Vai trò của nitric oxide đường thở trong kiểm soát hen phế quản có viêm mũi dị ứng ở trẻ em

Kiểm soát hen là mục tiêu chính trong điều trị dự phòng hen phế quản. Nồng độ nitric oxide (NO) tại đường

thở là chỉ số khách quan giúp đánh giá cả tình trạng viêm và tình trạng kiểm soát hen. Mục tiêu của nghiên

cứu là đánh giá vai trò NO đường thở trong kiểm soát hen phế quản có viêm mũi dị ứng (viêm mũi dị ứng) ở

trẻ em. Nghiên cứu được thực hiện trên 82 trẻ hen phế quản có viêm mũi dị ứng từ 6 - 15 tuổi. Các trẻ được

thăm khám, đánh giá tình trạng kiểm soát hen dựa vào bộ câu hỏi ACT (Asthma control test), đo nồng độ NO

tại đường thở (FeNO: NO phế quản và nNO: NO tại mũi). Kết quả nghiên cứu sau 3 tháng điều trị dự phòng cho

thấy điểm ACT trước điều trị là 18,5 ± 3,2, thấp hơn sau điều trị là 23,4 ± 2,1 (p < 0,05).="" nồng="" độ="" nno="">

điều trị là 1605 (104 – 3674) ppb và sau điều trị là 1035 (162 - 3404) ppb. Nồng độ FeNO trước điều trị là 26

(2,4 - 119,8) ppb cao hơn so với sau điều trị là 18,1 (5,12 – 70,55) ppb, (p < 0,05).="" cần="" phối="" hợp="" các="">

pháp bao gồm bộ câu hỏi và các yếu tố viêm tại đường thở để đánh giá khách quan tình trạng kiểm soát hen.

pdf 7 trang phuongnguyen 180
Bạn đang xem tài liệu "Vai trò của nitric oxide đường thở trong kiểm soát hen phế quản có viêm mũi dị ứng ở trẻ em", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Vai trò của nitric oxide đường thở trong kiểm soát hen phế quản có viêm mũi dị ứng ở trẻ em

Vai trò của nitric oxide đường thở trong kiểm soát hen phế quản có viêm mũi dị ứng ở trẻ em
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
141TCNCYH 131 (7) - 2020
Tác giả liên hệ: Nguyễn Thị Diệu Thúy, 
Trường Đại học Y Hà Nội
Email:[email protected]
Ngày nhận: 10/03/2020
Ngày được chấp nhận: 14/07/2020
VAI TRÒ CỦA NITRIC OXIDE ĐƯỜNG THỞ TRONG KIỂM SOÁT 
HEN PHẾ QUẢN CÓ VIÊM MŨI DỊ ỨNG Ở TRẺ EM
Nguyễn Trần Ngọc Hiếu1, Lương Cao Đồng¹ và Nguyễn Thị Diệu Thúy², 
¹Bệnh viện Quân Y 103, Học viện Quân y
²Trường Đại học Y Hà Nội
Kiểm soát hen là mục tiêu chính trong điều trị dự phòng hen phế quản. Nồng độ nitric oxide (NO) tại đường 
thở là chỉ số khách quan giúp đánh giá cả tình trạng viêm và tình trạng kiểm soát hen. Mục tiêu của nghiên 
cứu là đánh giá vai trò NO đường thở trong kiểm soát hen phế quản có viêm mũi dị ứng (viêm mũi dị ứng) ở 
trẻ em. Nghiên cứu được thực hiện trên 82 trẻ hen phế quản có viêm mũi dị ứng từ 6 - 15 tuổi. Các trẻ được 
thăm khám, đánh giá tình trạng kiểm soát hen dựa vào bộ câu hỏi ACT (Asthma control test), đo nồng độ NO 
tại đường thở (FeNO: NO phế quản và nNO: NO tại mũi). Kết quả nghiên cứu sau 3 tháng điều trị dự phòng cho 
thấy điểm ACT trước điều trị là 18,5 ± 3,2, thấp hơn sau điều trị là 23,4 ± 2,1 (p < 0,05). Nồng độ nNO trước 
điều trị là 1605 (104 – 3674) ppb và sau điều trị là 1035 (162 - 3404) ppb. Nồng độ FeNO trước điều trị là 26 
(2,4 - 119,8) ppb cao hơn so với sau điều trị là 18,1 (5,12 – 70,55) ppb, (p < 0,05). Cần phối hợp các phương 
pháp bao gồm bộ câu hỏi và các yếu tố viêm tại đường thở để đánh giá khách quan tình trạng kiểm soát hen. 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hen phế quản và viêm mũi dị ứng là bệnh 
lý viêm đường thở thường gặp nhất ở trẻ em. 
Theo Hiệp hội Viêm mũi Dị ứng và ảnh hưởng 
lên Hen phế quản - ARIA (Allergic Rhinitis and 
its Impact on Asthma) tỷ lệ hen phế quản có 
viêm mũi dị ứng chiếm đến 80%. Ở những bệnh 
nhân hen phế quản kèm viêm mũi dị ứng, các 
nghiên cứu đã khẳng định vai trò quan trọng 
của kiểm soát viêm mũi dị ứng ảnh hưởng đến 
kết quả kiểm soát hen.1
Khí nitric oxide ( NO) đường thở được tổng 
hợp bởi các loại tế bào khác nhau như đại thực 
bào, bạch cầu đa nhân trung tính, các nguyên 
bào sợi, tế bào nội mô mạch máu, cơ trơn phế 
quản và mạch máu, tế bào biểu mô đường hô 
hấp. 2 Niêm mạc mũi đóng vai trò quan trọng 
trong bảo vệ phổi chống lại các tác nhân có hại 
xâm nhập xuống đường hô hấp dưới. Tại hệ 
hô hấp, NO được sản xuất đều đặn, thường 
xuyên, có tác dụng điều hòa tuần hoàn khí phế 
quản, giảm tiết dịch đường thở và kích thích 
hoạt động của lông mao phế quản, làm giảm 
các trung gian gây độc từ các gốc oxy hóa như 
H2O2, alkylhydroperoxide, superoxide.3 Nồng 
độ NO ở đường hô hấp trên luôn cao hơn so 
với đường hô hấp dưới, và nồng độ cao nhất 
của NO thường thấy ở các xoang cạnh mũi. 1
 Đo nồng độ khí nitric oxide tại mũi (nasal 
Nitric oxide - nNO) và nitric oxide khí thở ra 
(Fractional exhaed Nitric oxide - FeNO) là một 
phương pháp thăm dò không xâm nhập hiện 
nay để đánh giá tình trạng viêm đường thở 
ở cả đường hô hấp trên và dưới.. Nhiều báo 
cáo cho thấy nồng độ nNO tăng lên trong viêm 
mũi dị ứng, có hoặc không có hen phế quản. 
Mặt khác, các nghiên cứu chỉ ra có mối tương 
quan nghịch giữa nồng độ nNO với độ nặng và 
Từ khóa: Hen phế quản, viêm mũi dị ứng, trẻ em, nNO, FeNO
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
142 TCNCYH 131 (7) - 2020
kiểm soát hen phế quản ở người lớn, và bị ảnh 
hưởng bởi tình trạng viêm mũi xoang mạn tính.4 
Theo Takeno và cộng sự, các bệnh nhân viêm 
mũi dị ứng có hoặc không kết hợp hen phế quản 
có nồng độ FeNO và nNO cao hơn có ý nghĩa 
so với các bệnh nhân viêm mũi vận mạch và 
người bình thường khỏe mạnh. Có mối tương 
quan thuận giữa nồng độ nNO với điểm triệu 
chứng lâm sàng của viêm mũi dị ứng. 5
Gần đây, đo nồng độ FeNO được xem là 
một phương pháp thăm dò chức năng hô hấp 
không thâm nhập và là một chỉ số quan trọng 
để đánh giá tình trạng kiểm soát hen. 6 Nồng 
độ FeNO đã được Hội Lồng ngực Mỹ (ATS) 
khuyến cáo với vai trò hỗ trợ cho chẩn đoán, 
theo dõi và tiên lượng bệnh nhân hen dị ứng. 
Tuy nhiên vai trò của nNO trong tiên lượng tình 
trạng dị ứng vẫn còn nhiều tranh cãi.7 Kiểm 
soát hen có vai trò quan trọng trong thực hành 
lâm sàng Nghiên cứu này được thực hiện với 
mục tiêu: Đánh giá vai trò của nồng độ nitric 
oxide đường thở trong kiểm soát hen ở trẻ em 
hen phế quản có viêm mũi dị ứng.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
1. Đối tượng
Các trẻ em từ 5 - 16 tuổi được chẩn đoán 
hen phế quản có viêm mũi dị ứng
Hen phế quản được chẩn đoán theo tiêu 
chuẩn GINA 2016 8 và viêm mũi dị ứng được 
chẩn đoán theo ARIA 2008.1
Trẻ ngoài cơn hen cấp
Trẻ tuân thủ điều trị theo phác đồ dự phòng 
hen được bác sỹ chuyên khoa chỉ định.
Nghiên cứu được thực hiện tại khoa Miễn 
dịch - Dị ứng - Khớp Bệnh viện Nhi Trung ương 
từ 10/2016 đến 7/2018.
2. Phương pháp
Phương pháp: Nghiên cứu theo dõi dọc một 
loạt ca bệnh trên 82 trẻ hen phế quản có viêm 
mũi dị ứng. 
Chọn mẫu thuận tiện.
Phương pháp: Mỗi trẻ được mời tham gia 
nghiên cứu ở 3 thời điểm khác nhau: lần 1 
(thăm khám ban đầu - T0) , lần 2 và lần 3 (sau 
1 tháng - T1 và 3 tháng - T3 điều trị dự phòng). 
Mỗi lần khám trẻ đều được đo chức năng hô 
hấp bằng máy đo chức năng hô hấp của HypAir 
và đo nồng độ FeNO, nNO bằng máy ExpAir 
của hãng Medisoft. Đánh giá kiểm soát hen phế 
quản và viêm mũi dị ứng theo nồng độ nitric oxit 
đường thở, bộ câu hỏi kiểm soát hen ở trẻ em 
(Asthma control score - ACT). 
Kỹ thuật đo nồng độ NO trong khí thở ra: 
Nguyên lý hoạt động của máy là sử dụng công 
nghệ điện hóa. Lưu lượng thở ra theo khuyến 
cáo của Hội Lồng ngực Mỹ ở mức 50 ml/giây khi 
đo FeNO và mức 350ml/giây khi đo nNO theo 
khuyến cáo của nhà sản xuất. Các lần đo được 
lặp lại sau một khoảng nghỉ ngắn cho đến khi 
2 giá trị được chấp nhận dựa vào tiêu chuẩn là 
sự khác biệt không quá ± 2,5 ppb. Trung bình 
có 3 lần đo được thực hiện cho mỗi đối tượng 
tham gia nghiên cứu. Giá trị trung bình của hai 
lần đo đúng cách được ghi nhận để phân tích 
theo hướng dẫn của ATS.7Bảng trắc nghiệm 
ACT gồm 5 câu hỏi cho trẻ > 11 tuổi và bảng 
gồm 7 câu hỏi cho trẻ từ 4 - 11 tuổi. Đánh giá: 
ACT ≤ 19 điểm: hen chưa kiểm soát, ACT từ 
20 - 24 điểm: hen có kiểm soát, ACT =25 điểm: 
Hen kiểm soát hoàn toàn.9
Các trẻ được điều trị dự phòng hen theo 
khuyến cáo GINA 20168 và viêm mũi dị ứng 
theo ARIA 2008.1
2. Xử lý số liệu
Số liệu được phân tích bằng phần mềm 
thống kê SPSS 20.0 với p < 0,05 là khác biệt có 
ý nghĩa thống kê.
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
143TCNCYH 131 (7) - 2020
 3. Đạo đức nghiên cứu
Đề tài đã được thông qua Hội đồng đạo đức Trường Đại học Y Hà Nội số 101/HĐĐĐĐHYHN 
ngày 30/5/2017.
III. KẾT QUẢ
Bảng 1. Đặc điểm của đối tượng tham gia nghiên cứu
Đặc điểm chung Số lượng Tỷ lệ%
Tuổi
6 - 11 tuổi 72 87,8
12 - 15 tuổi 10 12,2
Trung bình: 9,5 ± 1,7 (6 - 14)
Giới
Nam 47 57,3
Nữ 35 42,7
Độ nặng của hen
Nhẹ 29 35,4
Trung bình 47 57,3
Nặng 6 7,3
Mức độ viêm mũi dị 
ứng theo ARIA 2008
DD - TB,N 49 59,8
DD - Nhẹ 3 3,7
GĐ - TB,N 6 7,2
GĐ - Nhẹ 24 29,3
Độ tuổi bệnh nhân tham gia nghiên cứu chủ yếu từ 5 - 12 tuổi (87,8%). Tỷ lệ nam/ nữ ở trẻ em 
hen phế quản có viêm mũi dị ứng là 1,34/1. Hen phế quản chủ yếu mức độ nhẹ (35,4%) và trung 
bình (57,3%). Tuy nhiên viêm mũi dị ứng chủ yếu ở phân loại dai dẳng – trung bình, nặng. (Bảng 1)
Nồng độ nNO và FeNO ở bệnh nhân hen phế quản có viêm mũi dị ứng trước và sau điều trị
Biểu đồ 1. Nồng độ nNO trước và sau điều trị dự phòng
Nồng độ nNO giảm dần theo thời gian điều trị, tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê. 
(Biểu đồ 1)
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
144 TCNCYH 131 (7) - 2020
Biểu đồ 2. Nồng độ FeNO trước và sau điều trị dự phòng
Nồng độ FeNO giảm sau sau 3 tháng điều trị dự phòng (26ppb so với 18,1ppb), sự khác biệt có 
ý nghĩa thống kê (p < 0,05). (Biểu đồ 2)
Đánh giá kiểm soát hen ở bệnh nhân hen phế quản có viêm mũi dị ứng dựa vào FeNO, ACT
Biểu đồ 3. Điểm kiểm soát hen theo ACT trước và sau điều trị
Điểm ACT tăng lên theo thời gian điều trị dự phòng (18,5 ± 3,2 điểm so với 23,4 ± 2,1 điểm, p < 
0,05). (Biểu đồ 3)
Biểu đồ 4. Mức độ kiểm soát hen theo ACT và FeNO trước và sau điều trị
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
145TCNCYH 131 (7) - 2020
Đánh giá kiểm soát hen theo ACT cho thấy 
tình trạng kiểm soát hen tăng dần theo thời gian 
điều trị( 63,7% tại thời điểm ban đầu tăng lên 
72,9% sau 1 tháng điều trị và 86% sau 3 tháng 
điều trị). Tuy nhiên đánh giá kiểm soát hen theo 
FeNO không thấy có sự khác biệt theo thời gian 
điều trị dự phòng. (Biểu đồ 4)
IV. BÀN LUẬN
Qua nghiên cứu 82 trẻ hen phế quản có 
viêm mũi dị ứng nhận thấy tuổi trung bình của 
trẻ tham gia nghiên cứu là 9,5 ± 1,7 tuổi, với tỷ 
lệ nam/nữ là 1,34/1. Kết quả về tỷ lệ mắc hen 
phế quản theo giới là tương tự với các nghiên 
cứu trước đây. 10
Trong nghiên cứu của chúng tôi, trẻ chủ 
yếu là hen mức độ nhẹ và trung bình, chỉ có 
7,3% hen nặng. Điều này cũng phù hợp với các 
nghiên cứu trên thế giới, hen trẻ em chủ yếu là 
hen nhẹ. 
Ngược lại, viêm mũi dị ứng trong nghiên 
cứu này chủ yếu là dai dẳng, mức độ trung 
bình – nặng, chiếm 59,8%. Theo nghiên cứu 
của Togias và cộng sự ở trẻ hen phế quản, 
tỷ lệ viêm mũi dị ứng dai dẳng chiếm ưu thế 
(45,7%), bên cạnh đó nhóm viêm mũi dị ứng 
theo mùa chiếm 21,6%. 11
Đo nồng độ khí NO tại đường thở, bao gồm 
nNO và FeNO là một phương pháp không xâm 
lấn và dễ thực hiện để đánh giá mức độ viêm 
tại đường thở. Trong nghiên cứu của chúng tôi, 
nồng độ nNO trước điều trị dự phòng là 1605 
(212 - 3343) ppb, cao hơn so với chỉ số tham 
chiếu ở người bình thường là 834ppb theo 
nghiên cứu của Dương Quý Sỹ. 12 Tương tự, 
nồng độ FeNO là 26 (2,4 – 119,8) ppb), cao hơn 
so với chỉ số tham chiếu là 20 theo hướng dẫn 
của ATS. 7 Như vậy nồng độ NO đường thở trên 
và dưới đều cao ở các bệnh nhân hen phế quản 
có viêm mũi dị ứng so với người khỏe mạnh.
Sau điều trị dự phòng 3 tháng, nồng độ nNO 
giảm còn 1035 (162 - 3404) ppb), tuy nhiên sự 
khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Điều này 
có thể do cỡ mẫu chưa đủ lớn, hoặc do việc 
kiểm soát viêm mũi dị ứng chưa thực sự tốt. 
Theo nghiên cứu của Yamada, nồng độ nNO 
giảm sau điều trị bằng corticosteroid tại chỗ. 13
Tương tự, nồng độ FeNO giảm còn 
18,1(5,12 – 70,55) ppb sau 3 tháng điều trị dự 
phòng, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 
0,05). Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu 
trước đây. 14 Nồng độ FeNO giảm thể hiện quá 
trình viêm đường thở giảm và thuốc điều trị hen 
đạt hiệu quả. Giảm nồng độ FeNO sau điều trị 
dự phòng bằng Corticosteroids biểu hiện kiểu 
hình hen tăng bạch cầu ái toan.
Kiểm soát hen là tiêu chí đánh giá điều trị 
dự phòng hen có hiệu quả. Trên thực hành lâm 
sàng, thang điểm ACT thường được sử dụng 
để đánh giá tình trạng kiểm soát hen. Thang 
điểm này là một bộ câu hỏi nhằm đánh giá các 
triệu chứng hen có thể ảnh hưởng đến hoạt 
động hàng ngày của trẻ. Tổng số điểm trên 20 
chứng tỏ hen có kiểm soát. 9 Trong nghiên cứu 
của chúng tôi, sau 3 tháng điều trị, điểm ACT 
tăng từ 18,5 ± 3,2 lên 23,4 ± 2,1; (p < 0,05). 
Điều này chứng tỏ tăng khả năng kiểm soát hen 
theo thời gian điều trị dự phòng. Theo khuyến 
cáo của ATS, nồng độ FeNO dưới 20ppb biểu 
hiện hen không tăng bạch cầu ái toan hoặc hen 
tăng bạch cầu ái toan có kiểm soát.7 Tuy nhiên, 
khi đánh giá tình trạng kiểm soát hen theo nồng 
độ FeNO tại đường thở, nghiên cứu chỉ ra tình 
trạng kiểm soát hen trước khi điều trị dự phòng 
là 60,2%, sau 1 tháng dự phòng là 55,9% và 
sau 3 tháng điều trị dự phòng là 69,8%, sự khác 
biệt không có y nghĩa thống kê. Kết quả nghiên 
cứu chỉ ra không có sự thống nhất giữa hai tiêu 
chí xác định tình trạng kiểm soát hen. Đánh 
giá kiểm soát hen theo thang điểm ACT là một 
đánh giá chủ quan, hoàn toàn phụ thuộc vào 
cảm nhận của bệnh nhân và người nhà. Mặt 
khác, nồng độ FeNO tại đường thở là một chỉ 
số khách quan không những giúp đánh giá tình 
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
146 TCNCYH 131 (7) - 2020
trạng kiểm soát hen mà còn đánh giá tình trạng 
viêm tại đường thở. Nồng độ FeNO còn cao 
sau 3 tháng điều trị dự phòng hen cho thấy hen 
phế quản là bệnh viêm mạn tính, mặc dù triệu 
chứng lâm sàng đã cải thiện theo thang điểm 
ACT nhưng bệnh nhân vẫn cần tiếp tục điều 
trị dự phòng vì tình trạng viêm vẫn tồn tại. Cần 
phối hợp nhiều phương pháp khác nhau trong 
theo dõi cả kiểm soát hen và tình trạng viêm tại 
đường thở.
V. KẾT LUẬN
Nồng độ NO tại đường thở phản ánh tình 
trạng viêm đường thở và tăng cao ở nhóm hen 
có viêm mũi dị ứng. Đánh giá kiểm soát hen 
cần phối hợp cả triệu chứng lâm sàng và các 
chỉ số viêm tại đường thở. 
Lời cám ơn
Nhóm nghiên cứu xin được bày tỏ lời cảm 
ơn chân thành tới tập thể bác sĩ, điều dưỡng 
Khoa Dị ứng - Miễn dịch - Khớp, Bệnh viện Nhi 
Trung ương đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp 
đỡ trong quá trình tiến hành đề tài. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. ARIA - WHO. Allergic rhinitis and its impact 
on asthma update 2008 (in collaboration with 
the WHO, GA²LEN andAllerGEN). Allergy. 
2008; 63(suppl 86): 8 - 160.
2. Hamid Q, Springall DR, Riveros - Moreno 
V et al. Induction of nitric oxide synthase in 
asthma. The Lancet .1993; 342 (8886 - 8887) 
1510 - 1513.
3. Lundberg JON, Farkas - Szallasi T, Weizberg 
E et al. High nitric oxide production in human 
paranasal sinuses. Nature medicine. 1995;1(4) 
: 370 - 373.
4. Heffler E, Pizzimenti S, Badiu I et al. Nasal 
nitric oxide is a marker of poor asthma control.
Journal of breath research. 2013; 7(2): 026009.
5. Takeno S, Noda N, and Hirakawa K. 
Measurements of nasal fractional exhaled nitric 
oxide with a hand - held device in patients 
with allergic rhinitis: relation to cedar pollen 
dispersion and laser surgery. Allergology 
International. 2012; 61(1): 93 - 100.
6. Global Initiative for Asthma. Global Strategy 
for Asthma Management and Prevention, 
Updated. 2018; Available from: www.ginasthma.
org
7. American Thoracic Society. European 
Respiratory Society. ATS/ERS 
recommendations for standardized procedures 
for the online and offline measurement of 
exhaled lower respiratory nitric oxide and nasal 
nitric oxide, 2005. Am J Respir Crit Care Med . 
2005; 171: 912 - 930.
8. Global Initiative for Asthma (GINA). Pocket 
guide for asthma management and prevention 
(for children 5 years and younger) updated 
2016; Available from: www.ginasthma.org
9. Schatz M, Sorkness CA, Li JT et al. 
Asthma Control Test: reliability, validity, and 
responsiveness in patients not previously 
followed by asthma specialists. JACI. 2016; 
117(3): 549 - 556.
10. Lê Thị Minh Hương, Lê Thanh Hải. Một sốt 
đặc điểm dịch tễ học lâm sang hen phế quản trẻ 
em tại bệnh viện nhi Trung ương, năm 2011. Y 
Học Thực Hành. 2013; 870(5) :119 - 121.
11. Togias A, Gergen PJ, Hu JW et al. Rhinitis 
in children and adolescents with asthma: 
Ubiquitous, difficult to control, and associated 
with asthma outcomes. JACI . 2019; 143(3): 
1003 - 1011.
12. Sy Duong Quy, Thuc Vu Minh. Thong Hua 
Huy et al. Study of nasal exhaled nitric oxide 
levels in diagnosis of allergic rhinitis in subjects 
with and without asthma.Journal of asthma and 
allergy. 2017; 10: 75.
13. Yamada T, Yamamoto H, Kubo S et al. 
Efficacy of mometasone furoate nasal spray 
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
147TCNCYH 131 (7) - 2020
for nasal symptoms, quality of life, rhinitis 
- disturbed sleep, and nasal nitric oxide in 
patients with perennial allergic rhinitis. Allergy 
& Asthma Proceedings. 2012; 33 (2): 9–16.
14. Smith AD, Cowan JO, Brassett KP et al. 
Use of exhaled nitric oxide measurements 
to guide treatment in chronic asthma. New 
England Journal of Medicine 2005; 352 (21): 
2163 - 2173.
Summary
ROLE OF AIRWAY NITRIC OXIDE FOR ASTHMA CONTROL IN 
CHILDREN WITH ASTHMA COMBINED ALLERGIC RHINITIS
Asthma control is the primary goal of prophylactic treatment in asthma. Airway Nitric oxide (NO) 
concentration is an objective indicator to assess both airway inflammation and asthma control. The 
objective of this study was to assess the role of airway NO for controlling asthma in childhood asthma 
with allergic rhinitis. We examined 82 asthmatic children with allergic rhinitis from 6 to 15 years old. 
The children were examined and assessed for asthma controls based on the ACT (Asthma control 
test), measuring airway NO levels (FeNO: bronchial NO and nNO: nasal NO). After 3 months of 
prophylactic treatment, ACT score were 18.5 ± 3.2 compared to 23.4 ± 2.1 at the initial visit (< 0.05). 
nNO concentration at pre-treatment visit was 1605 (104 - 3674) ppb compared to 1035 ppb (162 
- 3404) ppb after 3 months of treatment. FeNO concentration before treatment was 26 ppb (2,4-
119,8) higher than 18.1 ppb (5.12 - 70.55) after treatment, (p < 0.05). Conclusion: A combination of 
questionnaires and airway inflammatory markers should be coordinated to assess asthma control.
Keywords: childhood asthma, allergic rhinitis, children, nasal nitric oxide, fractional 
exhaled nitric oxide

File đính kèm:

  • pdfvai_tro_cua_nitric_oxide_duong_tho_trong_kiem_soat_hen_phe_q.pdf