Vai trò của máy bladder scanner trong chẩn đoán bí tiểu sau sinh

Đặt vấn đề: Chủ động dùng máy scan bàng quang đo dung tích nước

tiểu tồn lưu (DTTNTL) ở thời điểm sau sinh 6 giờ được cho rằng có thể

giảm thiểu tỉ lệ bí tiểu sau sinh (BTSS).

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ BTSS bằng máy scan bàng quang ở thời điểm

sau sinh 6 giờ cho tất cả sản phụ có giảm đau sản khoa (GĐSK) ở ngưỡng

chẩn đoán 150 ml và 400ml và theo dõi các biến chứng của BTSS.

Phương pháp: Nghiên cứu đoàn hệ tiền cứu khảo sát tại Bệnh viện

Hùng Vương thu nhận 553 sản phụ có GĐSK sinh ngã âm đạo, dùng

máy scan bàng quang BV3000 đo DTNTTL với ngưỡng từ 150ml và

400ml để chẩn đoán.

Kết quả: 362 sản phụ được chẩn đoán BTSS với ngưỡng 150ml

(66.4%; KTC95%: 62.4-70.4), 159 sản phụ có BTSS với ngưỡng 400ml

(29.2%, KTC 95%: 25.3-33.0). Những sản phụ BTSS ở ngưỡng 400ml

có nguy cơ phải thông tiểu lưu điều trị cao hơn 7 lần so với nhóm không

bị BTSS ở ngưỡng này (RR=7.04, KTC 95%: 3.51-14.1). Chẩn đoán

BTSS với ngưỡng 150ml giúp theo dõi, tránh bỏ sót những trường hợp

tiến triển thành BTSS tại thời điểm 48 giờ sau sinh.

Kết luận: Dùng máy scan bàng quang chủ động xác định BTSS có

thể phòng ngừa các biến chứng kéo dài của BTSS

pdf 5 trang phuongnguyen 160
Bạn đang xem tài liệu "Vai trò của máy bladder scanner trong chẩn đoán bí tiểu sau sinh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Vai trò của máy bladder scanner trong chẩn đoán bí tiểu sau sinh

Vai trò của máy bladder scanner trong chẩn đoán bí tiểu sau sinh
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(03), 63 - 67, 2016
63
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
Phan Thị Hằng(1), Huỳnh Nguyễn Khánh Trang(2) 
(1) Bệnh viện Hùng Vương, (2) Đại học Y dược TP.HCM
VAI TRÒ CỦA MÁY BLADDER SCANNER
TRONG CHẨN ĐOÁN BÍ TIỂU SAU SINH
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Chủ động dùng máy scan bàng quang đo dung tích nước 
tiểu tồn lưu (DTTNTL) ở thời điểm sau sinh 6 giờ được cho rằng có thể 
giảm thiểu tỉ lệ bí tiểu sau sinh (BTSS).
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ BTSS bằng máy scan bàng quang ở thời điểm 
sau sinh 6 giờ cho tất cả sản phụ có giảm đau sản khoa (GĐSK) ở ngưỡng 
chẩn đoán 150 ml và 400ml và theo dõi các biến chứng của BTSS. 
Phương pháp: Nghiên cứu đoàn hệ tiền cứu khảo sát tại Bệnh viện 
Hùng Vương thu nhận 553 sản phụ có GĐSK sinh ngã âm đạo, dùng 
máy scan bàng quang BV3000 đo DTNTTL với ngưỡng từ 150ml và 
400ml để chẩn đoán.
Kết quả: 362 sản phụ được chẩn đoán BTSS với ngưỡng 150ml 
(66.4%; KTC95%: 62.4-70.4), 159 sản phụ có BTSS với ngưỡng 400ml 
(29.2%, KTC 95%: 25.3-33.0). Những sản phụ BTSS ở ngưỡng 400ml 
có nguy cơ phải thông tiểu lưu điều trị cao hơn 7 lần so với nhóm không 
bị BTSS ở ngưỡng này (RR=7.04, KTC 95%: 3.51-14.1). Chẩn đoán 
BTSS với ngưỡng 150ml giúp theo dõi, tránh bỏ sót những trường hợp 
tiến triển thành BTSS tại thời điểm 48 giờ sau sinh. 
Kết luận: Dùng máy scan bàng quang chủ động xác định BTSS có 
thể phòng ngừa các biến chứng kéo dài của BTSS.
Abstract 
ROLE OF BLADDER SCANNER IN EARLY 
DIAGNOSIS OF POSTPARTUM URINARY 
RETENTION AFTER VAGINAL DELIVERY WITH 
EPIDURAL ANESTHESIA
Introduction: Active usage of Bladder scanner BV3000 postpartum 
6 hours may decrease prolonged postpartum urinary retention (PUR). 
Objectives: Determine the incidence of PUR at postpartum 6 hours 
with post-void residual bladder volume (PVRBV) at the cut off 150ml 
and 400ml and follow up the complications of PUR. Methodology: 
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Phan Thị Hằng,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/06/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
24/06/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 30/06/2016
Keywords: Bladder scanner, 
postpartum urinary retention, 
post void residual bladder 
volume, prolonged postpartum 
urinary retention.
PHAN THỊ HẰNG, HUỲNH NGUYỄN KHÁNH TRANG 
64
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
A prospective cohort study at Hung Vuong hospital included 553 pregnant women had epidural 
anesthesia during labour and vaginal delivery, with bladder scanner BV3000 measured PVRBV at 
postpartum 6 hours.
Results: 362 women had PUR at cut off 150ml (66.4%; 95% CI: 62.4-70.4), 159 women had 
PUR at cut off 400ml (29.2%, 95% CI: 25.3-33.0). PUR women at 400ml cut off inscreased risks of 
indwelling urinary catheter for treating PUR 7 times (RR=7.04, KTC 95%: 3.51-14.1). PUR women at 
cut off 150ml may develop prolonged PUR (after delivery 48 hours). 
Conclusion: Usage bladder scanner BV3000 screening PUR and help to prevent complications.
Key words: bladder scanner, postpartum urinary retention, post void residual bladder volume, 
prolonged postpartum urinary retention.
1. Đặt vấn đề 
BTSS là tình trạng không thể đi tiểu được trên 
lâm sàng trong vòng 6 giờ sau sinh hoặc sau khi 
tự tiểu, lượng nước tiểu còn lại trong bàng quang 
từ 150ml trở lên. Tại Bệnh viện Hùng Vương, Từ 
Dũ, các nghiên cứu khảo sát BTSS bằng các triệu 
chứng lâm sàng với tỉ lệ được phát hiện từ 12.3 - 
13,5% (3, 4).
Nhằm xác định chẩn đoán BTSS với chẩn đoán 
có dung tích nước tiểu tồn lưu (DTNTTL) sau tự tiểu 
từ 150 ml, người ta thường phải thông tiểu giải 
áp hoặc sử dụng máy bladder scanner. Bladder 
scanner là công cụ đo phản âm trên nhiều mặt cắt 
cơ thể, tái dựng lại thành hình ảnh 3 chiều, dựa 
vào đó tính toán ra thể tích bàng quang mà không 
cần thấy trực tiếp hình ảnh bàng quang như máy 
siêu âm truyền thống. Máy dùng tần số 2 MhZ 
và độ sâu khảo sát có thể lên đến 20 cm. Nghiên 
cứu của Al-Shaikh và cộng sự (2009) dùng máy 
Bladder scanner BVI 3000 đánh giá DTNTTL sau 
sinh cho thấy đây là phương pháp có độ tin cậy 
cao. Nghiên cứu so sánh giữa dùng máy và thông 
tiểu ghi nhận BVI 3000 có hệ số tương quan so 
với thông tiểu (r = 0.79, KTC 95% [0.70–0.85], p 
< 0.001) và khác biệt trung bình giữa 2 phương 
pháp là 12,9 ml (KTC 95% [5,5 – 20,2 ml], p < 
0,001). Al – Shaikh kết luận là bladder scanner 
BVI 3000 có thể thay thế thông tiểu khi đo thể tích 
nước tiểu tồn lưu sau sinh (5). Một số nghiên cứu 
cho thấy lượng nước tiểu trung bình của lần đi tiểu 
đầu tiên sau sinh của sản phụ là 400ml và dùng 
ngưỡng 400ml như ngưỡng chẩn đoán bất thường 
của bí tiểu sau sinh (6, 7). Dùng bladder scanner 
chẩn đoán với ngưỡng 400 ml giúp xác định BTSS 
nhiều hơn chẩn đoán lâm sàng (8).
Giảm đau sản khoa (GĐSK) giúp cải thiện 
cơn đau của sản phụ trong chuyển dạ đang 
được sử dụng rộng rãi và được nhiều sản phụ 
chấp nhận tại Việt Nam. BTSS cao gấp 17 
lần ở những phụ nữ có thực hiện GĐSK bằng 
gây tê ngoài màng cứng (khoảng tin cậy 95% 
(KTC95%): 4,8 - 60,4) (9).
Việc chẩn đoán sớm BTSS bằng các phương 
tiện như scan bàng quang giúp hạn chế đặt thông 
tiểu và khả năng dẫn đến BTSS kéo dài trên 48 giờ 
đã được triển khai nhiều nơi trên thế giới (8, 10). 
Tại Bệnh viện Hùng Vương, cơ sở chăm sóc 
sản phụ khoa ở thành phố Hồ Chí Minh, việc 
khảo sát DTNTTL bằng máy Bladder scanner đã 
được áp dụng từ năm 2014, nhưng việc đánh 
giá hiệu quả của phát hiện BTSS ở những sản 
phụ sinh ngã âm đạo có GĐSK vẫn chưa được 
khảo sát. Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu 
với mục tiêu:
1. So sánh tỉ lệ BTSS với ngưỡng DTNTTL từ 
150 ml với ngưỡng từ 400ml trở lên.
2. Xác định tính ứng dụng của máy bladder 
scan trong chẩn đoán BTSS.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu: 553 thai 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(03), 63 - 67, 2016
65
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
phụ có thai là ngôi đầu, đơn thai vào sinh tại 
khoa Sanh bệnh viện Hùng Vương được thực hiện 
GĐSK từ ngày 18/04/2015 đến 21/11/2015.
2.2 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu 
đoàn hệ tiền cứu. 
Tất cả thai phụ thu nhận vào nghiên cứu sau 
khi được làm GĐSK sẽ được theo dõi và đánh 
giá cầu bàng quang và hướng dẫn tự tiểu trong 
chuyển dạ. Sản phụ được nhắc nhở tự tiểu sau 
sinh 4 giờ. Sau sinh 6 giờ, sẽ hướng dẫn sản 
phụ tự tiểu và sau đó sẽ xác nhận có cầu bàng 
quang hay không và đo kích thước của cầu bàng 
quang (nếu có). Kế đó, dùng máy scan bàng 
quang để thực hiện đo dung tích nước tiểu tồn 
lưu, ghi vào hồ sơ. 
Những sản phụ có dung tích bàng quang 
nhiều hơn 400ml sẽ được hướng dẫn tập tiểu 
và thông tiểu giải áp nếu sản phụ không tự tiểu 
được. Trường hợp sờ có cầu bàng quang, thai 
Đặc điểm 
Bí tiểu scan 150 ml
Có Không
Số sản phụ 362 183
Số con đã có
Con so 260 (71.8) 92 (50.2)
Con rạ 102 (28.2) 91 (49.7)
Bệnh nội khoa
Không có 319 (89) 164 (90)
Cao huyết áp, tim, khác 38 (10) 17 (9)
Tiểu đường 3 (1) 1 (1)
Giục sinh 125 (34.5) 68 (37.1)
Thời gian từ CTC trọn đến sổ thai (phút) 38.3±40.9 25.8±30.8
Thời gian từ gđsk đến sinh (giờ) 3.99±2.50 3.39±2.36
Số lần thông tiểu trong chuyển dạ
0 9 (2.6) 3 (1.8)
1 253 (74.2) 128 (75.7)
2 68 (19.9) 30 (17.7)
3 11 (3.2) 8 (4.7)
Phương pháp sinh ngã âm đạo
Sinh thường 274 (76) 168 (92)
Sinh hút 68 (19) 12 (6)
Sinh kềm 20 (5) 3 (2)
Tổng dịch truyền (ml) 1230±370 1144±272
Máu mất lúc sinh (ml) 291±147 257±90
Mức độ tổn thương TSM 
Độ 1 8 (2.2) 9 (4.9)
Độ 2 340 (93.9) 166 (90.7)
Độ 3 4 (1.1)
Thời điểm từ sinh đến scan 5.53±1.15 5.47±1.08
Sờ thấy cầu bàng quang
Có 140 (38.7) 0 (0)
Không rõ 62 (17.1) 2 (1.09)
Kích thước trung bình cầu bàng quang sờ thấy được (cm) 8.31±3.11 0 (0)
Bảng 1: Đặc điểm dân số nghiên cứu 
BT150 BT400 Bt thông 150 Bt thông 400
Số trường hợp 362 159 96 90
Tỉ lệ % 66.4 29.2 17.1 15.9
KTC 95% 62.4-70.4 25.3-33.0 13.9-20.2 12.9-19.0
Ghi chú: 
BT150: Chẩn đoán bí tiểu được xác định bằng scan bàng quang xác định dung tích nước tiểu tồn lưu từ 
150ml trở lên
BT400: Chẩn đoán bí tiểu được xác định bằng scan bàng quang xác định dung tích nước tiểu tồn lưu từ 
400ml trở lên
Bt thông 150: Chẩn đoán bí tiểu qua thông tiểu trực tiếp sau khi cho sản phụ tự tiểu, có thể tích nước tiểu 
từ 150 ml trở lên
Bt thông 400: Chẩn đoán bí tiểu qua thông tiểu trực tiếp sau khi cho sản phụ tự tiểu, có thể tích nước tiểu 
từ 400 ml trở lên 
Bảng 2. Tỉ lệ bí tiểu theo các phân loại
Tổng sản phụ quan sát Bí tiểu scan 400 Bí tiểu scan 150
553 159 362
Tổng số lần thông tiểu sau sanh
0 447 (80.8) 64 (40.2) 262 (72.4)
1 101 (18.3) 90 (56.7) 95 (26.2)
2 4 (0.7) 4 (2.5) 4 (1.1)
3 1 (0.2) 1 (0.6) 1 (0.3)
Số lần lưu thông tiểu điều trị
0 514 (92.9) 130 (81.8) 323 (89.2)
1 37 (6.7) 27 (17.0) 37 (10.2)
2 2 (0.4) 2 (1.3) 2 (0.6)
Tỉ lệ bt sau sinh 48 giờ 125 (22.98) 52 (33.3) 93 (26.2)
Thời gian nằm viện sau sinh (ngày) 3.80±0.8 3.91±0.92 3.86±0.85
Số cas lưu thông tiểu điều trị BTSS (%) 39 (100%) 29 (74.4%) 39 (100%)
Sờ thấy cầu bàng quang
Có 141 (25.7) 127 (79.9) 140 (38.7)
Không rõ 64 (11.7) 26 (16.3) 62 (17.1)
Bảng 3. Kết quả điều trị
phụ tự tiểu không được, sẽ tiến hành thông tiểu 
giải áp và được ghi nhận bằng ca đong vạch. 
Số lần thông tiểu và thể tích nước tiểu sẽ được 
ghi nhận vào hồ sơ. 
Nghiên cứu loại trừ những trường hợp có 
chỉ định mổ sinh, có vết mổ cũ, có chỉ định đặt 
thông tiểu lưu để theo dõi lượng nước tiểu do 
bệnh lý khác như bệnh nội khoa nặng, tiền sản 
giật nặng, băng huyết sau sinh cần truyền máu.
Tiêu chuẩn chẩn đoán BTSS: dung tích nước 
tiểu tồn lưu (DTNTTL) từ 150ml bằng máy scan 
bàng quang BV3000 sau sinh 6 giờ. Sau sinh 
48 giờ, sẽ phỏng vấn sản phụ về cảm giác tự 
tiểu, khám cầu bàng quang và đo dung tích 
bàng quang tồn lưu sau khi cho tự tiểu, đối với 
những sản phụ có chỉ định đặt thông tiểu lưu sẽ 
scan lại bàng quang sau khi rút ống thông tiểu 
6 giờ. BTSS 48 giờ được xác định bằng DTNTTL 
qua scan bàng quang từ 150ml trở lên. 
Dữ liệu được thu thập qua phiếu thông tin 
được thiết kế sẵn qua hồ sơ bệnh án và phỏng 
PHAN THỊ HẰNG, HUỲNH NGUYỄN KHÁNH TRANG 
66
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
vấn. Nhập liệu bằng phần mềm excel, phân tích 
bằng Stata 11.
3. Kết quả 
Bảng 1, Bảng 2, Bảng 3
4. Bàn luận
Chúng tôi thu nhận được 553 sản phụ 
tham gia vào chương trình nghiên cứu từ ngày 
18/04/2015 đến 21/11/2015, tại khoa sanh. 
Khi scan bàng quang đo DTNTTL sau sinh 6 giờ 
với ngưỡng 150ml, số trường hợp chẩn đoán 
BTSS là 362 (66.4%, KTC95%: 62.4-70.4%). 
Tỉ lệ này tương đương với kết quả nghiên cứu 
của Fabien Demaria(2008), tỉ lệ BTSS 2 giờ ở 
nhóm sản phụ là 63% với DTNTTL trên 500ml 
(11). Nghiên cứu của chúng tôi, với ngưỡng 
chẩn đoán BTSS từ 400ml, tỉ lệ là 29.2%. Trong 
nghiên cứu của Maried Blomstrend (8), tỉ lệ BTSS 
trên sản phụ có GĐSK với ngưỡng 400ml sau 
sinh 3 giờ là 89% (34/38). Tỉ lệ này cao hơn 
nhiều so với kết quả của chúng tôi, lí do khác 
biệt là thời điểm scan được thực hiện sau sinh 
trong vòng 3 giờ thay vì 6 giờ như chúng tôi đã 
thực hiện. 
Với scan thường quy ở mức chẩn đoán 
150ml, số sản phụ được xác định BTSS cao hơn 
so với hơn ngưỡng 400ml (66.7% so với 29.2%). 
Trong 125 trường hợp được chẩn đoán BTSS 48 
giờ, có 93 trường hợp đã được chẩn đoán BTSS 
6 giờ với ngưỡng DTNTTL từ 150 ml, nhưng nếu 
chọn ngưỡng 400ml là điểm cắt chẩn đoán , chỉ 
phát hiện 52 trường hợp của BTSS 400ml tiến 
triển thành BTSS 48 giờ, có đến 73 trường hợp 
bị bỏ sót và tiến triển thành BTSS 48 giờ. Điều 
này càng cho thấy, gia tăng tầm soát bằng máy 
Bladder scanner ở giai đoạn sau sinh 6 giờ với 
ngưỡng 150ml, khả năng bỏ sót bệnh tiến triển 
thành BTSS 48 giờ có thể giảm. Trong nghiên 
cứu của Grouzt A. năm 2011 đã nhấn mạnh vai 
trò của chẩn đoán sớm giúp có thể giải quyết 
tình trạng BTSS trong vòng 28 ngày (12). Mặc 
dù có đến 362 trường hợp có chẩn đoán BTSS 
nhờ scan với ngưỡng 150ml, nhưng có đến 262 
(>80%) sản phụ tập tiểu và có thể tự tiểu tốt, 
không cần thông tiểu.
39 sản phụ phải lưu thông tiểu điều trị có giá 
trị scan bàng quang trung bình là 636 ± 261ml, 
có 2 trường hợp phải đặt 2 lần, lần thứ nhất lưu 
48 giờ và lần thứ hai lưu thông tiểu kéo dài trên 
7 ngày. Cả hai trường hợp này có DTNTTL scan 
được sau sinh 6 giờ trên 720ml. Trong khi nhóm 
không phải thông tiểu điều trị có DTNTTL qua 
scan bàng quang sau sinh 6 giờ là 304±265 
ml. Những thai phụ có DTNTTL qua scan bàng 
quang sau sinh 6 giờ từ 400ml trở lên có nguy 
cơ phải lưu thông tiểu điều trị tối thiểu 48 giờ 
cao gấp 7 lần so với sản phụ có DTNTTL thấp 
hơn 400ml (RR=7.04, KTC 95%: 3.51-14.1). 
Với kết quả này, khi phát hiện những sản phụ 
có DTNTTL từ 400ml trở lên, việc thông tiểu giải 
áp là cần thiết nhằm giảm nguy cơ tổn thương 
bàng quang kéo dài. Trong nghiên cứu, những 
sản phụ có TTNTTL từ 400 ml trở lên thì có 79.9% 
sản phụ sờ được cầu bàng quang, trong khi chỉ 
có 38.7% sản phụ có DTNTTL từ 150ml trở lên 
sờ được cầu bàng quang. Việc sờ thấy cầu bàng 
quang giúp xác định sản phụ có BTSS đặc biệt 
với nguy cơ BTSS từ 400ml trở lên.
Kết quả điều trị ở những nhóm bệnh nhân có 
chẩn đoán BTSS với các phương tiện khác nhau 
được phân tích trong bảng 3. Nếu sản phụ được 
chẩn đoán chủ động với ngưỡng bí tiểu 150ml, 
tỉ lệ phải thông tiểu lưu ít nhất một lần chiếm 
26.2% trong khi nếu chẩn đoán khi sản phụ có 
triệu chứng lâm sàng (tiểu khó hoặc không tiểu 
được) thì tỉ lệ phải thông tiểu lưu ít nhất một lần 
là 44.3%. Khi sờ thấy cầu bàng quang, nguy cơ 
BTSS với ngưỡng scan bàng quang 150ml tăng 
gấp 1.91 lần so với không sờ thấy cầu bàng 
quang (RR=1.91, KTC 95%: 1.75-2.09), nhưng 
nguy cơ BTSS với ngưỡng scan bàng quang 
400ml tăng gấp 11 lần so với không sờ được 
(RR=11.5, KTC 95%: 8.5-16.1).
5. Kết luận
Scan bàng quang sau sinh 6 giờ nhằm chẩn 
đoán BTSS với ngưỡng 150ml cần được thực hiện 
thường quy. Những sản phụ này nên được theo 
dõi, khuyến khích tập tiểu tích cực có thể làm giảm 
nguy cơ bị bí tiểu sau sinh kéo dài trên 48 giờ và 
giảm biến chứng do tổn thương bàng quang.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(03), 63 - 67, 2016
67
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
Tài liệu tham khảo
1. Camus E PC, Goffinet F, Wainer B, Merlet F, Nisand I, et al. 1999;. 
Pregnancy rates after in-vitro fertilization in cases of tubal infertility with 
and without hydrosalpinx: a meta-analysis of published comparative 
studies. Hum Reprod. 1999;14:1243-9.
2. Amesse LS, Pfaff-Amesse T, Leonardi R, Uddin D, French JA, 2nd. 
Oral contraceptives and DDAVP nasal spray: patterns of use in managing 
vWD-associated menorrhagia: a single-institution study. J Pediatr Hematol 
Oncol. 2005 Jul;27(7):357-63.
3. Trần Thị Lợi NQK. Tần suất bí tiểu sau sinh và một số yếu tố liên 
quan trên sản phụ tại bệnh viện Từ Dũ Tạp chí y học Thành phố Hồ 
Chí Minh. 2003;7(1):5-8.
4. Đặng Thị Bình HNKT. Tỷ lệ bí tiểu sau sanh và một số yếu tố liên 
quan trên sản phụ tại bệnh viện Hùng Vương. Y học thành phố Hồ Chí 
Minh. 2014;18(1):183-8.
5. Al-Shaikh G, Larochelle A, Campbell CE, Schachter J, Baker K, 
Pascali D. Accuracy of bladder scanning in the assessment of postvoid 
residual volume. J Obstet Gynaecol Can. 2009 Jun;31(6):526-32.
6. Neron M, Fatton B, Monforte M, Mares P, de Tayrac R, Letouzey V. 
[Evaluation of urine postvoid residuals in post-partum period: a prospective 
and descriptive clinical study]. Prog Urol. 2015 Mar;25(4):211-6.
7. Bouhours AC, Bigot P, Orsat M, Hoarau N, Descamps P, Fournie 
A, et al. [Postpartum urinary retention]. Prog Urol. [Review]. 2011 
Jan;21(1):11-7.
8. Marie Blomstrand RB, Lennart Christensson and Peter Blomstrand. 
Systematic bladder scanning identifies more women with postpartum 
urinary retention than diagnosis by clinical signs and symptoms. 
International Journal of Nursing and Midwifery. 2015;7(6):108-15.
9. Anim-Somuah M, Smyth RM, Jones L. Epidural versus non-epidural or 
no analgesia in labour. Cochrane database of systematic reviews. [Meta-
Analysis
Review]. 2011(12):CD000331.
10. Cinny Cusack MOR. Improving patient safety by early recognition 
and intervention for Urinary Retention in the Rotunda Hospital re audit 
from January 2014 to July 2014. 5th National Patient Safety Conference; 
Dublin2015.
11. Demaria F, Boquet B, Porcher R, Rosenblatt J, Pedretti P, Raibaut 
P, et al. Post-voiding residual volume in 154 primiparae 3 days after 
vaginal delivery under epidural anesthesia. European Journal Obstetrics 
& Gynecology and Reproductive Biology. 2008;138:110-3.
12. Groutz A, Levin I, Gold R, Pauzner D, Lessing JB, Gordon D. 
Protracted postpartum urinary retention: the importance of early diagnosis 
and timely intervention. Neurourol Urodyn. 2011 Jan;30(1):83-6.

File đính kèm:

  • pdfvai_tro_cua_may_bladder_scanner_trong_chan_doan_bi_tieu_sau.pdf