Vai trò của dây chằng nhân tạo trong phẫu thuật sửa van ít xâm lấn điều trị hở van hai lá do thoái hóa
Đặt vấn đề: Hở hai lá do thoái hoá có nguồn gốc từ tổn thương mô liên kết lá van. Phẫu thuật sửa van hai
lá được xem là phương pháp điều trị tiêu chuẩn và có thể thực hiện được qua đường mổ ít xâm lấn.
Mục tiêu: Đánh giá kết quả trung hạn và vai trò của kỹ thuật dây chằng nhân tạo trong phẫu thuật sửa van
hai lá ít xâm lấn.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Bệnh nhân hở van hai lá nặng do thoái hoá được phẫu thuật sửa
van ít xâm lấn tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu loạt ca, dữ liệu hồi cứu.
Kết quả: Từ 1/2018 – 8/2020, 69 bệnh nhân được phẫu thuật. Tuổi trung bình 50,2 tuổi, tỷ lệ nam:nữ
1,9:1. Kỹ thuật chủ yếu là đặt vòng van (100,0%), dây chằng nhân tạo (65,2%), 2 (2,9%) biến chứng SAM. Thời
gian thở máy trung bình 19,6 tiếng, không có trường hợp tử vong, thành công kỹ thuật 92,8%. Tỷ lệ không hở
tái phát sau 3 tháng, 1 năm và 2 nămlần lượt là 97,1%, 92,6% và 92,6%.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Vai trò của dây chằng nhân tạo trong phẫu thuật sửa van ít xâm lấn điều trị hở van hai lá do thoái hóa
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Ngoại Khoa 188 VAI TRÒ CỦA DÂY CHẰNG NHÂN TẠO TRONG PHẪU THUẬT SỬA VAN ÍT XÂM LẤN ĐIỀU TRỊ HỞ VAN HAI LÁ DO THOÁI HÓA Bùi Đức An Vinh1, Nguyễn Hoàng Định2,3 TÓM TẮT Đặt vấn đề: Hở hai lá do thoái hoá có nguồn gốc từ tổn thương mô liên kết lá van. Phẫu thuật sửa van hai lá được xem là phương pháp điều trị tiêu chuẩn và có thể thực hiện được qua đường mổ ít xâm lấn. Mục tiêu: Đánh giá kết quả trung hạn và vai trò của kỹ thuật dây chằng nhân tạo trong phẫu thuật sửa van hai lá ít xâm lấn. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Bệnh nhân hở van hai lá nặng do thoái hoá được phẫu thuật sửa van ít xâm lấn tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu loạt ca, dữ liệu hồi cứu. Kết quả: Từ 1/2018 – 8/2020, 69 bệnh nhân được phẫu thuật. Tuổi trung bình 50,2 tuổi, tỷ lệ nam:nữ 1,9:1. Kỹ thuật chủ yếu là đặt vòng van (100,0%), dây chằng nhân tạo (65,2%), 2 (2,9%) biến chứng SAM. Thời gian thở máy trung bình 19,6 tiếng, không có trường hợp tử vong, thành công kỹ thuật 92,8%. Tỷ lệ không hở tái phát sau 3 tháng, 1 năm và 2 nămlần lượt là 97,1%, 92,6% và 92,6%. Kết luận: Sửa van hai lá sử dụngdây chằng nhân tạo khả thi và hiệu quả, đặc biệt trong phẫu thuậtít xâm lấn. Kỹ thuật dây chằng nhân tạo phù hợp với phẫu thuật viên trong giai đoạn đầu triển khai sửa van hai lá. Từ khoá: hở van hai lá thoái hoá, dây chằng nhân tạo, phẫu thuật sửa van hai lá ít xâm lấn ABSTRACT THE ROLE OF ARTIFICIAL CHORDAE IN MINIMALLY INVASIVE CARDIAC SURGERY FOR DEGENERATIVE MITRAL REGURGITATION Bui Duc An Vinh, Nguyen Hoang Dinh * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No 1 - 2021: 188 - 194 Background: Degenerative mitral regurgitation is attributed to connective tissue weakening. Its standard therapy, mitral valve plasty, can be applied through minimally invasive approach. Objectives: This study aimed at assessing technical features, mid–term outcomes, and the role of artificial chordae in minimally invasive mitral repair. Method: A retrospective case series of patients who underwent minimally invasive mitral repair at the University Medical Center at Ho Chi Minh City. Results: from Jan 2018 to Aug 2020, 69 degenerative mitral regurgitation patients were operated with minimally invasive approaches. The mean age was 50.2.Male to female ratio was 1.9: 1. The most common techniques wereannuloplasty ring implantation (100.0%), artificial chordal replacement (65.2%). 2 cases of perioperative SAM were reported. Mean mechanical ventilation time was 19.6 hours. There was no mid–term mortality. Technical success was 92.8%. Freedom from recurrent mitral regurgitation was 97.1%, 92.6%, 92.6% at 3 months, one year, and 2 years consecutively. Conclusions: Iin our experience, mitral repair using artificial chordae appears to be feasible, safe and 1Khoa Ngoại Lồng ngực – Tim mạch, Bệnh viện Trung Ương Huế 2Khoa Phẫu thuật Tim mạch Người lớn, Bệnh viện Đại học Y Dược TP. HCM 3Bộ môn Phẫu thuật Lồng ngực Tim mạch, Đại học Y Dược TP. HCM Tác giả liên lạc: ThS. Bùi Đức Anh Vinh ĐT: 0376180991 Email: [email protected] Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Ngoại Khoa 189 effective, especially applicable to minimally invasive cardiac surgery. Artificial chordal replacement facilitates the learning curve in minimally mitral valve repair. Keywords: degenerative mitral regurgitation, artificial chordae, minimally invasive mitral repair ĐẶT VẤN ĐỀ Hở hai lá (HoHL) do bệnh lý thoái hóa van tim chiếm tỷ lệ 1 – 2% dân số thế giới, xảy ra do các tổn thương mô liên kết lá van hai lá. Phẫu thuật sửa van hai lá là phương pháp điều trị tiêu chuẩn hiện nay với tỷ lệ sửa thành công hơn 95%(1). Tại Việt Nam, bệnh lý van hai lá hậu thấp đến nay vẫn chiếm vị trí chủ đạo, tuy vậy xu hướng bệnh nhân nhập viện điều trị vì bệnh lý thoái hóa van hai lá đang ngày càng tăng. Từ năm 2013, các trung tâm tim mạch lớn trên cả nước đã triển khai phẫu thuật tim ít xân lấn trong đó có phẫu thuật sửa van hai lá(2). Nghiên cứu nhằm mục đích đánh giá kết quả phẫu thuật trung hạn cũng như vai trò của kỹ thuật đặt dây chằng nhân tạo trong phẫu thuật ít xâm lấn, đóng góp vào y văn trong nước. ĐỐI TƯỢNG-PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu Các bệnh nhân HoHL nặng do bệnh lý thoái hoá được phẫu thuật sửa van ít xâm lấn tại bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ 1/2018 – 8/2020. Tiêu chuẩn chọn bệnh Bệnh nhân được chẩn đoán HoHL nặng do bệnh lý thoái hoá có chỉ định phẫu thuật sửa van hai lá theo hướng dẫn điều trị bệnh van của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ, phẫu thuật qua đường mở ngực phải ít xâm lấn(1). Tiêu chí loại trừ Bệnh nhân mắc các bệnh tim mạch khác kèm theo có chỉ định phẫu thuật qua đường giữa xương ức. Khó thực hiện đường mổ qua ngực phải (dị dạng lồng ngực, dính phổi – màng phổi), có chống chỉ định tuần hoàn ngoài cơ thể (THNCT) đường ngoại biên. Phương pháp nghiên cứu Thiết kế nghiên cứu Nghiên cứu loạt ca, thu thập dữ liệu hồi cứu. Biến số nghiên cứu Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng Tuổi, giới, chỉ số khối cơ thể (BMI), nguy cơ tử vong phẫu thuật theo EuroSCORE II, phân độ suy tim theo NYHA, phân độ HoHL theo Carpentier, phân suất tống máu thất trái (LVEF). Đặc điểm phẫu thuật Đặc điểm tổn thương lá van, các kỹ thuật sửa van, số vòng van hai lá nhân tạo, thời gian kẹp động mạch chủ, thời gian THNCT, ghi nhận các biến chứng hậu phẫu. Thành công về mặt kỹ thuật khi không xảy ra các biến chứng Chuyển thay van hoặc mổ hở, HoHL trước khi xuất viện ≥2/4, phẫu thuật lại, bóc tách động mạch chủ, tai biến mạch máu não không hồi phục. Thời gian theo dõi Bệnh nhân được tái khám định kỳ, theo dõi đến tháng 8/2020 các đặc điểm về lâm sàng (NYHA), siêu âm tim (LVEF). Định nghĩa HoHL tái phát(3) HoHL trung bình – nặng sau khi xuất viện. Xử lý số liệu Phần mềm Microsoft Excel 2016, STATA 13. Y đức Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại học Y Dược TP.HCM, số 141/ĐHYD-HĐĐĐ, ngày 11/4/2020. KẾT QUẢ 69BN được chẩn đoán HoHL nặng do bệnh lý thoái hoá được phẫu thuật sửa van ít xâm lấn tại bệnh viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh với tỷ lệ nam/nữ là 1,9:1. Tuổi trung bình tại thời điểm phẫu thuật 50,2 ± 13,6 tuổi. Bảng 1:Đặc điểm chung Đặc điểm n = 69 BMI trung bình, kg/m2, (Min – Max) 22,6 ± 3 (17,4 – 30,8) EuroSCORE II trung bình, %, 0,9 ± 0,4 Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Ngoại Khoa 190 Đặc điểm n = 69 (Min – Max) (0,1 – 3) Tiền căn rung nhĩ 7 (10,1%) NYHA I – II 62 (89,9%) NYHA III – IV 7 (10,1%) Phân độ hở van theo Carpentier Nhóm II 66 (95,7%) Phối hợp 3 (4,3%) LVEF trung bình, %, (Min – Max) 62,4 ± 6,5 (50 – 78) BMI: body mass index, LVEF: left ventricular ejection fraction, NYHA: New York heart association Bảng 2:Đặc điểm trong phẫu thuật Đặc điểm n = 69 Tổn thương lá trước ± mép van* 10 (14,5%) Tổn thương lá sau ± mép van 38 (55,1%) Tổn thương cả hai lá ± mép van** 13 (18,8%) Tổn thương mép van đơn thuần 3 (4,3%) Tổn thương dạng Barlow 9 (13%) Giãn vòng van đơn thuần 1 (1,4%) Các kỹ thuật sửa van được ứng dụng Đặt dây chằng nhân tạo 45 (65,2%) Cắt tam giác lá sau 14 (20,3%) Khép bờ tự do 5 (7,2%) Khép mép van 12 (17,4%) Tạo hình trượt lá sau 1 (1,3%) Đặt vòng van 69 (100,0%) Số vòng van trung bình, mm, (Min – Max) 31,3 ± 2,6 (26 – 36) Các phẫu thuật tim phối hợp Đốt cắt rung nhĩ (Cox – Maze) 4 (5,8%) Sửa van 3 lá 5 (7,2%) Đóng thông liên nhĩ 1 (1,4%) Tất cả các tổn thương lá trước sửa bằng dây chằng nhân tạo **Sửa tổn thương hai lá van: 46,1% dây chằng nhân tạo, 38,5% cắt bỏ mô van và 15,4% kỹ thuật khác Thời gian kẹp động mạch chủ trung bình (phút): 100,1 ± 21,4(63 – 182). Thời gian THNCT trung bình (phút): 158 ± 29,5(95 – 246). Bảng 3:Đặc điểm hậu phẫu Đặc điểm hậu phẫu n = 69 Thời gian thở máy trung bình, giờ, (Min – Max) 19,6 ± 7,7 (9,8 – 48) Thở máy kéo dài > 24 giờ 15 (21,7%) Biến chứng SAM 2 (2,9%) Nhiễm trùng 6 (8,7%) Loạn thần, kích thích 17 (24,6%) Rung nhĩ mới mắc 7 (10,1%) Nhồi máu cơ tim 1 (1,4%) Suy thận cấp 1 (1,4%) Block nhĩ thất cấp III 2 (2,9%) Phẫu thuật lại nguyên nhân van hai lá 0 (0,0%) Phẫu thuật lại nguyên nhân khác 5 (7,2%) Thành công về mặt kỹ thuật 64 (92,8%) Tử vong 0 (0,0%) SAM: systolic anterior motion Hình 1: Biểu đồ Kaplan–Meier tỷ lệ không tái phát theo thời gian Tỷ lệ không hở tái phát sau 3 tháng, 1 năm và 2 năm lần lượt là 97,1%, 92,6 % và 92,6%. Bảng 4: Quá trình theo dõi Ra viện (n = 69) 3 tháng (n = 69) 6 tháng (n = 45) 1 năm (n = 26) 2 năm (n = 10) Tỉ lệ khám 100,0% 100,0% 65,2% 37,7% 14,5% NYHA I – II 94,2% 98,6% 100,0% 100,0% 100,0% LVEF trung bình 56,7 ± 8,9 59,1 ± 7,8 58,8 ± 5,3 59 ± 4,7 59,5 ± 3,3 LVEF: left ventricular ejection fraction, NYHA: New York heart association BÀN LUẬN Thời điểm phẫu thuật thích hợp Phần lớn bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi chưa biểu hiện suy tim nặng nề với 89,9% trường hợp NYHA giai đoạn I – II, LVEF trung bình 62,4 ± 6,5% và nguy cơ phẫu thuật theo EuroSCORE II thấp (0,9 ± 0,4%). HoHL mãn tính khi đã diễn tiến sang giai đoạn thất trái mất bù khiến thất trái giãn dần và tăng sức ép lên Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Ngoại Khoa 191 thành tim, càng làm tăng thêm mức độ hở, trở thành một vòng xoắn bệnh lý, tiếp tục gây giảm chức năng thất trái(1). Khi các triệu chứng cơ năng đã rõ ràng hơn thì chức năng thất trái đã khó có thể hồi phục được, lúc này nếu HoHL không được điều trị sẽ nhanh chóng diễn tiến phù phổi cấp và suy tim sung huyết. Chính sự quá tải về thể tích và dòng máu phụt ngược làm giảm áp lực trong buồng tim, dẫn đến siêu âm tim khó đánh giá được chức năng tâm thu thất trái một cách chính xác. Một khi LVEF giảm còn 40 – 50% là đã suy tim nhiều, LVEF <35% nguy cơ phẫu thuật rất cao. Rối loạn chức năng tâm thu là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu sau phẫu thuật van hai lá, nguyên nhân đến từ chỉ định phẫu thuật muộn và đánh giá chức năng thất trái “bình thường giả” trong HoHL nặng. Suri RM(4) nghiên cứu về những trường hợp HoHL do sa lá van được chỉ định phẫu thuật sửa van sớm trước khi bệnh nhân có triệu chứng, giãn buồng thất trái và giảm chức năng tâm thu (LVEF>65%) cho thấy kết quả phẫu thuật tối ưu hơn so với trì hoãn chỉ định phẫu thuật muộn hơn. Theo hướng dẫn điều trị bệnh lý van tim năm 2014 của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ cập nhật năm 2017(1), phẫu thuật sửa van hai lá lý tưởng đối với những trường hợp bệnh nhân chưa biểu hiện triệu chứng, có chức năng thất trái bảo tồn (LVEF >60% và đường kính thất trái cuối kỳ tâm thu <40 mm) và được thực hiện tại một Trung tâm Phẫu thuật Van tim nhiều kinh nghiệm có tỉ lệ sửa van thành công >95% và tỉ lệ tử vong <1%. Các kỹ thuật sửa van được lựa chọn Có 3 nguyên tắc được xem nền tảng trong phẫu thuật sửa van hai lá do Carpentier đề xuất(5): bảo tồn hoặc khôi phục sự di động các lá van; diện áp lá van cần tạo hình đủ lớn; vòng van cần được cố định. Dựa vào các nguyên tắc trên, đến nay có rất nhiều kỹ thuật sửa van hai lá được đề xuất và ứng dụng. Trung tâm phẫu thuật Cleveland Clinic – Hoa Kỳ nhận định các kỹ thuật sửa van hai lá như sử dụng vòng van nhân tạo, cắt bỏ mô van, tạo hình trượt, dây chằng nhân tạo (DCNT), khép bờ tự do có thể sửa chữa được đến 95% trường hợp HoHL(6). Đối với bệnh lý thoái hoá van hai lá, bên cạnh các tổn thương đứt, giãn dây chằng treo van, tổn thương giãn vòng van hai lá phối hợp cũng thường gặp. Tất cả các trường hợp (100%) trong nghiên cứu của chúng tôi đều ghi nhận giãn vòng van và được đặt vòng van nhân tạo, đường kính vòng van trung bình 31,3 ± 2,6 mm. Thay thế một hoặc nhiều DCNT là kỹ thuật chính được chúng tôi sử dụng trong phần lớn các trường hợp – 65,2%, theo sau là 20,3% trường hợp áp dụng kỹ thuật cắt lá van theo hình tam giác với tổn thương ở lá sau van hai lá. Kỹ thuật sử dụng dây chằng nhân tạo Trước đây, đối với tổn thương HoHL nhóm II do thoái hoá mô van, Carpentier đề xuất kỹ thuật sửa van bằng cách cắt lá van theo hình tứ giác đối với lá sau, cắt hạn chế theo hình tam giác hoặc chuyển vị dây chằng thứ cấp đối với sa lá trước van hai lá(7). Từ những năm 90 của thế kỷ trước, chất liệu Polytetrafluoroethylene được nghiên cứu và ứng dụng thành công để thay thế cho dây chằng treo van, kể từ đó kỹ thuật sử dụng DCNT được ứng dụng rộng rãi trong phẫu thuật sửa van hai lá, ở cả đối tượng bệnh nhân trẻ em và người lớn với kết quả lâu dài tốt(5). David và cộng sự(8) nhận định rằng DCNT có thể giúp sửa chữa 95% các tổn thương thoái hoá van hai lá gây sa lá sau hoặc sa cả hai lá van. Bởi vai trò quan trọng của lá trước van hai lá trong hoạt động chức năng của bộ máy van, nguyên tắc sửa hiện nay lá là ưu tiên bảo tồn mô lá trước, hạn chế cắt bỏ, hoặc cắt tam giác hạn chế lá trước không quá 10% diện tích(5). Tất cả các trường hợp hở van do tổn thương lá trước (14,5%) đều được chúng tôi sử dụng DNCT, không có trường hợp nào cắt bỏ hay cắt hạn chế mô van, tương tự như các tác giả khác trên thế giới(8,9). Mặt khác, tổn thương sa cả 2 lá van được đánh giá là khó khăn để sửa thành công nhất. Nhiều công bố từ các trung tâm phẫu thuật tim trên thế giới đều ghi nhận tỉ lệ sửa van thành công giảm đối với sa cả 2 lá Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Ngoại Khoa 192 van, so với sa lá sau van hai lá(10). Theo Carpentier A(5) cần phối hợp sử dụng các kỹ thuật đã được ứng dụng đối với sửa chữa các tổn thương sa lá trước, lá sau và mép van hai lá để có thể sửa thành công sa 2 lá van. Tác giả Castillo JG(10) đề xuất quy trình tiếp cận: bước đầu tiên là sửa sa lá van sau một cách tốt nhất có thể, sau đó đặt vòng van nhân tạo và bơm nước muối vào buồng thất trái để đánh giá tình trạng hở van. Lúc này, phần lớn các tổn thương có thể được đánh giá đầy đủ ngay cả đối với tổn thương van phức tạp nhất và các kỹ thuật sửa van có thể được sử dụng bao gồm DCNT, chuyển vị dây chằng, khép mép van, khép bờ tự do để có thể sửa van hiệu quả(10). Trong 13 trường hợp sa hai lá van của chúng tôi, tương tự chúng tôi cũng ứng dụng nhiều kỹ thuật thực hiện trên cả hai lá van bao gồm 46,1% sử dụng DCNT, 38,5% cắt bỏ mô van và 15,4% các kỹ thuật khác (khép mép van, khép bờ tự do). Kể từ khi bắt đầu triển khai phẫu thuật sửa van hai lá năm 2014, đến thời điểm thực hiện nghiên cứu này, nhóm phẫu thuật đã vượt qua đường cong đào tạo sửa van hai lá ít xâm lấn. Trong số các kỹ thuật sửa van hai lá ít xâm lấn đã được ứng dụng, chúng tôi nhận định rằng kỹ thuật DCNT có thể thực hiện tốt, thuận tiện trong phẫu trường nhỏ, tránh được việc phải cắt bỏ mô van qua đó dùng được vòng van nhân tạo số lớn hơn, cải thiện được diện áp giữa hai lá van. Sử dụng DCNT tỏ ra ưu thế hơn so với phương pháp cắt mô van trong trường hợp tổn thương sa phức tạp, cần phải cắt nhiều ≥1/3 diện tích lá van, vôi hoá vòng van hay bản chất mô van mỏng manh. Nguyên lý của kỹ thuật DNCT phù hợp với giải phẫu bộ máy van hai lá, đủ đơn giản mà vẫn hiệu quả, phù hợp để truyền đạt và chuyển giao kỹ thuật cho các phẫu thuật viên tim giai đoạn đầu học tập và triển khai sửa van hai lá nói chung và ứng dụng trong phẫu thuật tim xâm lấn tối thiểu nói riêng, với khả năng sửa thành công cao. Khi so sánh với kỹ thuật cắt bỏ mô van, các tác giả trên thế giới cũng nhận định kỹ thuật DCNT hiệu quả trong sửa van hai lá, đơn giản và đặc biệt phù hợp trong phẫu thuật ít xâm lấn với kết quả tương đương(11). David TE(8) tổng kết 25 năm kinh nghiệm trong sửa van hai lá bằng DCNT, theo dõi trong 18 năm cho kết quả tỷ lệ không mổ lại là 90,2 ± 2,4%, tỷ lệ không HoHL tái phát là 91,0 ± 2,7% và kết luận rằng sửa van hai lá bằng DCNT đem lại kết quả tốt trong dài hạn. Khó khăn của kỹ thuật DCNT chủ yếu trong việc xác định chiều dài DCNT vừa đủ, nếu dài quá van vẫn còn bị sa, gây hở van, nếu ngắn quá làm van bị kéo xuống dưới, biến HoHL từ nhóm II thành nhóm III. Báo cáo mới đây của Moore R(12) bàn luận về 2 trường hợp thất bại sớm (dưới 1 năm) sau sửa van hai lá bằng DCNT. Theo tác giả, ở những trường hợp suy giảm chức năng và giãn thất trái, sau sửa van xảy ra sự tái cấu trúc thất trái làm giảm trở lại kích thước thất trái. Điều này ảnh hưởng kết quả phẫu thuật, gây sa trở lại lá van do chiều dài DCNT trở nên dài hơn so với thất trái. Moore đề xuất cần chọn chiều dài DCNT ngắn hơn hoặc cắt bỏ mô van đối với HoHL có giãn thất trái khả năng tái cấu trúc cơ tim sau phẫu thuật(12). Kỹ thuật DCNT đóng góp cực kỳ quan trọng vào kho tàng các kỹ thuật sửa van hai lá, sau thời kỳ các kỹ thuật sửa van theo“trường phái Pháp” mà Carpentier A là đại diện tiêu biểu, là khởi nguồn cho quan điểm “ưu tiên bảo tồn, hạn chế cắt bỏ”do Perier P đề xuất lần đầu tiên năm 2005(5,13). Quan điểm bao gồm ưu tiên tái sắp xếp lại mô van hai lá thay vì cắt bỏ mô van nhằm giữ được sự liên kết giữa các cấu trúc của hệ thống van hai lá, bảo tồn được diện áp. Kết quả phẫu thuật Có 2 (2,9%) trường hợp siêu âm tim thực quản trong quá trình phẫu thuật ghi nhận biến chứng SAM (Systolic Anterior Motion): xảy ra do sự di chuyển của lá trước van hai lá ra phía trước trong kỳ tâm thu, gây tình trạng HoHL và hẹp đường ra thất trái. SAM sau phẫu thuật thường gặp 10% sau phẫu thuật sửa van hai lá, chủ yếu do mô van lá sau còn nhiều và kích Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 Chuyên Đề Ngoại Khoa thước vòng van nhỏ, góc giữa mặt ph van hai lá và vòng van động mạch ch Bảng 5: Các trường hợp biến chứng SAM trong nghiên c Mô tả tổn thương BN1 Sa P2, P3 do đứt dây chằng C BN2 Sa P2 do đứt dây chằng 1 DCNT d Khép P1 DCNT: dây chằng nhân tạo SAM: systolic anterior motion Chúng tôi gặp 2 trường hợp (2,9%) có bi chứng SAM nhẹsau khi hoàn tất sử tim đập lại và ngưng tạm thời THNCT đ kiểm tra bằng siêu âm tim qua thực qu 5). Đểxử trí cáctình huống này, chúng tôi chưa cho liệt tim và khởi động THNCT tr sửa van ngay. Ban đầu chúng tôi ngưng dùng inotrope khi điều kiện huyết động cho phép, theo sau đó chúng tôi sử dụng chẹn kênh bê (liều 1 mg/kg) làm giảm tần số tim, bù d ngưng lợi tiểu. Sau một thời gian theo dõi trên siêu âm tim thực quản, tất cả các trư đều hết SAM và có thể tiếp tục gi THNCT cũng như đóng ngực hoàn t Hình Về các biến chứng hậu phẫu, có trường hợp được chúng tôi ghi nhậ chứng liên quan đến rối loạn tinh thầ thuật. Các quan điểm hiện nay cho r gia tăng tỷ lệ biến chứng thần kinh trong ph thuật ít xâm lấn, nhiều yếu tố có liên quan như dòng THNCT ngược, đuổi khí buồng tim khó khăn(15). Tỷ lệ rung nhĩ mới mắc sau m chúng tôi là 10,1% thấp hơn so với Miceli 15%. Tỷ lệ rung nhĩ mới mắc sau phẫ * Số 1 * 2021 Nghiên c ẳng vòng ủ nhỏ, thất trái nhỏ và tăng động, cấu trúc b trước(5). ứu Kỹ thuật sửa van Siêu âm tim qua th ắt hình tam giác phần sa P2 Khép P3, đặt vòng van 28 SAM nhẹ, không gây h trái ạng loop số 20 tại P2 –P2, đặt vòng van 30 SAM nhẹ, tim co bóp t ến a van, cho ể ản(Bảng ở lại để –ta ịch và ờng hợp ảm ngưng ất cuộc phẫu thuật. Theo Alfieri O(14) trường hợp SAM sẽ giảm sau khi ngưng inotrope và bù dịch, 80% các trư giảm sau khi tần số tim giả gánh, chỉ một số ít trường hợp SAM n bại điều trị nội khoa, cần phả Bên cạnh đó, trong quá trình h nhân được duy trì huyết áp trung bình cao 75 – 90 mmHg, tiếp tục dùng ch tuyệt đối không dùng lợi tiểu. T xuất viện và các lần tái khám b chúng tôi không còn ghi nhậ âm tim. Thái độ xử trí SAM đư Hình 2(14): 2: Thái độ xử trí biến chứng SAM(14) 24,6% n các biến n sau phẫu ằng có sự ẫu ổ của A(9) là u thuật tim ít xâm lấn thấp hơn đáng kể so v truyền thống do tình trạng giảm ph ứng viêm hệ thống (đường m chế tổn thương rộng) và giảm tác đ lên nhĩ phải(16). Đánh giá thành công v thuật phẫu thuật, 65 trường h chúng tôi đánh giá là thành công theo các tiêu chí đã đặt ra, không có trường h trong thời gian điều trị cũng nh theo dõi. Tỷ lệ thành công về ứu Y học 193 ất thường của lá ực quản ẹp đường thoát thất ốt , khoảng 1/3 các ờng hợp sẽ m và tăng tiền ặng thất i phẫu thuật lại. ậu phẫu bệnh ở mức ẹn bê–ta và ại thời điểm ệnh nhân, n SAM trên siêu ợc tóm tắt như ới phẫu thuật ản ứng đám ổ ít xâm lấn hạn ộng cơ học ề mặt kỹ ợp (92,8%) được ợp nào tử vong ư trong quá trình mặt kỹ thuật của Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Ngoại Khoa 194 chúng tôi ở mức cao, tương tự các tác giả khác như Miceli A(9) (95,3%). Quá trình theo dõi Quá trình theo dõi bệnh nhân, có 26 trường hợp (14,5%) được chúng tôi theo dõi đủ 2 năm tính từ ngày bệnh nhân xuất viện. Có 10 trường hợp chúng tôi không liên lạc được, còn lại là các trường hợp chưa đủ thời gian tái khám. Tỉ lệ bệnh nhân tái khám suy tim NYHA ở giai đoạn I – II tăng dần theo thời gian, đến thời điểm tái khám sau 6 tháng đạt tỉ lệ 100%. Theo dõi chức năng thất trái trong nghiên cứu của chúng tôi có sự thay đổi chỉ số từ 62,4 ± 6,5% khi trước phẫu thuật, giảm nhẹ xuống 56,7 ± 8,9% tại thời điểm xuất viện và cải thiện dần cho đến 59,5 ± 3,3% sau 2 năm theo dõi. Kết quả của Suri RM(4) cũng cho thấy điều tương tự khi LVEF giảm từ 62% xuống 53% ngay sau phẫu thuật (bao gồm cả sửa và thay van hai lá) và tăng dần cho đến 57% trong 3 – 5 năm theo dõi(4). Tỷ lệ không tái phát trong nghiên cứu của chúng tôi sau 3 tháng, 1 năm và 2 năm lần lượt là 97,1%, 92,6% và 92,6%. David và cộng sự(8) theo dõi đến 18 năm các trường hợp sửa van bằng DCNT, tỉ lệ không hở trung bình – nặng tái phát sau 1 năm là 98,5%, sau 10 và 18 năm lần lượt là 87,8% và 67,5%. KẾT LUẬN Phẫu thuật sửa van hai lá thoái hoá ít xâm lấn là phương pháp hiệu quả với tỉ lệ sửa van thành công trong nghiên cứu của chúng tôi là 92,8%, đem lại kết quả ngắn và trung hạn tốt với tỉ lệ không hở tái phát 92,6%. Kỹ thuật sử dụng dây chằng nhân tạo có tính khả thi và hiệu quả đặc biệt trong phẫu thuật ít xâm lấn, phù hợp cho các phẫu thuật viên tim trong giai đoạn đầu học tập và triển khai sửa van hai lá. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nishimura RA, Otto CM, Bonow RO, et al (2017). 2017 AHA/ACC Focused Update of the 2014 AHA/ACC Guideline for the Management of Patients With Valvular Heart Disease: A Report of the American College of Cardiology/American Heart Association Task Force on Clinical Practice Guidelines. Circulation, 135(25):1159-1195. 2. Nguyễn Công Hựu, Phan Thảo Nguyên, Đỗ Anh Tiến, và cs (2014). Phẫu thuật tim hở ít xâm lấn với nội soi hỗ trợ tại Trung tâm tim mạch Bệnh viện E: những kinh nghiệm ban đầu qua 63 BN phẫu thuật. tim mạch và lồng ngực Việt Nam, 7:24-28. 3. Chikwe J, Cooke DT, Weiss A (2013). Valve disease. In: Chikwe J, Cooke DT, Weiss A. Oxford specialist handbook of Cardiothoracic Surgery, 2nd ed, pp.363-422. Oxford University Press, Oxford. 4. Suri RM, Schaff HV, Dearani JA, et al (2009). Recovery of left ventricular function after surgical correction of mitral regurgitation caused by leaflet prolapse. J Thorac Cardiovasc Surg, 137(5):1071-1076. 5. Carpentier A, Adams DH, Filsoufi F, Williams M (2010). Mitral valve reconstruction. In: Carpentier A, Adams DH, Filsoufi F. Carpentier's reconstructive valve surgery from valve analysis to valve reconstruction, 1st ed, pp.25-171. Saunders Elsevier, Missouri, MI. 6. Hodges K, Mick S, Wierup P, Burns DJP, Gillinov AM (2019). Mitral Valve Repair: Five Techniques for 95% Repair. CTSnet.Org,doi:10.25373/ctsnet.9275057 7. Jouan J (2015). Mitral valve repair over five decades. Ann Cardiothorac Surg, 4(4):322-334. 8. David TE, Armstrong S, Ivanov J (2013). Chordal replacement with polytetrafluoroethylene sutures for mitral valve repair: a 25-year experience. J Thorac Cardiovasc Surg, 145(6):1563-1569. 9. Miceli A, Murzi M, Canarutto D, et al (2015). Minimally invasive mitral valve repair through right minithoracotomy in the setting of degenerative mitral regurgitation: early outcomes and long-term follow-up. Ann Cardiothorac Surg, 4(5):422-427. 10. Castillo JG, Anyanwu AC, El-Eshmawi A, Adams DH (2014). All anterior and bileaflet mitral valve prolapses are repairable in the modern era of reconstructive surgery. Eur J Cardiothorac Surg, 45(1):139-145. 11. Seeburger J, Falk V, Borger MA, et al (2009). Chordae replacement versus resection for repair of isolated posterior mitral leaflet prolapse: a egalite. Ann Thorac Surg, 87(6):1715- 1720. 12. Moore R, Wierup P, Gillinov AM (2020). Early Failure after Non-resectional Mitral Valve repair with Articial Chordae. J Card Surg, 35(9):2432-2435. 13. Perier P (2005). A New Paradigm for the Repair of Posterior Leaflet Prolapse: Respect Rather Than Resect. Oper Tech Thorac Cardiovasc Surg, 10(3):180-193. 14. Alfieri O, Lapenna E (2015). Systolic anterior motion after mitral valve repair: where do we stand in 2015?Eur J Cardiothorac Surg, 48(3):344-346. 15. Daniel P, José LP (2017). Contemporary results in minimally invasive mitral valve surgery. In: Hunaid AV, Marco S. Minimally invasive mitral valve surgery, 1st ed, pp.313-232. Nova Biomedical, New York, NY. 16. Suri RM, Schaff HV, Meyer SR, Hargrove WC (2009). Thoracoscopic versus open mitral valve repair: a propensity score analysis of early outcomes. Ann Thorac Surg, 88(4):1185- 1190. Ngày nhận bài báo: 12/12/2020 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 13/01/2021 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021
File đính kèm:
vai_tro_cua_day_chang_nhan_tao_trong_phau_thuat_sua_van_it_x.pdf

