sFlt-1/PlGF trong việc trở thành một công 
cụ bổ sung để quản lý TSG. Các tác giả đã đưa ra một 
công bố đồng thuận trong hướng dẫn thực hành 
lâm sàng việc sử dụng tỷ số sFlt-1/PlGF trong chẩn 
đoán và dự báo TSG, giúp các nhà thực hành lâm sàng 
quyết định “khi nào?” và “ ở thai phụ nào?” sẽ cần thực 
hiện xét nghiệm sFlt-1 và PlGF, cũng như các thực 
hành cần thiết dựa trên kết quả phân tích tỷ số sFlt-1/
PlGF trên các đối tượng thai phụ có dấu hiệu hoặc 
triệu chứng của TSG hoặc có nguy cơ cao bị TSG.
Công bố nay nhằm mục tiêu áp dụng thuật toán 
đánh giá nguy cơ xảy ra TSG trên 
2 nhóm đối tượng khác nhau:
- Nhóm 1: Bao gồm các phụ nữ đã có dấu hiệu và 
triệu chứng TSG theo các tiêu chuẩn chẩn đoán TSG 
của Hiệp hội Sản phụ khoa Hoa kỳ (ACOG, 2013) [16] 
(Bảng 2) và các phụ nữ có các biểu hiện nghi ngờ TSG 
[12] (Bảng 3).
- Nhóm 2: Các phụ nữ có nguy cơ cao xảy ra TSG 
nhưng không có triệu chứng, nhóm này bao gồm:
+ Những phụ nữ có các tiêu chuẩn đã được xác lập 
kết hợp với việc tăng nguy cơ xảy ra TSG.
+ Những phụ nữ đã được xác định có nguy cơ dựa 
trên kết quả đánh giá Doppler xung ĐMTC.
+ Những phụ nữ cảm thấy có sự gia tăng nguy cơ 
xảy ra TSG.
Như vậy các thai phụ tham gia sàng lọc TSG ở 
tuần thai 11- 13+6 nếu không có triệu chúng nhưng 
có nguy cơ cao xảy ra TSG sớm, muộn hoặc tăng HA 
thai kỳ có thể được xem như thuộc về nhóm 2.
Các tác giả cũng nhấn mạnh một số điểm chính yếu:
1. Tỷ số sFlt-1/PlGF không được coi như là một test 
sàng lọc.
2. Tỷ số sFlt-1/PlGF không thay thế các kỹ thuật 
khác để theo dõi các bệnh nhân có nguy cơ cao.
3. Các quyết định liên quan đến việc khởi sinh 
không được dựa trên chỉ một mình tỷ số sFlt-1/PlGF, 
mà luôn được thực hiện dựa trên việc đánh giá phối 
hợp giữa các triệu chứng, dấu hiệu lâm sàng và các kỹ 
thuật đã được thiết lập khác. 
4. Các ngưỡng được sử dụng trong bản công bố 
này chỉ áp dụng cho tỷ số sFlt-1/PlGF sử dụng xét 
nghiệm Elecsys sFlt-1 và PlGF (Roche). 
H. Stepan và cs đã đưa ra hướng dẫn sử dụng tỷ 
số sFlt-1/PlGF trong thực hành lâm sàng như là một 
công cụ để chẩn đoán và dự báo TSG chứ không phải 
là một công cụ sàng lọc để theo dõi diễn tiến của 
TSG và thời điểm tối ưu để b ...  
KẾT QUẢ 
Có các dấu hiệu nghi ngờ TSG không? 
Sử dụng hàm IF và AND. 
- Nếu có một trong các dấu hiệu nghi ngờ TSG
sẽ xuất hiện “CÓ” nếu không có dấu hiệu nào sẽ 
xuất hiện “KHÔNG” 
Có dấu hiệu TSG không? 
Sử dụng hàm IF, OR và AND 
- Nếu có “HA tâm thu ≥ 140 mmHg hoặc HA tâm 
trương ≥ 90 mmHg” và “Tỷ số Protein/Creatinine 
≥ 0,3 (đo theo đơn vị mg/dL) hoặc que thử cho 
kết quả 1+” hiện “CÓ” 
- Nếu có “HA tâm thu ≥ 140 mmHg hoặc HA tâm 
trương ≥ 90 mmHg” và ít nhất 1 trong 4 biểu 
hiện “Tiểu cầu <100.000/microliter”; “Nồng độ 
creatinine huyết thanh > 1,1 mg/dL”; “Tăng 
nồng độ các enzym transaminase gấp hai lần”; 
“Phù phổi”; “Các triệu chứng về thị giác và 
não” hiện “CÓ” 
- Nếu không thỏa mãn các điều kiện trên hiện 
“KHÔNG” 
Có nguy cơ TSG nhưng không có triệu 
chứng: 
Sử dụng hàm IF Và OR 
- Nếu sàng lọc TSG ở tuổi thai 11 – 13 có nguy 
cơ xảy ra TSG sớm hoặc TSG muộn hoặc tăng HA 
thai kỳ sẽ xuất hiện “CÓ” nếu tât cả đều có 
nguy cơ thấp sẽ xuất hiện “KHÔNG” 
Ngày sinh dự kiến: Ngày siêu âm +(280-tuổi thai theo ngày), định dạng dd/mm/yyyy 
Tuổi thai Tuần: Sử dụng hàm ROUNDDOWN của (tuổi thai theo ngày)/7 với numdigit=0 
Ngày: Sử dụng hàm ROUNDDOWN của (tuổi thai theo ngày – tuổi thai theo tuần x 7), với numdigit=0 
Tỷ số sFlt-1/PlGF: =sFlt-1/PlGF 
NHẬN XÉT 
Sử dụng hàm IF, OR và CELL (“Content”, ô chứa nội dung) 
Tập 13, số 04
Tháng 03-2016
Tạp chí PHỤ SẢN 
19
NGUYỄN VIẾT NHÂN, CAO NGỌC THÀNH, HÀ THỊ MINH THI, 
NGUYỄN VŨ QUỐC HUY, VÕ VĂN ĐỨC, TRƯƠNG QUANG VINH, TRẦN MẠNH LINH TẠP CHÍ PHỤ SẢN - 13(4), 12-19, 2016SẢN KHOA – SƠ SINH
Tập 13, số 04
Tháng 03-2016
Tạp chí PHỤ SẢN 
18
10 
CỘT 1 CỘT 2 
CÓ NGUY CƠ CAO TSG NHƯNG KHÔNG CÓ TRIỆU CHỨNG 
(Dựa trên kết quả sàng lọc TSG ở tuần thai 11 - 13+6). Thời điểm tối ưu để bắt đầu đánh giá tỷ số sFlt-
1/PlGF ở nhóm bệnh nhân này: 24 - 26 tuần thai 
Nguy cơ cao TSG sớm: List box: “Có”;”Không” 
Nguy cơ cao TSG muộn: List box: “Có”;”Không” 
Nguy cơ cao bị rối loạn HA trong thai kỳ: List box: “Có”;”Không” 
KẾT QUẢ SIÊU ÂM VÀ XÉT NGHIỆM 
Ngày siêu âm: “dd/mm/yyyy” 
Đường kính lưỡng đỉnh (BPD): “number” 0.0 
Ngày lấy mẫu xét nghiệm: “dd/mm/yyyy” 
sFlt-1 (pg/mL): “number” 0.0 
PlGF (pg/mL): “number” 0.0 
KẾT QUẢ 
Có các dấu hiệu nghi ngờ TSG không? 
Sử dụng hàm IF và AND. 
- Nếu có một trong các dấu hiệu nghi ngờ TSG 
sẽ xuất hiện “CÓ” nếu không có dấu hiệu nào sẽ 
xuất hiện “KHÔNG” 
Có dấu hiệu TSG không? 
Sử dụng hàm IF, OR và AND 
- Nếu có “HA tâm thu ≥ 140 mmHg hoặc HA tâm 
trương ≥ 90 mmHg” và “Tỷ số Protein/Creatinine 
≥ 0,3 (đo theo đơn vị mg/dL) hoặc que thử cho 
kết quả 1+” hiện “CÓ” 
- Nếu có “HA tâm thu ≥ 140 mmHg hoặc HA tâm 
trương ≥ 90 mmHg” và ít nhất 1 trong 4 biểu 
hiện “Tiểu cầu <100.000/microliter”; “Nồng độ 
creatinine huyết thanh > 1,1 mg/dL”; “Tăng 
nồng độ các enzym transaminase gấp hai lần”; 
“Phù phổi”; “Các triệu chứng về thị giác và 
não” hiện “CÓ” 
- Nếu không thỏa mãn các điều kiện trên hiện 
“KHÔNG” 
Có nguy cơ TSG nhưng không có triệu 
chứng: 
Sử dụng hàm IF Và OR 
- Nếu sàng lọc TSG ở tuổi thai 11 – 13 có nguy 
cơ xảy ra TSG sớm hoặc TSG muộn hoặc tăng HA 
thai kỳ sẽ xuất hiện “CÓ” nếu tât cả đều có 
nguy cơ thấp sẽ xuất hiện “KHÔNG” 
Ngày sinh dự kiến: Ngày siêu âm +(280-tuổi thai theo ngày), định dạng dd/mm/yyyy 
Tuổi thai Tuần: Sử dụng hàm ROUNDDOWN của (tuổi thai theo ngày)/7 với numdigit=0 
Ngày: Sử dụng hàm ROUNDDOWN của (tuổi thai theo ngày – tuổi thai theo tuần x 7), với numdigit=0 
Tỷ số sFlt-1/PlGF: =sFlt-1/PlGF 
NHẬN XÉT 
Sử dụng hàm IF, OR và CELL (“Content”, ô chứa nội dung) 10 
CỘT 1 CỘT 2 
CÓ NGUY CƠ CAO TSG NHƯNG KHÔNG CÓ TRIỆU CHỨNG 
(Dựa trên kết quả sàng lọc TSG ở tuần thai 11 - 13+6). Thời điểm tối ưu để bắt đầu đánh giá tỷ số sFlt-
1/PlGF ở nhóm bệnh nhân này: 24 - 26 tuần thai 
Nguy cơ cao TSG sớm: List box: “Có”;”Không” 
Nguy cơ cao TSG muộn: List box: “Có”;”Không” 
Nguy cơ cao bị rối loạn HA trong thai kỳ
KẾT QUẢ SIÊU ÂM VÀ XÉT NGHIỆM 
Ngày siêu âm: “dd/mm/yyyy” 
Đường kính lưỡng đỉnh (BPD): “number” 0.0 
Ngày lấy mẫu xét nghiệ
sFlt-1 (pg/mL
PlGF (p /mL) number” 0.0
KẾT QUẢ 
Có các dấu hiệu nghi ngờ TSG không? 
Sử dụng hàm IF và AND. 
- Nếu có một trong các dấu hiệu nghi ngờ TSG 
sẽ xuất hiện “CÓ” nếu không có dấu hiệu nào sẽ 
xuất hiện “KHÔNG”
Có dấu hiệu TSG không? 
Sử dụng hàm IF, OR và AND 
- Nếu có “HA tâm thu ≥ 140 mmHg hoặc HA tâm 
trương ≥ 90 mmHg” và “Tỷ số Protein/Creatinine 
≥ 0,3 (đo theo đơn vị mg/dL) hoặc que thử cho 
kết quả 1+” hiện “CÓ” 
- Nếu có “HA tâm thu ≥ 140 mmHg hoặc HA tâm
trương ≥ 90 mmHg” và ít nhất 1 trong 4 biểu
hiện “Tiểu cầu <100.000/microliter”; “Nồng độ 
creatinine huyết thanh > 1,1 mg/dL”; “Tăng 
nồng độ các enzym transaminase gấp hai lần”; 
“Phù phổi”; “Các triệu chứng về thị giác và 
não” hiện “CÓ” 
- Nếu không thỏa mãn các điều kiện trên hiện
KHÔNG” 
Có nguy cơ TSG nhưng không có triệu 
chứng: 
Sử dụng hàm IF Và OR 
- Nếu sàng lọc TSG ở tuổi thai 11 – 13 có nguy 
cơ xảy ra TSG sớm hoặc TSG muộn hoặc tăng HA 
thai kỳ sẽ xuất hiện “CÓ” nếu tât cả đều có 
nguy cơ thấp sẽ xuất hiện “KHÔNG” 
Ngày sinh dự kiến: Ngày siêu âm +(280-tuổi thai theo ngày), định dạng dd/mm/yyyy 
Tuổi thai Tuần: Sử dụng hàm ROUNDDOWN của (tuổi thai theo ngày)/7 với numdigit=0 
Ngày: Sử dụng hàm ROUNDDOWN của (tuổi thai theo ngày – tuổi thai theo tuần x 7), với numdigit=0 
Tỷ số sFlt-1/PlGF: =sFlt-1/PlGF 
NHẬN XÉT 
Sử dụng hàm IF, OR và CELL (“Content”, ô chứa nội dung) 
11 
(1) Nếu tỷ số sFlt-1/PlGF < 38 xuất hiện dòng: 
“Tỷ số sFlt-1/PlGF < 38: Loại trừ khả năng TSG trong vòng tối thiểu 1 tuần, 
không kể tuổi thai. Việc tiếp tục quản lý TSG tùy thuộc quyết định của bác sĩ.” 
(2) Nếu tỷ số sFlt-1/PlGF trong giới hạn 38 - 85 (TSG sớm) hoặc 38 - 110 (TSG 
muộn)xuất hiện các dòng: 
“Tỷ số sFlt-1/PlGF trong giới hạn 38 - 85 (TSG sớm) hoặc 38 - 110 (TSG muộn): 
Cung cấp thêm thông tin cho những thai phụ có nguy cơ cao hoặc trung bình xảy ra 
TSG trong vòng 4 tuần. Hiện trạng TSG hoặc rối loạn liên quan đến bánh rau có 
thể được loại trừ tuy nhiên thai phụ vẫn còn nguy cơ (đặc biệt đối với nhóm TSG 
sớm). 
Khởi bệnh sớm: Xem xét việc theo dõi tỷ số sFlt-1/PlGF trong 1 - 2 tuần, tùy 
theo tình trạng lâm sàng của thai phụ để tiến hành việc điều trị phù hợp. 
Khởi bệnh muộn: Tỷ số trung gian của sFlt-1/PlGF gợi ý sắp xảy ra rối loạn chức 
năng bánh rau. Xem xét hạ ngưỡng để khởi phát chuyển dạ.” 
(1) Nếu tỷ số s Flt-1/PlGF > 85 (TSG sớm) hoặc > 110 (TSG muộn) xuất hiện các 
dòng: 
“Tỷ số s Flt-1/PlGF > 85 (TSG sớm) hoặc > 110 (TSG muộn): Khả năng xảy ra TSG 
hoặc rối loạn liên quan tới bánh rau rất cao. Thực hiện việc quản lý TSG cho 
thai phụ theo hướng dẫn. 
Trường hợp tăng quá cao tỷ số sFlt-1/PlGF (>655 ở tuổi thai 201 ở 
tuổi thai ≥34+0 tuần) kết hợp chặt chẽ với nhu cầu khởi sinh trong vòng 48 giờ. 
Nếu < 34 tuần thai, cần giám sát chặt chẽ và buộc phải bắt dầu sử dụng corticoid 
trước sinh để tăng cường sự trưởng thành phổi thai nhi. 
Tùy thuộc vào quyết định của bác sĩ dựa trên mức độ nghiêm trọng, đánh giá lại 
tỷ số sFlt-1/PlGF sau từ 2 đến 4 ngày để xác định xu hướng diễn tiến và theo 
dõi. 
Tần số thực hiện xét nghiệm có thể được điều chỉnh cho phù hợp với tình trạng 
lâm sàng và xu hướng vận động của tỷ số sFlt-1/PlGF.” 
Với mỗi thai phụ, sau khi nhập các thông tin trong mục “Thông tin thai phụ”, dựa vào 
thăm khám lâm sàng, kết quả xét nghiệm tiểu cầu, men gan, siêu âm Doppler động mạch tử 
cung để xác định các dấu hiệu nghi ngờ TSG, các dấu hiệu TSG nếu có, kết quả sàng lọc 
TSG ở tuần thai 11 – 13+6, cán bộ y tế sẽ chọn mục tương ứng “có” hoặc “không” trong hộp 
liệt kê (drop down list box) ở các mục tương ứng. 
Sau khi nhập kết quả siêu âm (để đánh giá tuổi thai) và kết quả xét nghiệm sFlt-1 và 
PlGF, trong phần “Kết quả” sẽ tự động xuất hiện đánh giá thai phụ có hoặc không có các dấu 
hiệu nghi ngờ TSG, TSG, có nguy cơ TSG nhưng không có triệu chứng cùng với ngày sinh 
dự kiến, tuổi thai và tỷ số sFlt-1/PlGF. Trong ô “Nhận xét” sẽ tự động xuất hiện mẫu tư vấn 
tương ứng với mỗi ngưỡng tỷ số sFlt-1/PlGF. 
Chương trình này có thể được tải xuống từ trang web www.chaodontuonglai.vn trong 
mục “Sách – tài liệu” từ 01/12/2015. 
LỜI CÁM ƠN 
Để có thể hoàn thành bài báo này, chúng tôi xin chân thành cám ơn: 
1. Công ty Roche Diagnostics đã hỗ trợ sinh phẩm phục vụ phân tích sFlt-1 và PlGF cho 
các bệnh nhân trong nghiên cứu. 
2. Đơn vị Xét nghiệm Trung tâm Bệnh viện Trường Đại Học Y Dược Huế đã thực hiện 
các xét nghiệm và cung cấp số liệu về sFlt-1 và PlGF trên hệ thống COBAS 6000. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
tin, trên mỗi hàng tương ứng được format để nhập các 
dữ liệu phù hợp như trình bày dưới đây (Bảng 7):
Với mỗi thai phụ, sau khi nhập các thông tin trong 
mục “Thông tin thai phụ”, dựa vào thăm khám lâm 
sàng, kết quả xét nghiệm tiểu cầu, men gan, siêu âm 
Doppler động mạch tử cung để xác định các dấu hiệu 
nghi ngờ TSG, các dấu hiệu TSG nếu có, kết quả sàng 
lọc TSG ở tuần thai 11 – 13+6, cán bộ y tế sẽ chọn mục 
tương ứng “có” hoặc “không” trong hộp liệt kê (drop 
down list box) ở các mục tương ứng. 
Sau khi nhập kết quả siêu âm (để đánh giá tuổi thai) 
và kết quả xét nghiệm sFlt-1 và PlGF, trong phần “Kết 
quả” sẽ tự động xuất hiện đánh giá thai phụ có hoặc 
không có các dấu hiệu nghi ngờ TSG, TSG, có nguy cơ 
TSG nhưng không có triệu chứng cùng với ngày sinh 
dự kiến, tuổi thai và tỷ số sFlt-1/PlGF. Trong ô “Nhận 
xét” sẽ tự động xuất hiện mẫu tư vấn tương ứng với 
mỗi ngưỡng tỷ số sFlt-1/PlGF.
Chương trình này có thể được tải xuống từ trang 
web www.chaodontuonglai.vn trong mục “Sách – tài 
liệu” từ 01/12/2015.
LỜI CÁM ƠN
Để có thể hoàn thành bài báo này, chúng tôi xin 
chân thành cám ơn:
1. Công ty Roche Diagnostics đã hỗ trợ sinh phẩm 
phục vụ phân tích sFlt-1 và PlGF cho các bệnh nhân 
trong nghiên cứu.
2. Đơn vị Xét nghiệm Trung tâm Bệnh viện Trường 
Đại Học Y Dược Huế đã thực hiện các xét nghiệm và cung 
cấp số liệu về sFlt-1 và PlGF trên hệ thống COBAS 6000.
Tài liệu tham khảo
Tiếng Việt
1. Ng yễn Chính Nghĩa. Nghiên cứu yếu tố phát triển rau thai 
(PlGF) và thụ thể yếu tố phát triển nội mạc hòa tan (sFlt-1) trong 
huyết thanh ở thai phụ bình thường và thai phụ có nguy cơ tiền 
sản giật. Luận án Tiến sĩ Y học. Trường Đại Học Y Hà nội. 2013.
Tiếng Anh
2. A. G. Witlin, G. R. Saade, F. Mattar, and B. M. Sibai, 
“Predictors of neonatal outcome in women with severe 
preeclampsia or eclampsia between 24 and 33 weeks’ 
gestation,” The American Journal of Obstetrics and 
Gynecology. 2000; vol. 182; no. 3; 607–611.
3. A. Ohkuchi, C. Hirashima, K. Takahashi, H. Suzuki, S. 
Matsubara, and M. Suzuki, “Onset threshold of the plasma 
levels of soluble fms-like tyrosine kinase 1/placental growth 
factor ratio for predicting the imminent onset of preeclampsia 
within 4 weeks aftr blood sampling at 19–31 weeks of gestation,” 
Hypertension Research. 2013; vol. 36; no. 12; 1073–1038.
4. Alice Wang, Sarosh Rana, S. Ananth Karumanchi. 
Preeclampsia: The Role of Angiogenic Factors in Its 
Pathogenesis. Physiology. Vol. 24 no. 3, 147-158.
5. Cabero and E. Gratacos, “Predictive value of angiogenic 
factors´ and uterine artery Doppler for early- versus late-onset 
preeclampsia and intrauterine growth restriction,” Ultrasound 
in Obstetrics and Gynecology. 2008; vol. 31; no. 3; 303–309.
6. D. Wright, R. Akolekar, A. Syngelaki, L. C. Poon, and K. H. 
Nicolaides, “A competing risks model in early screening for 
preeclampsia”, Fetal Diagnosis and Therapy. 2012; vol. 32; 171–178.
7. E.A. Steegers, von Dadelszen P, Duvekot JJ, Pijnenborg R. 
Pre-eclampsia. Lancet. 2010; 376; 631 - 644.
8. H. Stepan, A. Unversucht, N. Wessel, and R. Faber, 
“Predictive value of maternal angiogenic factors in second 
trimester pregnancies with abnormal uterine perfusion,” 
Hypertension. 2007; vol. 49; no. 4; 818–824.
9. H. Stepan, I. Herraiz, D. Schlembach, S. Verlohren, S. 
Brennecke, F. Chantraine, E. Klein, O. Lapaire, E. Llurba, A. 
Ramoni, M. Vatish, D. Wertaschniggand A. Galindo. Opinion. 
Implementation of the sFlt-1/PlGF ratio for prediction a 
nd diagnosis of pre-eclampsia in singleton pregnancy: 
implications for clinical practice. Ultrasound Obstet Gynecol. 
2015; 45; 241–246.
10. H. Zeisler, Llurba E, Chantraine F,Vatish M, Staff A, 
Sennstrom, M, Olovsson M, Brennecke S, Stepan H, Allegranza 
D, Dilba P, Schoedl M, Hund M, Verlohren S. Prediction of 
Short-Term Outcome in Pregnant Women with Suspected 
Preeclampsia: The PROGNOSIS Study. COGI 2014, Paris. 
Abstract P79. Available at:  com/
cogi/images/pdf/COGIParisAbstractBook.pdf. [Accessed 
January 2015].
11. Herse F, Verlohren S, Wenzel K, et al. Prevalence of 
agonistic autoantibodies against the angiotensin II type 1 
receptor and soluble fmslike tyrosine kinase 1 in a gestational 
agematched case study. Hypertension 2009;53: 393-8
12. Hund M, Schoedl M, Dilba P, Verhagen-Kamerbeek W, 
Stepan H. Multicenter prospective clinical study to evaluate 
the prediction of short-term outcome in pregnant women with 
suspected preeclampsia (PROGNOSIS): study protocol. BMC 
Pregnancy Childbirth 2014; 1 4: 324.
13. Kusanovic JP, Romero R, Chaiworapongsa T, et al. A 
prospective cohort study of the value of maternal plasma 
concentrations of angiogenic and anti-angiogenic factors 
in early pregnancy and midtrimester in the identification of 
patients destined to develop preeclampsia. J Matern Fetal 
Neonatal Med 2009;22:1021-38
14. Lakshmi Tanuja Petla, Rosy Chikkala, K.S. Ratnakar, 
Vijayalakshmi Kodati, V. Sritharan. Biomarkers for the 
management of pre-eclampsia in pregnant women. Indian J 
Med Res 138, July 2013, pp 60-67.
15. Martin Hund, Deirdre Allegranza1, Maria Schoedl, 
Peter Dilba, Wilma Verhagen-Kamerbeek and Holger Stepan. 
Multicenter prospective clinical study to evaluate the 
prediction of short-term outcome in pregnant women with 
suspected preeclampsia (PROGNOSIS): study protocol. BMC 
Pregnancy and Childbirth 2014; 14; 324.
16. Report of the American College of Obstetricians and 
Gynecologists. Hypertension in Pregnancy. November 2013; 
vol. 122; no. 5; 1122-1131.
17. Stefan Verlohren, Ignacio Herraiz, Olav Lapaire, Dietmar 
Schlembach, Harald Zeisler, Pavel Calda, Joan Sabria, Filiz 
Markfeld-Erol, Alberto Galindo, Katharina Schoofs, Barbara 
Denk, Holger Stepan. New Gestational Phase–Specific Cutoff 
Values for the Use of the Soluble fms-Like Tyrosine Kinase-1/
Placental Growth Factor Ratio as a Diagnostic Test for 
Preeclampsia. Hypertension. published online October 28, 
2013. Received June 15, 2013; fist decision July 7, 2013; revision 
accepted October 1, 2013
18. T. Krauss, H. Pauer, and H. G. Augustin, “Prospective 
analysisof placenta growth factor (PlGF) concentrations in 
the plasma of women with normal pregnancy and pregnancies 
complicatedby preeclampsia,” Hypertension in Pregnancy. 
2004; vol. 23; no. 1; 101–111.

File đính kèm:

  • pdfvai_tro_cua_ty_so_sflt_1plgf_trong_du_bao_va_chan_doan_tien.pdf