Vai trò của hộ sinh trong theo dõi, chăm sóc bệnh nhân phá thai lưu từ 14-28 tuần bằng phương pháp nội khoa tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2015

Mục tiêu: Tỷ lệ phụ nữ được tư vấn, theo dõi, chăm sóc trong quá

trình phá thai nội khoa. Đánh giá của hộ sinh về quá trình theo dõi

phương pháp phá thai lưu từ 14-28 tuần bằng phương pháp nội khoa.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang và nghiên cứu

định tính; Bệnh nhân thai lưu từ 14-28 tuần được điều trị phá thai nội khoa

tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Hộ sinh tham gia trực tiếp quá trình

tư vấn, theo dõi và chăm sóc 50 bệnh nhân phá thai lưu từ 14-28 tuần.

Kết quả: 100% bệnh nhân được theo dõi sát và đảm bảo đúng đủ

quy trình theo dõi được hướng dẫn. Hộ sinh đóng vai trò theo dõi chủ

yếu trong quá trình phá thai nội khoa. Đánh giá của hộ sinh về phác

đồ mới:Thuận lợi:Thời gian theo dõi, chăm sóc được rút ngắn. Sử dụng

thuốc dễ dàng, thuận lợi, liều dùng cố định theo giờ. Giảm nguy cơ cho

BN viêm dính buồng tử cung và vòi trứng do không phải can thiệp thủ

thuật nào hút. Giảm chi phí điều trị. Khó khăn: Tư vấn cho BN tham gia

khó khăn hơn vì BN chưa biết nhiều đến phương pháp mới. Thời gian

dùng thuốc ngắn hơn nên theo dõi, thăm khám nhiều hơn.Thời gian sảy

rau kéo dài hơn, nguy cơ chảy máu sau sảy nhiều hơn.

Kết luận: Áp dụng quy trình điều trị phá thai lưu từu 14 đến 28 tuần

bằng phá thai nội khoa đạt được hiệu quả cao và hộ sinh giữ vai trò

quan trọng trong theo tư vấn, theo dõi và điều trị

pdf 6 trang phuongnguyen 220
Bạn đang xem tài liệu "Vai trò của hộ sinh trong theo dõi, chăm sóc bệnh nhân phá thai lưu từ 14-28 tuần bằng phương pháp nội khoa tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2015", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Vai trò của hộ sinh trong theo dõi, chăm sóc bệnh nhân phá thai lưu từ 14-28 tuần bằng phương pháp nội khoa tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2015

Vai trò của hộ sinh trong theo dõi, chăm sóc bệnh nhân phá thai lưu từ 14-28 tuần bằng phương pháp nội khoa tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2015
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 97 - 102, 2016
97
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Trần Thị Tú Anh, Vũ Bá Quyết, Đỗ Quan Hà, Nguyễn Thị Huyền Linh
Bệnh viện Phụ sản Trung ương
VAI TRÒ CỦA HỘ SINH TRONG THEO DÕI,
CHĂM SÓC BỆNH NHÂN PHÁ THAI LƯU
TỪ 14-28 TUẦN BẰNG PHƯƠNG PHÁP NỘI KHOA
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG NĂM 2015
Tóm tắt
Mục tiêu: Tỷ lệ phụ nữ được tư vấn, theo dõi, chăm sóc trong quá 
trình phá thai nội khoa. Đánh giá của hộ sinh về quá trình theo dõi 
phương pháp phá thai lưu từ 14-28 tuần bằng phương pháp nội khoa.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang và nghiên cứu 
định tính; Bệnh nhân thai lưu từ 14-28 tuần được điều trị phá thai nội khoa 
tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Hộ sinh tham gia trực tiếp quá trình 
tư vấn, theo dõi và chăm sóc 50 bệnh nhân phá thai lưu từ 14-28 tuần.
Kết quả: 100% bệnh nhân được theo dõi sát và đảm bảo đúng đủ 
quy trình theo dõi được hướng dẫn. Hộ sinh đóng vai trò theo dõi chủ 
yếu trong quá trình phá thai nội khoa. Đánh giá của hộ sinh về phác 
đồ mới:Thuận lợi:Thời gian theo dõi, chăm sóc được rút ngắn. Sử dụng 
thuốc dễ dàng, thuận lợi, liều dùng cố định theo giờ. Giảm nguy cơ cho 
BN viêm dính buồng tử cung và vòi trứng do không phải can thiệp thủ 
thuật nào hút. Giảm chi phí điều trị. Khó khăn: Tư vấn cho BN tham gia 
khó khăn hơn vì BN chưa biết nhiều đến phương pháp mới. Thời gian 
dùng thuốc ngắn hơn nên theo dõi, thăm khám nhiều hơn.Thời gian sảy 
rau kéo dài hơn, nguy cơ chảy máu sau sảy nhiều hơn.
Kết luận: Áp dụng quy trình điều trị phá thai lưu từu 14 đến 28 tuần 
bằng phá thai nội khoa đạt được hiệu quả cao và hộ sinh giữ vai trò 
quan trọng trong theo tư vấn, theo dõi và điều trị. 
Từ khóa: Phá thai nội khoa, thai chết lưu.
Abstract 
ROLE OF MIDWIVES IN MONITORING AND 
CARE IN MEDICAL ABORTION OF INTRAUTERINE 
FETAL DEATH AT 14-28 WEEKS OF PREGNANCY 
AT NATIONAL HOSPITAL OF OBSTETRICS AND 
GYNECOLOGY 2015
Objectives: Proportion of women counseling, monitoring and care 
during medical abortion. Assessment of nursing in the process of 
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Trần Thị Tú Anh,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 15/03/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
10/04/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted):20/04/2016
Từ khoá: Phá thai nội khoa, thai 
chết lưu. 
Keywords: Intrauterine fetal 
death, medical abortion.
Do đó, chúng tôi đã tiến hành đánh giá “Vai trò 
của hộ sinh trong theo dõi, chăm sóc bệnh nhân 
phá thai lưu từ 14-28 tuần bằng phương pháp 
nội khoa” với mục tiêu: 
1. Tỷ lệ phụ nữ được tư vấn, theo dõi, chăm sóc 
trong quá trình phá thai nội khoa.
2. Đánh giá của hộ sinh về quá trình theo dõi 
phương pháp phá thai lưu từ 14-28 tuần bằng 
phương pháp nội khoa.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu 
• Bệnh nhân thai lưu từ 14-28 tuần được điều trị 
phá thai nội khoa tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương.
• Hộ sinh tham gia trực tiếp quá trình tư vấn, 
theo dõi và chăm sóc 50 bệnh nhân phá thai lưu 
từ 14-28 tuần. 
2.2. Phương pháp nghiên cứu 
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả 
cắt ngang và định tính
2.2.2. Mẫu nghiên cứu:
− 50 Bệnh nhân đầu tiên tham gia nghiên cứu 
xử trí nội khoa trong thai lưu có tuổi thai từ 14 đến 
hết 28 tuần bằng misoprostol tại Bệnh viện Phụ sản 
Trung ương.
− 05 Hộ sinh tham gia trực tiếp quá trình tư vấn, 
theo dõi và chăm sóc 50 bệnh nhân phá thai lưu 
từ 14-28 tuần
2.2.3 Quy trình tư vấn và theo dõi của hộ sinh 
đối với bệnh nhân phá thai lưu từ 14-28 tuần
TRẦN THỊ TÚ ANH, VŨ BÁ QUYẾT, ĐỖ QUAN HÀ, NGUYỄN THỊ HUYỀN LINH
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
98
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
1. Đặt vấn đề
Trên thế giới, những khác biệt trong tiếp cận 
dịch vụ y tế và phương pháp phân loại thai lưu 
khác nhau trong các nghiên cứu đã cho những kết 
quả khác nhau về tỷ lệ thai chết lưu trong tử cung 
[1]. Việc xử lý thai lưu kịp thời vừa có thể giúp 
người bệnh tránh được những tổn thương về mặt 
tâm lý, đồng thời có thể giảm thiểu các nguy cơ 
đông máu rải rác trong lòng mạch (DIC) [2,3].
Thai chết trong tử cung (IUFD) có thể được 
xử lý ngoại khoa hoặc dùng phương pháp kích 
thích chuyển dạ. Nhằm nâng cao hiệu quả của 
một trong hai phác đồ mifepristone đơn thuần 
hoặc misoprostol đơn thuần, các nhà nghiên 
cứu đã đánh giá tác dụng của việc kết hợp của 
mifepristone và misoprostol trong xử lý thai lưu 
trong tử cung ở ba tháng giữa và cuối thời kỳ thai 
nghén. Chín nghiên cứu hoặc báo cáo trường 
hợp về việc sử dụng mifepristone-misoprostol để 
điều trị thai lưu trong tử cung trong ba tháng 
giữa và cuối thời kỳ thai nghén đã được thực 
hiện và cho thấy phá thai lưu bằng phương 
pháp nội khoa hiệu quả cao, an toàn cho người 
bệnh [4,5,6,7,8,9,10,11].
Năm 2015, tại Bệnh viện Phụ sản Trung 
ương, đã triển khai thực hiện nghiên cứu xử trí 
nội khoa trong thai lưu có tuổi thai từ 14 đến 
hết 28 tuần bằng misoprostol. Để đảm báo quá 
trình điều trị của bệnh nhân và nghiên cứu được 
thành công, vai trò của hộ sinh trong tư vấn, theo 
dõi và chăm sóc bệnh nhân là rất quan trọng. 
monitoring methods to medical abortion of intrauterine fetal death at 14-28 weeks of pregnancy. 
Subjects and Method: Retrospective descriptive and qualitative research. Women of intrauterine 
fetal death at 14-28 weeks; 05 midwives. 
Recommendations: 100% of patients be closely monitored and ensure proper monitoring process 
instructions. Midwives play a major role in monitoring the process of medical abortion. Evaluation 
of midwives: Advantages: Time care is shortened. Using drugs easy, convenient, fixed hourly dose. 
Reducing the risk for patients ankylosing uterine and tubal, reduce costs. Difficulty: difficult advising 
patients joint because patients do not know much about the new method. 
Conclustion: Apply the treatment process medical abortion of intrauterine fetal death at 14-28 
weeks of pregnancy has high efficiency and midwifery have important role in the follow advice, 
monitoring and treatment.
Keywords: intrauterine fetal death, medical abortion.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 97 - 102, 2016
99
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
42% bệnh nhân sảy thai và rau sau khi dùng 
1-3 viên, 17 bệnh nhân chiếm 34% sảy sau 4-6 
viên. Số bệnh nhân dùng > 7 viên chiếm tỷ lệ 
không cao.
3.2 Tỷ lệ phụ nữ được tư vấn, theo dõi, 
chăm sóc trong quá trình phá thai nội khoa
Do có 1 trường hợp bệnh nhân sản thai trước 
khi dùng thuốc kích thích chuyển dạ nên chỉ có 49 
bệnh nhân được theo dõi khi dùng thuốc. Quá trình 
này được theo dõi chặt chẽ, liên tục, đầy đủ về các 
chỉ số sinh tồn, cường độ các cơn co, mức độ đau, 
độ mở cổ tử cung, tình trạng sảy thai, tình trạng sổ 
rau và phát thuốc mỗi 3 giờ/ lần.
Trong 50 bệnh nhân được điều trị có 12 
bệnh nhân được điều trị bổ sung đó là bổ sung 
misoproltol, oxytoxyn hoặc hút lại buồng tử cung. 
Thời gian điều trị trung bình kéo dài sau chăm sóc 
bổ sung là từ 7,3 + 5 giờ. 
3.3 Đánh giá của hộ sinh về quá trình 
theo dõi phương pháp phá thai lưu từ 
14-28 tuần.
Thảo luận về sự thuận lợi khi tiến hành phá thai 
lưu bằng phương pháp nội khoa được 05 cán bộ 
2.2.4. Thu thập số liệu
• Thu thập số liệu định lượng bằng phỏng 
vấn trực tiếp 50 bệnh nhân bằng bộ câu hỏi 
phỏng vấn
• Số liệu định tính: Thảo luận nhóm với 
05 hộ sinh và được ghi chép bởi người chủ trì 
thảo luận.
2.2.5 Xử lý và phân tích số liệu
• Số liệu định lượng được sau khi được làm 
sạch, được nhập và phân tích bằng phần mềm 
SPSS 16.0. Sử dụng các phương pháp thống kê 
cơ bản.
• Số liệu định tính được ghi chép và viết 
thông tin dưới dạng văn bản.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1 Thông tin chung 
Tuần thai trung bình 18,4 + 3,8 tuần. 36% 
bệnh nhân có tuổi thai từ 14-16 tuần chiếm tỷ 
lệ cao nhất, tiếp đến là nhóm từ 16-18 tuần 
chiếm 22%, nhóm tuần thai từ 18-22 tuần là 
24%; nhóm trên 22 tuần – 28 tuần chiếm tỷ lệ 
thấp 18%.
Biểu đồ 1. Tuổi thai ở thời điểm ngừng phát triển
Sô viên thuốc Số lượng n=50 Tỷ lệ %
0 viên 1 2,0
1-3 viên 21 42,0
4-6 viên 17 34,0
7-9 viên 6 12,0
> 9 viên 5 10,0
Tổng 50 100
Trung bình 5,08 ± 3,7 viên
Bảng 2. Tổng số viên thuốc bệnh nhân sử dụng để kích thích chuyển dạ đến khi sảy hoàn toàn
Thông tin Sô lượng n=49 Tỷ lệ %
Được theo dõi chỉ số sinh tồn 3 giờ/lần 49 100
Được khám theo dõi tình trạng chảy máu 3 giờ/lần 49 100
Được khám theo dõi cường độ các cơn co 3 giờ/lần 49 100
Được khám theo dõi mức độ đau 3 giờ/lần 49 100
Được khám theo dõi độ mở cổ tử cung 3 giờ/lần 49 100
Được khám theo dõi tình trạng sảy thai 3 giờ/lần 49 100
Được khám theo dõi tình trạng sổ rau 3 giờ/lần 49 100
Được cung cấp thuốc kích thích chuyển dạ 3 giờ/lần 49 100
Bảng 3. Tỷ lệ phụ nữ được theo dõi, chăm sóc trong quá trình phá thai nội khoa
Thông tin Sô lượng n=50 Tỷ lệ %
Tỷ lệ phụ nữ được chăm sóc bổ sung 12 24
Thời gian trung bình sau chăm sóc bổ sung 7,3 + 5 giờ
Bảng 4. Tỷ lệ phụ nữ được chăm sóc bổ sung trong quá trình phá thai nội khoa
TRẦN THỊ TÚ ANH, VŨ BÁ QUYẾT, ĐỖ QUAN HÀ, NGUYỄN THỊ HUYỀN LINH
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
100
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
chia sẻ về thời gian, cách thức theo dõi điều trị, 
biến chứng nguy cơ trong điều trị.
“Những thời gian đầu, tư vấn, lựa chọn bệnh 
nhân tham gia phương thức phá thai mới gặp 
nhiều khó khăn lắm, vì bệnh nhân không muốn làm 
những cái mới và hộ sinh chúng tôi cũng chưa có 
nhiều kinh nghiệm để tư vấn. Nhưng sau 07 bệnh 
nhân đầu chúng tôi đã có nhiều kinh nghiệm để tư 
vấn cho bệnh nhân tham gia phương pháp này”. 
Khi được hỏi về quy trình theo dõi và điều trị 
một hộ sinh đã nói: “Quy trình chăm sóc và theo 
dõi bệnh nhân khá đơn giản, chúng tôi chỉ cần tư 
vẫn ký cho bệnh nhân quy trình điều trị, và những 
triệu chứng, dấu hiệu cụ thể sẽ diễn ra để bệnh phối 
hợp với chúng tôi mà thôi”. Một ý kiến khác cũng 
nêu: “có sự phối hợp của bệnh nhân nên chúng tôi 
dễ dàng theo dõi điều trị cho bệnh nhân”. 
Quy trình điều trị được các hộ sinh cho rằng 
“Thời gian điều trị cho bệnh nhân được rút ngắn, 
theo dõi khá đơn giản nhưng phải theo dõi sát và 
liên tục. Sử dụng thuốc cũng dễ dàng lắm”.
“Thời gian điều trị trung bình của một bệnh 
nhân là 5 viên tức 12 giờ theo dõi. Thời gian không 
dài nhưng rất hiệu quả nhé, giảm nguy cơ bệnh lý 
cho bệnh nhân và giảm chi phí điều trị”. 
Thảo luận về khó khăn trong quá trình thực 
hiện, đa số các ý kiến cho rằng “Bệnh nhân thì 
được nhiều thuận lợi về phương pháp này nhưng 
thời gian sảy rau kéo dài hơn, nguy cơ chảy máu 
sau sảy nhiều và lâu hơn nên trong quá trình theo 
dõi và chăm sóc nhất là sau sảy phải tư vấn kỹ hơn 
để bệnh nhân khỏi lo lắng” 
Kết luận chung của hộ sinh khi áp dụng phương 
pháp mới trong phá thai lưu bằng phương pháp 
nội khoa “Chúng tôi mong muốn quy trình điều trị 
này trở thành thường quy vì mang lại nhiều lợi ích, 
an toàn cho người bệnh”.
4. Bàn luận
4.1 Thông tin chung
Tuần thai trung bình 18,4 + 3,8 tuần. Trong 
tiêu chuẩn lựa chọn phụ nữ tham gia thực hiện 
phương pháp phá thai lưu tại Bệnh viện Phụ sản 
Trung ương được lựa chọn từ 14 đến 28 tuần. 
Trong quá trình triển khai thực tế tại bệnh viện, 
50 bệnh nhân đầu tiên thì 36% bệnh nhân có tuổi 
thai từ 14-16 tuần chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp đến 
là nhóm từ 16-18 tuần chiếm 22%, nhóm tuần 
thai từ 18-22 tuần là 24%; nhóm trên 22 tuần – 
28 tuần chiếm tỷ lệ thấp 18%. Điều này cho thấy, 
phụ nữ khi mang thai và đến khám thai tại Bệnh 
viện Phụ sản Trung ương được khám và tư vấn 
kỹ về quá trình mang thai, số lần khám và theo 
dõi khi mang thai. Thêm vào đó người phụ nữ và 
gia đình quan tâm nhiều hơn đến lần mang thai 
của mình nên họ tuân thủ việc khám theo dõi thai 
thường kỳ. Do đó, nên viện phát hiện sớm tình 
trạng thai lưu của thai phụ. 
Trong 50 bệnh nhân được điều trị bằng phác 
đồ phá thai lưu bằng phương pháp nội khoa có 1 
bệnh nhân không dùng viên thuốc kích thích nào 
vì khi bệnh nhân quay lại viện trước thời gian được 
hẹn đến để kích thích chuyển dạ đẻ. Bệnh nhân 
đến trong tình trạng đang lên cơn co, ra máu và 
sảy thai trong vòng 1 giờ khi đến bệnh viện.
21 bệnh nhân chiếm 42%, sảy thai và rau sau 
khi dùng 1-3 (3-9 giờ) viên thuốc kích thích chuyển 
dạ 17 bệnh nhân chiếm 34% sảy sau 4-6 viên tức 
khoảng 9-15 giờ theo dõi kích thích chuyên dạ. Số 
bệnh nhân dùng > 7 viên chiếm tỷ lệ không cao.
Nghiên cứu trên 40 phụ nữ có thai lưu trong 
tử cung sau 28 tuần so sánh kết hợp mifepristone-
misoprostol so với misoprostol đơn thuần cũng cho 
thấy thời gian chuyển dạ rút ngắn và giảm ở những 
phụ nữ có dùng trước mifepristone (7 so với 12 giờ 
ở những phụ nữ được điều trị bằng misoprostol đơn 
thuần) [12]. Một số bằng chứng cho thấy hiệu quả 
của việc điều trị bằng mifepristone có thể tốt hơn 
trong ba tháng giữa thai kỳ so với tuổi thai lớn hơn lúc 
mà tử cung có thể nhạy cảm hơn với prostaglandins 
ngoại sinh. Một nghiên cứu hồi cứu 130 phụ nữ với 
IUFD tại 21-42 tuần đã nhận được hoặc misoprostol 
đơn thuần hoặc kết hợp mifepristone-misoprostol 
thấy rằng khởi phát với mifepristone rút ngắn thời 
gian kích thích cho đến khi sinh đáng kể khi thời 
gian mang thai là giữa 21-25 tuần [13].
4.2 Tỷ lệ phụ nữ được tư vấn, theo 
dõi, chăm sóc trong quá trình phá thai 
nội khoa
Do yêu cầu bắt buộc của nghiên cứu và để lựa 
chọn bệnh nhân tham gia nghiên cứu nên 100% 
bệnh nhân được tư vấn về quy trình, tác dụng phụ, 
tai biến có thể xảy ra trong phá thai lưu bằng 
phương pháp nội khoa. Điều này được các hộ sinh 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 97 - 102, 2016
101
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
thực hiện đúng, cung cấp đủ và rõ ràng thông tin 
để bệnh nhân hiểu và tự nguyện tham gia phá thai 
lưu bằng phương pháp phá thai nội khoa.
Để thực hiện quy trình phá thai bằng thuốc đối 
với thai lưu có tuẩn thai từ 14-28 tuần thì vai trò 
của hộ sinh là rất quan trọng và chủ yếu. Khi bệnh 
nhân đến khám phát hiện thai lưu, bệnh nhân sẽ 
được gặp hộ sinh để tư vấn quá trình điều trị, phân 
tích nhưng nguy cơ, lợi ích của phác đồ điều trị. 
Nếu bệnh nhân đồng ý tham gia, hộ sinh sẽ tư 
vấn về cách thức dùng thuốc, cách tự theo dõi và 
hộ sinh phải theo dõi liên tục 3 giờ/lần và khi có 
bất cứ bất thường nào, bệnh nhân sẽ gọi hộ sinh 
để kiểm tra và theo dõi. Như vậy cả quá trình điều 
trị của bệnh nhân được gắn chặt với hộ sinh chăm 
sóc, theo dõi, khám và phát thuốc.
Do có 1 trường hợp bệnh nhân sản thai trước 
khi dùng thuốc kích thích chuyển dạ nên chỉ có 49 
bệnh nhân được theo dõi khi dùng thuốc. Quá trình 
này được theo dõi chặt chẽ, liên tục, đầy đủ về các 
chỉ số sinh tồn, cường độ các cơn co, mức độ đau, 
độ mở cổ tử cung, tình trạng sảy thai, tình trạng sổ 
rau và phát thuốc mỗi 3 giờ/ lần. 
Trong 50 bệnh nhân được điều trị có 12 
bệnh nhân được điều trị bổ sung đó là bổ sung 
misoproltol, oxytoxyn hoặc hút lại buồng tử cung. 
Tỷ lệ này tương đối cao và có thể được giải thích 
bởi đây là giai đoạn đầu của nghiên cứu nên các 
bác sỹ và hộ sinh chưa đủ tự tin trong phương thức 
điều trị. Cùng với những lo lắng trên nên cách xử 
trí đối với bệnh nhân là sớm, với trường hợp ra 
máu sau sảy thai, các bác sỹ thường khám và thấy 
còn dịch, màng rau nên đã can thiệp thủ thuật để 
làm sạch buồng tử cung. Với các trường hợp này 
hộ sinh phải theo dõi thêm các trường hợp bổ sung 
thuốc, các can thiệp bổ sung và kéo dài thời gian 
theo dõi bệnh nhân. Thời gian điều trị trung bình 
kéo dài sau chăm sóc bổ sung là từ 7,3 + 5 giờ. 
4. 3 Đánh giá của hộ sinh về quá trình 
theo dõi phương pháp phá thai lưu từ 
14-28 tuần
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành thảo luận nhóm 
với 5 cán bộ hộ sinh tại khoa sản bệnh lý, buổi 
thảo luận đã chia sẻ về những thuận lợi, khó khăn 
trong quá trình thực hiện lựa chọn, chăm sóc bệnh 
nhân phá thai lưu từ 14 – 28 tuần bằng phương 
pháp phá thai nội khoa.
Thảo luận về sự thuận lợi khi tiến hành phá thai 
lưu bằng phương pháp nội khoa được 05 cán bộ 
chia sẻ về thời gian, cách thức theo dõi điều trị, 
biến chứng nguy cơ trong điều trị.
“Những thời gian đầu, tư vấn, lựa chọn bệnh nhân 
tham gia phương thức phá thai mới gặp nhiều khó khăn 
lắm, vì bệnh nhân không muốn làm những cái mới và 
hộ sinh chúng tôi cũng chưa có nhiều kinh nghiệm để 
tư vấn. Nhưng sau 07 bệnh nhân đầu chúng tôi đã có 
nhiều kinh nghiệm để tư vấn cho bệnh nhân tham gia 
phương pháp này”. Điều này là phù hợp với thực tế 
triển khai và tâm lý chung của bệnh nhân. Bệnh nhân 
khi đến khám và điều trị họ rất sợ làm theo những phác 
đồ mới vì sợ không an toàn, lo sợ những nguy cơ có thể 
xảy ra. Nhưng Bệnh viện Phụ sản Trung ương là bệnh 
viện đầu ngành về sản phụ khoa, luôn là nơi đầu tiên 
ứng dụng các kỹ thuật mới trong chăm sóc và điều trị 
cho bệnh nhân. Thêm vào đó, cán bộ hộ sinh tại khoa 
sản bệnh lý là những cán bộ có trình độ, có nhiều kinh 
nghiệm trong chăm sóc, điều trị và cũng đã có nhiều 
cơ hội thực hiện áp dụng các phương pháp điều trị mới 
nên họ đã vượt qua được khó khăn bước đầu này khá 
nhanh chóng và thuận lợi.
Khi được hỏi về quy trình theo dõi và điều trị một 
hộ sinh đã nói: “Quy trình chăm sóc và theo dõi bệnh 
nhân khá đơn giản, chúng tôi chỉ cần tư vẫn kỹ cho 
bệnh nhân quy trình điều trị, và những triệu chứng, 
dấu hiệu cụ thể sẽ diễn ra để bệnh phối hợp với chúng 
tôi mà thôi”. Một ý kiến khác cũng nêu: “có sự phối 
hợp của bệnh nhân nên chúng tôi dễ dàng theo dõi 
điều trị cho bệnh nhân”. Quy trình điều trị của bệnh 
nhân được ban lãnh đạo bệnh viện tập huấn kỹ cho 
cán bộ hộ sinh. Sau khi bệnh nhân được tư vấn về 
phương pháp điều trị mới, bệnh nhân được phát viên 
thuốc đầu tiên để về nhà uống và sau 24 giờ quay 
lại bệnh viện để tiến hành kích thích chuyển dạ, khi 
bệnh nhân quay lại sẽ được đo các chỉ số sinh tồn, 
kiểm tra việc chảy máu, cơn co tử cung, và các dấu 
hiệu chuyển dạ và phát thuốc kích thích. Sau đó cứ 3 
giờ/ lần quy trình này được lặp lại đến khi thai và rau 
sảy hoặc đế 16 liều mà thai, rau không sảy chuyển 
sang phác đồ điều trị khác để bác sỹ quyết định dùng 
phương pháp nội khoa hay tiến hành thủ thuật. Quy 
trình điều trị được các hộ sinh cho rằng “Thời gian 
điều trị cho bệnh nhân được rút ngắn, theo dõi khá 
đơn giản nhưng phải theo dõi sát và liên tục. Sử dụng 
thuốc cũng dễ dàng lắm”.
TRẦN THỊ TÚ ANH, VŨ BÁ QUYẾT, ĐỖ QUAN HÀ, NGUYỄN THỊ HUYỀN LINH
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
102
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
“Thời gian điều trị trung bình của một bệnh nhân 
là 5 viên tức 12 giờ theo dõi. Thời gian không dài 
nhưng rất hiệu quả nhé, giảm nguy cơ bệnh lý cho 
bệnh nhân và giảm chi phí điều trị”. Điều này đã 
được các nghiên cứu hoặc báo cáo trường hợp về 
việc sử dụng mifepristone-misoprostol để điều trị thai 
lưu trong tử cung trong ba tháng giữa và cuối thời kỳ 
thai nghén đã được thực hiện và cho thấy phá thai 
lưu bằng phương pháp nội khoa hiệu quả cao, an 
toàn cho người bệnh. Giảm nguy cơ co bệnh nhân 
viêm dính buồng tử cung và vòi trứng do không can 
thiệp thủ thuật[4,5,6,7,8,9,10,11]. Giảm chi phí 
điều trị cũng được các nghiên cứu chứng minh, chi 
phí cho điều trị nội khoa rẻ hơn nhiều so với điều 
trị ngoại khoa, ít thời gian nằm viện hơn cũng giúp 
giảm chi phí cho bệnh nhân vì ngày đầu bệnh nhân 
đã về nhà không phải nằm điều trị tại khoa. Do đó 
giảm được tình trạng quá tải Bệnh viện.
Thảo luận về khó khăn trong quá trình thực 
hiện, đa số các ý kiến cho rằng “Bệnh nhân thì 
được nhiều thuận lợi về phương pháp này nhưng 
thời gian sảy rau kéo dài hơn, nguy cơ chảy máu 
sau sảy nhiều và lâu hơn nên trong quá trình theo 
dõi và chăm sóc nhất là sau sảy phải tư vấn kỹ hơn 
để bệnh nhân khỏi lo lắng” Các nghiên cứu trên 
thế giới cũng chỉ ra, phá thai nội khoa thường gây 
chảy máu dài hơn so với phá thai ngoại khoa gây 
khó chịu cho bệnh nhân sau phá thai. [4;5;6]. 
Kết luận chung của hộ sinh khi áp dụng phương 
pháp mới trong phá thai lưu bằng phương pháp 
nội khoa “Chúng tôi mong muốn quy trình điều trị 
này trở thành thường quy vì mang lại nhiều lợi ích, 
an toàn cho người bệnh”
5. Kết luận
- Tỷ lệ bệnh nhân tham gia và được theo dõi
• Tuần thai trung bình 18,4 + 3,8 tuần. 
• Số viên thuốc kích thích chuyển dạ trung bình 
sử dụng là 5,08 + 3,7 viên, 42% bệnh nhân sảy 
thai sau 3-9 giờ theo dõi (1-3 viên).
• 100% bệnh nhân được theo dõi sát và đảm 
bảo đúng đủ quy trình theo dõi được hướng dẫn. 
Hộ sinh đóng vai trò theo dõi chủ yếu trong quá 
trình phá thai nội khoa.
- Đánh giá của hộ sinh về phác đồ mới:
• Thuận lợi: Thời gian theo dõi, chăm sóc được 
rút ngắn. Sử dụng thuốc dễ dàng, thuận lợi (Liều 
dùng cố định theo giờ). Giảm nguy cơ cho BN viêm 
dính buồng tử cung và vòi trứng do không phải can 
thiệp thủ thuật nào hút. Kinh tế, giảm chi phí điều 
trị và giảm quá tải bệnh viện.
• Khó khăn: Tư vấn cho BN sử dụng thuốc khó 
khăn hơn vì BN chưa biết nhiều đến phương pháp 
mới. Thời gian dùng thuốc ngắn hơn nên theo dõi, 
thăm khám nhiều hơn. Thời gian sảy rau kéo dài 
hơn, nguy cơ chảy máu sau sảy nhiều hơn.
Tài liệu tham khảo
1. Cabrol D, Bouvier D’Yvoire M, Mermet E, Cedard L, Sureau C, Baulieu EE. 
Induction of labour with mifepristone after intrauterine fetal death.Lancet. 1985 
Nov 2;2(8462):1019. PubMed PMID: 2865498
2. Bagga R, Chaudhary N, Kalra J. Rupture in an unscarred uterus during 
second trimester pregnancy termination with mifepristone and misoprostol. Int 
J Gynaecol Obstet. 2004 Oct;87(1):42-3.
3. Jannet D, Aflak N, Abankwa A, Carbonne B, Marpeau L, Milliez J. 
Terminationof 2nd and 3rd trimester pregnancies with mifepristone and 
misoprostol. Eur JObstetGynecolReprod Biol. 1996 Dec 27;70(2):159-63. 
PubMed PMID: 9119097.
4. Wagaarachchi PT, Ashok PW, Narvekar NN, Smith NC, Templeton A. Medical 
management of late intrauterine death using a combination of mifepristone and 
misoprostol. BJOG. 2002 Apr;109(4):443-7. PubMed PMID: 12013166.
5. Costa SH, Vessey MP.Misoprostol and illegal abortion in Rio de Janeiro, 
Brazil.Lancet. 1993 May 15;341(8855):1258-61.
6. le Roux PA, Pahal GS, Hoffman L, Nooh R, El-Refaey H, Rodeck 
CH. Secondtrimester termination of pregnancy for fetal anomaly or death: 
comparingmifepristone/misoprostol to gemeprost. Eur J ObstetGynecolReprod 
Biol. 2001Mar;95(1):52-4. PubMed PMID: 11267720
7. Brouns JF, van Wely M, Burger MP, van Wijngaarden WJ. Comparison 
of two dose regimens of misoprostol for second-trimester pregnancy 
termination.Contraception. 2010 Sep; 82 (3): 266 - 75. doi:0.1016/j.
contraception.2010.03.006. Epub 2010 Apr 13. PubMed PMID: 20705156.
8. Nordic Pharmaceuticals. Summary of Product Characteristics: Mifegyne.
 on January 7, 2013. 
9. Ngai SW, Tang OS, Ho PC.Prostaglandins for induction of second-trimester 
termination and intrauterine death. Best Pract Res ClinObstetGynaecol. 2003 
Oct;17(5):765-75.
10. Romero R, Copel JA, Hobbins JC. Intrauterine fetal demise and hemostatic 
failure: the fetal death syndrome. ClinObstet Gynecol. 1985 Mar;28(1):24-31
11. Cabrol D, Dubois C, Cronje H, Gonnet JM, Guillot M, Maria B, Moodley J, 
Oury JF, Thoulon JM, Treisser A, et al. Induction of labor with mifepristone (RU 
486) in intrauterine fetal death. Am J Obstet Gynecol. 1990 Aug;163(2):540-2. 
PubMed PMID: 2201190.
12. Sharma D, Singhal SR, Poonam, Paul A, Kunika. Comparison of 
mifepristone combination with misoprostol and misoprostol alone in the 
management of intrauterine death: condensation - misoprostol and mifepristone 
combination is more effective than misoprostol alone in the management of 
intrauterine death.Taiwan J Obstet Gynecol. 2011 Sep; 50(3):322-5. doi: 
10.1016/j.tjog.2011.07.007.PubMed PMID: 22030047.
13. Väyrynen W, Heikinheimo O, Nuutila M. Misoprostol-only versus 
mifepristone plus misoprostol in induction of labor following intrauterine fetal 
death. ActaObstetGynecol Scand. 2007;86(6):701-5. PubMed PMID: 17520402.

File đính kèm:

  • pdfvai_tro_cua_ho_sinh_trong_theo_doi_cham_soc_benh_nhan_pha_th.pdf