Vai trò của dây chằng nhân tạo trong phẫu thuật sửa van ít xâm lấn điều trị hở van hai lá do thoái hóa

Đặt vấn đề: Hở hai lá do thoái hoá có nguồn gốc từ tổn thương mô liên kết lá van. Phẫu thuật sửa van hai

lá được xem là phương pháp điều trị tiêu chuẩn và có thể thực hiện được qua đường mổ ít xâm lấn.

Mục tiêu: Đánh giá kết quả trung hạn và vai trò của kỹ thuật dây chằng nhân tạo trong phẫu thuật sửa van

hai lá ít xâm lấn.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Bệnh nhân hở van hai lá nặng do thoái hoá được phẫu thuật sửa

van ít xâm lấn tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu loạt ca, dữ liệu hồi cứu.

Kết quả: Từ 1/2018 – 8/2020, 69 bệnh nhân được phẫu thuật. Tuổi trung bình 50,2 tuổi, tỷ lệ nam:nữ

1,9:1. Kỹ thuật chủ yếu là đặt vòng van (100,0%), dây chằng nhân tạo (65,2%), 2 (2,9%) biến chứng SAM. Thời

gian thở máy trung bình 19,6 tiếng, không có trường hợp tử vong, thành công kỹ thuật 92,8%. Tỷ lệ không hở

tái phát sau 3 tháng, 1 năm và 2 nămlần lượt là 97,1%, 92,6% và 92,6%.

pdf 7 trang phuongnguyen 500
Bạn đang xem tài liệu "Vai trò của dây chằng nhân tạo trong phẫu thuật sửa van ít xâm lấn điều trị hở van hai lá do thoái hóa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Vai trò của dây chằng nhân tạo trong phẫu thuật sửa van ít xâm lấn điều trị hở van hai lá do thoái hóa

Vai trò của dây chằng nhân tạo trong phẫu thuật sửa van ít xâm lấn điều trị hở van hai lá do thoái hóa
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 188 
VAI TRÒ CỦA DÂY CHẰNG NHÂN TẠO TRONG PHẪU THUẬT SỬA 
VAN ÍT XÂM LẤN ĐIỀU TRỊ HỞ VAN HAI LÁ DO THOÁI HÓA 
Bùi Đức An Vinh1, Nguyễn Hoàng Định2,3 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Hở hai lá do thoái hoá có nguồn gốc từ tổn thương mô liên kết lá van. Phẫu thuật sửa van hai 
lá được xem là phương pháp điều trị tiêu chuẩn và có thể thực hiện được qua đường mổ ít xâm lấn. 
Mục tiêu: Đánh giá kết quả trung hạn và vai trò của kỹ thuật dây chằng nhân tạo trong phẫu thuật sửa van 
hai lá ít xâm lấn. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Bệnh nhân hở van hai lá nặng do thoái hoá được phẫu thuật sửa 
van ít xâm lấn tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu loạt ca, dữ liệu hồi cứu. 
Kết quả: Từ 1/2018 – 8/2020, 69 bệnh nhân được phẫu thuật. Tuổi trung bình 50,2 tuổi, tỷ lệ nam:nữ 
1,9:1. Kỹ thuật chủ yếu là đặt vòng van (100,0%), dây chằng nhân tạo (65,2%), 2 (2,9%) biến chứng SAM. Thời 
gian thở máy trung bình 19,6 tiếng, không có trường hợp tử vong, thành công kỹ thuật 92,8%. Tỷ lệ không hở 
tái phát sau 3 tháng, 1 năm và 2 nămlần lượt là 97,1%, 92,6% và 92,6%. 
Kết luận: Sửa van hai lá sử dụngdây chằng nhân tạo khả thi và hiệu quả, đặc biệt trong phẫu thuậtít xâm 
lấn. Kỹ thuật dây chằng nhân tạo phù hợp với phẫu thuật viên trong giai đoạn đầu triển khai sửa van hai lá. 
Từ khoá: hở van hai lá thoái hoá, dây chằng nhân tạo, phẫu thuật sửa van hai lá ít xâm lấn 
ABSTRACT 
THE ROLE OF ARTIFICIAL CHORDAE IN MINIMALLY INVASIVE CARDIAC SURGERY 
FOR DEGENERATIVE MITRAL REGURGITATION 
Bui Duc An Vinh, Nguyen Hoang Dinh 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No 1 - 2021: 188 - 194 
Background: Degenerative mitral regurgitation is attributed to connective tissue weakening. Its standard 
therapy, mitral valve plasty, can be applied through minimally invasive approach. 
Objectives: This study aimed at assessing technical features, mid–term outcomes, and the role of artificial 
chordae in minimally invasive mitral repair. 
Method: A retrospective case series of patients who underwent minimally invasive mitral repair at the 
University Medical Center at Ho Chi Minh City. 
Results: from Jan 2018 to Aug 2020, 69 degenerative mitral regurgitation patients were operated with 
minimally invasive approaches. The mean age was 50.2.Male to female ratio was 1.9: 1. The most common 
techniques wereannuloplasty ring implantation (100.0%), artificial chordal replacement (65.2%). 2 cases of 
perioperative SAM were reported. Mean mechanical ventilation time was 19.6 hours. There was no mid–term 
mortality. Technical success was 92.8%. Freedom from recurrent mitral regurgitation was 97.1%, 92.6%, 92.6% 
at 3 months, one year, and 2 years consecutively. 
Conclusions: Iin our experience, mitral repair using artificial chordae appears to be feasible, safe and 
1Khoa Ngoại Lồng ngực – Tim mạch, Bệnh viện Trung Ương Huế 
2Khoa Phẫu thuật Tim mạch Người lớn, Bệnh viện Đại học Y Dược TP. HCM 
3Bộ môn Phẫu thuật Lồng ngực Tim mạch, Đại học Y Dược TP. HCM 
Tác giả liên lạc: ThS. Bùi Đức Anh Vinh ĐT: 0376180991 Email: [email protected] 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 189 
effective, especially applicable to minimally invasive cardiac surgery. Artificial chordal replacement facilitates the 
learning curve in minimally mitral valve repair. 
Keywords: degenerative mitral regurgitation, artificial chordae, minimally invasive mitral repair 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Hở hai lá (HoHL) do bệnh lý thoái hóa van 
tim chiếm tỷ lệ 1 – 2% dân số thế giới, xảy ra do 
các tổn thương mô liên kết lá van hai lá. Phẫu 
thuật sửa van hai lá là phương pháp điều trị tiêu 
chuẩn hiện nay với tỷ lệ sửa thành công hơn 
95%(1). Tại Việt Nam, bệnh lý van hai lá hậu thấp 
đến nay vẫn chiếm vị trí chủ đạo, tuy vậy xu 
hướng bệnh nhân nhập viện điều trị vì bệnh lý 
thoái hóa van hai lá đang ngày càng tăng. Từ 
năm 2013, các trung tâm tim mạch lớn trên cả 
nước đã triển khai phẫu thuật tim ít xân lấn 
trong đó có phẫu thuật sửa van hai lá(2). Nghiên 
cứu nhằm mục đích đánh giá kết quả phẫu thuật 
trung hạn cũng như vai trò của kỹ thuật đặt dây 
chằng nhân tạo trong phẫu thuật ít xâm lấn, 
đóng góp vào y văn trong nước. 
ĐỐI TƯỢNG-PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Các bệnh nhân HoHL nặng do bệnh lý thoái 
hoá được phẫu thuật sửa van ít xâm lấn tại bệnh 
viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh 
trong giai đoạn từ 1/2018 – 8/2020. 
Tiêu chuẩn chọn bệnh 
Bệnh nhân được chẩn đoán HoHL nặng do 
bệnh lý thoái hoá có chỉ định phẫu thuật sửa van 
hai lá theo hướng dẫn điều trị bệnh van của 
Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ, phẫu thuật qua 
đường mở ngực phải ít xâm lấn(1). 
Tiêu chí loại trừ 
Bệnh nhân mắc các bệnh tim mạch khác kèm 
theo có chỉ định phẫu thuật qua đường giữa 
xương ức. Khó thực hiện đường mổ qua ngực 
phải (dị dạng lồng ngực, dính phổi – màng 
phổi), có chống chỉ định tuần hoàn ngoài cơ thể 
(THNCT) đường ngoại biên. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu loạt ca, thu thập dữ liệu hồi cứu. 
Biến số nghiên cứu 
Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng 
Tuổi, giới, chỉ số khối cơ thể (BMI), nguy cơ 
tử vong phẫu thuật theo EuroSCORE II, phân độ 
suy tim theo NYHA, phân độ HoHL theo 
Carpentier, phân suất tống máu thất trái (LVEF). 
Đặc điểm phẫu thuật 
Đặc điểm tổn thương lá van, các kỹ thuật sửa 
van, số vòng van hai lá nhân tạo, thời gian kẹp 
động mạch chủ, thời gian THNCT, ghi nhận các 
biến chứng hậu phẫu. 
Thành công về mặt kỹ thuật khi không xảy ra các biến chứng 
Chuyển thay van hoặc mổ hở, HoHL trước 
khi xuất viện ≥2/4, phẫu thuật lại, bóc tách động 
mạch chủ, tai biến mạch máu não không hồi phục. 
Thời gian theo dõi 
Bệnh nhân được tái khám định kỳ, theo dõi 
đến tháng 8/2020 các đặc điểm về lâm sàng 
(NYHA), siêu âm tim (LVEF). 
Định nghĩa HoHL tái phát(3) 
HoHL trung bình – nặng sau khi xuất viện. 
Xử lý số liệu 
Phần mềm Microsoft Excel 2016, STATA 13. 
Y đức 
Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội 
đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại 
học Y Dược TP.HCM, số 141/ĐHYD-HĐĐĐ, 
ngày 11/4/2020. 
KẾT QUẢ 
69BN được chẩn đoán HoHL nặng do bệnh 
lý thoái hoá được phẫu thuật sửa van ít xâm lấn 
tại bệnh viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh 
với tỷ lệ nam/nữ là 1,9:1. Tuổi trung bình tại thời 
điểm phẫu thuật 50,2 ± 13,6 tuổi. 
Bảng 1:Đặc điểm chung 
Đặc điểm n = 69 
BMI trung bình, kg/m2, (Min – Max) 
22,6 ± 3 
(17,4 – 30,8) 
EuroSCORE II trung bình, %, 0,9 ± 0,4 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 190 
Đặc điểm n = 69 
 (Min – Max) (0,1 – 3) 
Tiền căn rung nhĩ 7 (10,1%) 
NYHA I – II 62 (89,9%) 
NYHA III – IV 7 (10,1%) 
Phân độ hở van theo Carpentier 
Nhóm II 66 (95,7%) 
Phối hợp 3 (4,3%) 
LVEF trung bình, %, (Min – Max) 62,4 ± 6,5 (50 – 78) 
BMI: body mass index, LVEF: left ventricular ejection 
fraction, NYHA: New York heart association 
Bảng 2:Đặc điểm trong phẫu thuật 
Đặc điểm n = 69 
Tổn thương lá trước ± mép van* 10 (14,5%) 
Tổn thương lá sau ± mép van 38 (55,1%) 
Tổn thương cả hai lá ± mép van** 13 (18,8%) 
Tổn thương mép van đơn thuần 3 (4,3%) 
Tổn thương dạng Barlow 9 (13%) 
Giãn vòng van đơn thuần 1 (1,4%) 
Các kỹ thuật sửa van được ứng dụng 
Đặt dây chằng nhân tạo 45 (65,2%) 
Cắt tam giác lá sau 14 (20,3%) 
Khép bờ tự do 5 (7,2%) 
Khép mép van 12 (17,4%) 
Tạo hình trượt lá sau 1 (1,3%) 
Đặt vòng van 69 (100,0%) 
Số vòng van trung bình, mm, 
(Min – Max) 
31,3 ± 2,6 
(26 – 36) 
Các phẫu thuật tim phối hợp 
Đốt cắt rung nhĩ (Cox – Maze) 4 (5,8%) 
Sửa van 3 lá 5 (7,2%) 
Đóng thông liên nhĩ 1 (1,4%) 
Tất cả các tổn thương lá trước sửa bằng dây chằng nhân tạo 
**Sửa tổn thương hai lá van: 46,1% dây chằng nhân tạo, 
38,5% cắt bỏ mô van và 15,4% kỹ thuật khác 
Thời gian kẹp động mạch chủ trung bình 
(phút): 100,1 ± 21,4(63 – 182). 
Thời gian THNCT trung bình (phút): 158 ± 
29,5(95 – 246). 
Bảng 3:Đặc điểm hậu phẫu 
Đặc điểm hậu phẫu n = 69 
Thời gian thở máy trung bình, giờ, (Min – 
Max) 
19,6 ± 7,7 
(9,8 – 48) 
Thở máy kéo dài > 24 giờ 15 (21,7%) 
Biến chứng SAM 2 (2,9%) 
Nhiễm trùng 6 (8,7%) 
Loạn thần, kích thích 17 (24,6%) 
Rung nhĩ mới mắc 7 (10,1%) 
Nhồi máu cơ tim 1 (1,4%) 
Suy thận cấp 1 (1,4%) 
Block nhĩ thất cấp III 2 (2,9%) 
Phẫu thuật lại nguyên nhân van hai lá 0 (0,0%) 
Phẫu thuật lại nguyên nhân khác 5 (7,2%) 
Thành công về mặt kỹ thuật 64 (92,8%) 
Tử vong 0 (0,0%) 
SAM: systolic anterior motion 
Hình 1: Biểu đồ Kaplan–Meier tỷ lệ không tái phát 
theo thời gian 
Tỷ lệ không hở tái phát sau 3 tháng, 1 năm 
và 2 năm lần lượt là 97,1%, 92,6 % và 92,6%. 
Bảng 4: Quá trình theo dõi 
 Ra viện (n = 69) 3 tháng (n = 69) 6 tháng (n = 45) 1 năm (n = 26) 2 năm (n = 10) 
Tỉ lệ khám 100,0% 100,0% 65,2% 37,7% 14,5% 
NYHA I – II 94,2% 98,6% 100,0% 100,0% 100,0% 
LVEF trung bình 56,7 ± 8,9 59,1 ± 7,8 58,8 ± 5,3 59 ± 4,7 59,5 ± 3,3 
LVEF: left ventricular ejection fraction, NYHA: New York heart association 
BÀN LUẬN 
Thời điểm phẫu thuật thích hợp 
Phần lớn bệnh nhân trong nghiên cứu của 
chúng tôi chưa biểu hiện suy tim nặng nề với 
89,9% trường hợp NYHA giai đoạn I – II, LVEF 
trung bình 62,4 ± 6,5% và nguy cơ phẫu thuật 
theo EuroSCORE II thấp (0,9 ± 0,4%). HoHL mãn 
tính khi đã diễn tiến sang giai đoạn thất trái mất 
bù khiến thất trái giãn dần và tăng sức ép lên 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 191 
thành tim, càng làm tăng thêm mức độ hở, trở 
thành một vòng xoắn bệnh lý, tiếp tục gây giảm 
chức năng thất trái(1). Khi các triệu chứng cơ 
năng đã rõ ràng hơn thì chức năng thất trái đã 
khó có thể hồi phục được, lúc này nếu HoHL 
không được điều trị sẽ nhanh chóng diễn tiến 
phù phổi cấp và suy tim sung huyết. Chính sự 
quá tải về thể tích và dòng máu phụt ngược làm 
giảm áp lực trong buồng tim, dẫn đến siêu âm 
tim khó đánh giá được chức năng tâm thu thất 
trái một cách chính xác. Một khi LVEF giảm còn 
40 – 50% là đã suy tim nhiều, LVEF <35% nguy 
cơ phẫu thuật rất cao. Rối loạn chức năng tâm 
thu là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu sau 
phẫu thuật van hai lá, nguyên nhân đến từ chỉ 
định phẫu thuật muộn và đánh giá chức năng 
thất trái “bình thường giả” trong HoHL nặng. 
Suri RM(4) nghiên cứu về những trường hợp 
HoHL do sa lá van được chỉ định phẫu thuật sửa 
van sớm trước khi bệnh nhân có triệu chứng, 
giãn buồng thất trái và giảm chức năng tâm thu 
(LVEF>65%) cho thấy kết quả phẫu thuật tối ưu 
hơn so với trì hoãn chỉ định phẫu thuật muộn 
hơn. Theo hướng dẫn điều trị bệnh lý van tim 
năm 2014 của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ cập 
nhật năm 2017(1), phẫu thuật sửa van hai lá lý 
tưởng đối với những trường hợp bệnh nhân 
chưa biểu hiện triệu chứng, có chức năng thất 
trái bảo tồn (LVEF >60% và đường kính thất trái 
cuối kỳ tâm thu <40 mm) và được thực hiện tại 
một Trung tâm Phẫu thuật Van tim nhiều kinh 
nghiệm có tỉ lệ sửa van thành công >95% và tỉ lệ 
tử vong <1%. 
Các kỹ thuật sửa van được lựa chọn 
Có 3 nguyên tắc được xem nền tảng trong 
phẫu thuật sửa van hai lá do Carpentier đề 
xuất(5): bảo tồn hoặc khôi phục sự di động các lá 
van; diện áp lá van cần tạo hình đủ lớn; vòng 
van cần được cố định. Dựa vào các nguyên tắc 
trên, đến nay có rất nhiều kỹ thuật sửa van hai lá 
được đề xuất và ứng dụng. Trung tâm phẫu 
thuật Cleveland Clinic – Hoa Kỳ nhận định các 
kỹ thuật sửa van hai lá như sử dụng vòng van 
nhân tạo, cắt bỏ mô van, tạo hình trượt, dây 
chằng nhân tạo (DCNT), khép bờ tự do có thể 
sửa chữa được đến 95% trường hợp HoHL(6). 
Đối với bệnh lý thoái hoá van hai lá, bên 
cạnh các tổn thương đứt, giãn dây chằng treo 
van, tổn thương giãn vòng van hai lá phối hợp 
cũng thường gặp. Tất cả các trường hợp (100%) 
trong nghiên cứu của chúng tôi đều ghi nhận 
giãn vòng van và được đặt vòng van nhân tạo, 
đường kính vòng van trung bình 31,3 ± 2,6 mm. 
Thay thế một hoặc nhiều DCNT là kỹ thuật 
chính được chúng tôi sử dụng trong phần lớn 
các trường hợp – 65,2%, theo sau là 20,3% trường 
hợp áp dụng kỹ thuật cắt lá van theo hình tam 
giác với tổn thương ở lá sau van hai lá. 
Kỹ thuật sử dụng dây chằng nhân tạo 
Trước đây, đối với tổn thương HoHL nhóm 
II do thoái hoá mô van, Carpentier đề xuất kỹ 
thuật sửa van bằng cách cắt lá van theo hình tứ 
giác đối với lá sau, cắt hạn chế theo hình tam 
giác hoặc chuyển vị dây chằng thứ cấp đối với sa 
lá trước van hai lá(7). Từ những năm 90 của thế 
kỷ trước, chất liệu Polytetrafluoroethylene được 
nghiên cứu và ứng dụng thành công để thay thế 
cho dây chằng treo van, kể từ đó kỹ thuật sử 
dụng DCNT được ứng dụng rộng rãi trong phẫu 
thuật sửa van hai lá, ở cả đối tượng bệnh nhân 
trẻ em và người lớn với kết quả lâu dài tốt(5). 
David và cộng sự(8) nhận định rằng DCNT có 
thể giúp sửa chữa 95% các tổn thương thoái hoá 
van hai lá gây sa lá sau hoặc sa cả hai lá van. 
Bởi vai trò quan trọng của lá trước van hai 
lá trong hoạt động chức năng của bộ máy van, 
nguyên tắc sửa hiện nay lá là ưu tiên bảo tồn 
mô lá trước, hạn chế cắt bỏ, hoặc cắt tam giác 
hạn chế lá trước không quá 10% diện tích(5). 
Tất cả các trường hợp hở van do tổn thương lá 
trước (14,5%) đều được chúng tôi sử dụng 
DNCT, không có trường hợp nào cắt bỏ hay 
cắt hạn chế mô van, tương tự như các tác giả 
khác trên thế giới(8,9). Mặt khác, tổn thương sa 
cả 2 lá van được đánh giá là khó khăn để sửa 
thành công nhất. Nhiều công bố từ các trung 
tâm phẫu thuật tim trên thế giới đều ghi nhận 
tỉ lệ sửa van thành công giảm đối với sa cả 2 lá 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 192 
van, so với sa lá sau van hai lá(10). Theo 
Carpentier A(5) cần phối hợp sử dụng các kỹ 
thuật đã được ứng dụng đối với sửa chữa các 
tổn thương sa lá trước, lá sau và mép van hai 
lá để có thể sửa thành công sa 2 lá van. Tác giả 
Castillo JG(10) đề xuất quy trình tiếp cận: bước 
đầu tiên là sửa sa lá van sau một cách tốt nhất 
có thể, sau đó đặt vòng van nhân tạo và bơm 
nước muối vào buồng thất trái để đánh giá 
tình trạng hở van. Lúc này, phần lớn các tổn 
thương có thể được đánh giá đầy đủ ngay cả 
đối với tổn thương van phức tạp nhất và các 
kỹ thuật sửa van có thể được sử dụng bao gồm 
DCNT, chuyển vị dây chằng, khép mép van, 
khép bờ tự do để có thể sửa van hiệu quả(10). 
Trong 13 trường hợp sa hai lá van của chúng 
tôi, tương tự chúng tôi cũng ứng dụng nhiều 
kỹ thuật thực hiện trên cả hai lá van bao gồm 
46,1% sử dụng DCNT, 38,5% cắt bỏ mô van và 
15,4% các kỹ thuật khác (khép mép van, khép 
bờ tự do). 
Kể từ khi bắt đầu triển khai phẫu thuật sửa 
van hai lá năm 2014, đến thời điểm thực hiện 
nghiên cứu này, nhóm phẫu thuật đã vượt qua 
đường cong đào tạo sửa van hai lá ít xâm lấn. 
Trong số các kỹ thuật sửa van hai lá ít xâm lấn 
đã được ứng dụng, chúng tôi nhận định rằng kỹ 
thuật DCNT có thể thực hiện tốt, thuận tiện 
trong phẫu trường nhỏ, tránh được việc phải cắt 
bỏ mô van qua đó dùng được vòng van nhân tạo 
số lớn hơn, cải thiện được diện áp giữa hai lá 
van. Sử dụng DCNT tỏ ra ưu thế hơn so với 
phương pháp cắt mô van trong trường hợp tổn 
thương sa phức tạp, cần phải cắt nhiều ≥1/3 diện 
tích lá van, vôi hoá vòng van hay bản chất mô 
van mỏng manh. Nguyên lý của kỹ thuật DNCT 
phù hợp với giải phẫu bộ máy van hai lá, đủ 
đơn giản mà vẫn hiệu quả, phù hợp để truyền 
đạt và chuyển giao kỹ thuật cho các phẫu thuật 
viên tim giai đoạn đầu học tập và triển khai sửa 
van hai lá nói chung và ứng dụng trong phẫu 
thuật tim xâm lấn tối thiểu nói riêng, với khả 
năng sửa thành công cao. Khi so sánh với kỹ 
thuật cắt bỏ mô van, các tác giả trên thế giới 
cũng nhận định kỹ thuật DCNT hiệu quả trong 
sửa van hai lá, đơn giản và đặc biệt phù hợp 
trong phẫu thuật ít xâm lấn với kết quả tương 
đương(11). David TE(8) tổng kết 25 năm kinh 
nghiệm trong sửa van hai lá bằng DCNT, theo 
dõi trong 18 năm cho kết quả tỷ lệ không mổ lại 
là 90,2 ± 2,4%, tỷ lệ không HoHL tái phát là 91,0 
± 2,7% và kết luận rằng sửa van hai lá bằng 
DCNT đem lại kết quả tốt trong dài hạn. 
Khó khăn của kỹ thuật DCNT chủ yếu trong 
việc xác định chiều dài DCNT vừa đủ, nếu dài 
quá van vẫn còn bị sa, gây hở van, nếu ngắn quá 
làm van bị kéo xuống dưới, biến HoHL từ nhóm 
II thành nhóm III. Báo cáo mới đây của Moore 
R(12) bàn luận về 2 trường hợp thất bại sớm (dưới 
1 năm) sau sửa van hai lá bằng DCNT. Theo tác 
giả, ở những trường hợp suy giảm chức năng và 
giãn thất trái, sau sửa van xảy ra sự tái cấu trúc 
thất trái làm giảm trở lại kích thước thất trái. 
Điều này ảnh hưởng kết quả phẫu thuật, gây sa 
trở lại lá van do chiều dài DCNT trở nên dài hơn 
so với thất trái. Moore đề xuất cần chọn chiều 
dài DCNT ngắn hơn hoặc cắt bỏ mô van đối với 
HoHL có giãn thất trái khả năng tái cấu trúc cơ 
tim sau phẫu thuật(12). 
Kỹ thuật DCNT đóng góp cực kỳ quan trọng 
vào kho tàng các kỹ thuật sửa van hai lá, sau thời 
kỳ các kỹ thuật sửa van theo“trường phái Pháp” 
mà Carpentier A là đại diện tiêu biểu, là khởi 
nguồn cho quan điểm “ưu tiên bảo tồn, hạn chế 
cắt bỏ”do Perier P đề xuất lần đầu tiên năm 
2005(5,13). Quan điểm bao gồm ưu tiên tái sắp xếp 
lại mô van hai lá thay vì cắt bỏ mô van nhằm giữ 
được sự liên kết giữa các cấu trúc của hệ thống 
van hai lá, bảo tồn được diện áp. 
Kết quả phẫu thuật 
Có 2 (2,9%) trường hợp siêu âm tim thực 
quản trong quá trình phẫu thuật ghi nhận biến 
chứng SAM (Systolic Anterior Motion): xảy ra 
do sự di chuyển của lá trước van hai lá ra phía 
trước trong kỳ tâm thu, gây tình trạng HoHL và 
hẹp đường ra thất trái. SAM sau phẫu thuật 
thường gặp 10% sau phẫu thuật sửa van hai lá, 
chủ yếu do mô van lá sau còn nhiều và kích 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25
Chuyên Đề Ngoại Khoa 
thước vòng van nhỏ, góc giữa mặt ph
van hai lá và vòng van động mạch ch
Bảng 5: Các trường hợp biến chứng SAM trong nghiên c
Mô tả tổn thương 
BN1 Sa P2, P3 do đứt dây chằng 
C
BN2 Sa P2 do đứt dây chằng 
1 DCNT d
Khép P1
DCNT: dây chằng nhân tạo SAM: systolic anterior motion
Chúng tôi gặp 2 trường hợp (2,9%) có bi
chứng SAM nhẹsau khi hoàn tất sử
tim đập lại và ngưng tạm thời THNCT đ
kiểm tra bằng siêu âm tim qua thực qu
5). Đểxử trí cáctình huống này, chúng tôi chưa
cho liệt tim và khởi động THNCT tr
sửa van ngay. Ban đầu chúng tôi ngưng dùng 
inotrope khi điều kiện huyết động cho phép, 
theo sau đó chúng tôi sử dụng chẹn kênh bê
(liều 1 mg/kg) làm giảm tần số tim, bù d
ngưng lợi tiểu. Sau một thời gian theo dõi trên 
siêu âm tim thực quản, tất cả các trư
đều hết SAM và có thể tiếp tục gi
THNCT cũng như đóng ngực hoàn t
Hình 
Về các biến chứng hậu phẫu, có 
trường hợp được chúng tôi ghi nhậ
chứng liên quan đến rối loạn tinh thầ
thuật. Các quan điểm hiện nay cho r
gia tăng tỷ lệ biến chứng thần kinh trong ph
thuật ít xâm lấn, nhiều yếu tố có liên quan như 
dòng THNCT ngược, đuổi khí buồng tim khó 
khăn(15). Tỷ lệ rung nhĩ mới mắc sau m
chúng tôi là 10,1% thấp hơn so với Miceli
15%. Tỷ lệ rung nhĩ mới mắc sau phẫ
 * Số 1 * 2021 Nghiên c
ẳng vòng 
ủ nhỏ, thất 
trái nhỏ và tăng động, cấu trúc b
trước(5). 
ứu 
Kỹ thuật sửa van Siêu âm tim qua th
ắt hình tam giác phần sa P2 
Khép P3, đặt vòng van 28 
SAM nhẹ, không gây h
trái
ạng loop số 20 tại P2 
–P2, đặt vòng van 30 
SAM nhẹ, tim co bóp t
ến 
a van, cho 
ể 
ản(Bảng 
ở lại để 
–ta 
ịch và 
ờng hợp 
ảm ngưng 
ất cuộc 
phẫu thuật. Theo Alfieri O(14)
trường hợp SAM sẽ giảm sau khi ngưng 
inotrope và bù dịch, 80% các trư
giảm sau khi tần số tim giả
gánh, chỉ một số ít trường hợp SAM n
bại điều trị nội khoa, cần phả
Bên cạnh đó, trong quá trình h
nhân được duy trì huyết áp trung bình 
cao 75 – 90 mmHg, tiếp tục dùng ch
tuyệt đối không dùng lợi tiểu. T
xuất viện và các lần tái khám b
chúng tôi không còn ghi nhậ
âm tim. Thái độ xử trí SAM đư
Hình 2(14): 
2: Thái độ xử trí biến chứng SAM(14) 
24,6% 
n các biến 
n sau phẫu 
ằng có sự 
ẫu 
ổ của 
 A(9) là 
u thuật tim 
ít xâm lấn thấp hơn đáng kể so v
truyền thống do tình trạng giảm ph
ứng viêm hệ thống (đường m
chế tổn thương rộng) và giảm tác đ
lên nhĩ phải(16). Đánh giá thành công v
thuật phẫu thuật, 65 trường h
chúng tôi đánh giá là thành công theo các tiêu 
chí đã đặt ra, không có trường h
trong thời gian điều trị cũng nh
theo dõi. Tỷ lệ thành công về 
ứu Y học
193 
ất thường của lá 
ực quản 
ẹp đường thoát thất 
ốt 
, khoảng 1/3 các 
ờng hợp sẽ 
m và tăng tiền 
ặng thất 
i phẫu thuật lại. 
ậu phẫu bệnh 
ở mức 
ẹn bê–ta và 
ại thời điểm 
ệnh nhân, 
n SAM trên siêu 
ợc tóm tắt như 
ới phẫu thuật 
ản ứng đám 
ổ ít xâm lấn hạn 
ộng cơ học 
ề mặt kỹ 
ợp (92,8%) được 
ợp nào tử vong 
ư trong quá trình 
mặt kỹ thuật của 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 194 
chúng tôi ở mức cao, tương tự các tác giả khác 
như Miceli A(9) (95,3%). 
Quá trình theo dõi 
Quá trình theo dõi bệnh nhân, có 26 trường 
hợp (14,5%) được chúng tôi theo dõi đủ 2 năm 
tính từ ngày bệnh nhân xuất viện. Có 10 trường 
hợp chúng tôi không liên lạc được, còn lại là các 
trường hợp chưa đủ thời gian tái khám. Tỉ lệ 
bệnh nhân tái khám suy tim NYHA ở giai đoạn I 
– II tăng dần theo thời gian, đến thời điểm tái 
khám sau 6 tháng đạt tỉ lệ 100%. Theo dõi chức 
năng thất trái trong nghiên cứu của chúng tôi có 
sự thay đổi chỉ số từ 62,4 ± 6,5% khi trước phẫu 
thuật, giảm nhẹ xuống 56,7 ± 8,9% tại thời điểm 
xuất viện và cải thiện dần cho đến 59,5 ± 3,3% 
sau 2 năm theo dõi. Kết quả của Suri RM(4) cũng 
cho thấy điều tương tự khi LVEF giảm từ 62% 
xuống 53% ngay sau phẫu thuật (bao gồm cả sửa 
và thay van hai lá) và tăng dần cho đến 57% 
trong 3 – 5 năm theo dõi(4). Tỷ lệ không tái phát 
trong nghiên cứu của chúng tôi sau 3 tháng, 1 
năm và 2 năm lần lượt là 97,1%, 92,6% và 92,6%. 
David và cộng sự(8) theo dõi đến 18 năm các 
trường hợp sửa van bằng DCNT, tỉ lệ không hở 
trung bình – nặng tái phát sau 1 năm là 98,5%, 
sau 10 và 18 năm lần lượt là 87,8% và 67,5%. 
KẾT LUẬN 
Phẫu thuật sửa van hai lá thoái hoá ít xâm 
lấn là phương pháp hiệu quả với tỉ lệ sửa van 
thành công trong nghiên cứu của chúng tôi là 
92,8%, đem lại kết quả ngắn và trung hạn tốt với 
tỉ lệ không hở tái phát 92,6%. Kỹ thuật sử dụng 
dây chằng nhân tạo có tính khả thi và hiệu quả 
đặc biệt trong phẫu thuật ít xâm lấn, phù hợp 
cho các phẫu thuật viên tim trong giai đoạn đầu 
học tập và triển khai sửa van hai lá. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Nishimura RA, Otto CM, Bonow RO, et al (2017). 2017 
AHA/ACC Focused Update of the 2014 AHA/ACC Guideline 
for the Management of Patients With Valvular Heart Disease: 
A Report of the American College of Cardiology/American 
Heart Association Task Force on Clinical Practice Guidelines. 
Circulation, 135(25):1159-1195. 
2. Nguyễn Công Hựu, Phan Thảo Nguyên, Đỗ Anh Tiến, và cs 
(2014). Phẫu thuật tim hở ít xâm lấn với nội soi hỗ trợ tại Trung 
tâm tim mạch Bệnh viện E: những kinh nghiệm ban đầu qua 
63 BN phẫu thuật. tim mạch và lồng ngực Việt Nam, 7:24-28. 
3. Chikwe J, Cooke DT, Weiss A (2013). Valve disease. In: Chikwe 
J, Cooke DT, Weiss A. Oxford specialist handbook of 
Cardiothoracic Surgery, 2nd ed, pp.363-422. Oxford University 
Press, Oxford. 
4. Suri RM, Schaff HV, Dearani JA, et al (2009). Recovery of left 
ventricular function after surgical correction of mitral 
regurgitation caused by leaflet prolapse. J Thorac Cardiovasc 
Surg, 137(5):1071-1076. 
5. Carpentier A, Adams DH, Filsoufi F, Williams M (2010). Mitral 
valve reconstruction. In: Carpentier A, Adams DH, Filsoufi F. 
Carpentier's reconstructive valve surgery from valve analysis 
to valve reconstruction, 1st ed, pp.25-171. Saunders Elsevier, 
Missouri, MI. 
6. Hodges K, Mick S, Wierup P, Burns DJP, Gillinov AM (2019). 
Mitral Valve Repair: Five Techniques for 95% Repair. 
CTSnet.Org,doi:10.25373/ctsnet.9275057 
7. Jouan J (2015). Mitral valve repair over five decades. Ann 
Cardiothorac Surg, 4(4):322-334. 
8. David TE, Armstrong S, Ivanov J (2013). Chordal replacement 
with polytetrafluoroethylene sutures for mitral valve repair: a 
25-year experience. J Thorac Cardiovasc Surg, 145(6):1563-1569. 
9. Miceli A, Murzi M, Canarutto D, et al (2015). Minimally 
invasive mitral valve repair through right minithoracotomy in 
the setting of degenerative mitral regurgitation: early outcomes 
and long-term follow-up. Ann Cardiothorac Surg, 4(5):422-427. 
10. Castillo JG, Anyanwu AC, El-Eshmawi A, Adams DH (2014). 
All anterior and bileaflet mitral valve prolapses are repairable 
in the modern era of reconstructive surgery. Eur J Cardiothorac 
Surg, 45(1):139-145. 
11. Seeburger J, Falk V, Borger MA, et al (2009). Chordae 
replacement versus resection for repair of isolated posterior 
mitral leaflet prolapse: a egalite. Ann Thorac Surg, 87(6):1715-
1720. 
12. Moore R, Wierup P, Gillinov AM (2020). Early Failure after 
Non-resectional Mitral Valve repair with Articial Chordae. J 
Card Surg, 35(9):2432-2435. 
13. Perier P (2005). A New Paradigm for the Repair of Posterior 
Leaflet Prolapse: Respect Rather Than Resect. Oper Tech Thorac 
Cardiovasc Surg, 10(3):180-193. 
14. Alfieri O, Lapenna E (2015). Systolic anterior motion after 
mitral valve repair: where do we stand in 2015?Eur J 
Cardiothorac Surg, 48(3):344-346. 
15. Daniel P, José LP (2017). Contemporary results in minimally 
invasive mitral valve surgery. In: Hunaid AV, Marco S. 
Minimally invasive mitral valve surgery, 1st ed, pp.313-232. 
Nova Biomedical, New York, NY. 
16. Suri RM, Schaff HV, Meyer SR, Hargrove WC (2009). 
Thoracoscopic versus open mitral valve repair: a propensity 
score analysis of early outcomes. Ann Thorac Surg, 88(4):1185-
1190. 
Ngày nhận bài báo: 12/12/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 13/01/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021 

File đính kèm:

  • pdfvai_tro_cua_day_chang_nhan_tao_trong_phau_thuat_sua_van_it_x.pdf