Vai trò của can thiệp nội mạch trong điều trị huyết khối thành động mạch chủ ngực

Đặt vấn đề: Huyết khối thành động mạch

chủ là một dạng của hội chứng động mạch

chủ cấp. Trong các phương pháp điều trị hiện

nay, can thiệp nội mạch có vai trò ngày càng

quan trọng.

Mục tiêu: Đánh giá kết quả bước đầu của

can thiệp nội mạch trong điều trị huyết khối thành

động mạch chủ.

Đối tượng – Phương pháp nghiên cứu:

Mô tả loạt ca hồi cứu các bệnh nhân huyết khối

thành động mạch chủ được can thiệp nội mạch từ

12/2017 đến 06/2019 tại Khoa Phẫu thuật Tim

mạch Bệnh viện ĐHYD TPHCM.

Kết quả: Có 27 trường hợp huyết khối

thành động mạch chủ được điều trị. 16 trường

hợp điều trị ngoại khoa hoặc can thiệp nội mạch

và 11 trường hợp điều trị nội khoa. Có 9 trường

hợp loại A theo Stanford: 6 trường hợp phẫu

thuật mở và 3 trường hợp đặt ống ghép nội mạch.

7 trường hợp còn lại là loại B cần can thiệp nội

mạch. Không có tử vong trong nhóm đặt ống

ghép và chuyển thành bóc tách kinh điển. 1

trường hợp hẹp động mạch đùi sau phẫu thuật cần

tạo hình. 90% hấp thu hoàn toàn huyết khối nội

thành tại thời điểm 6 tháng sau can thiệp

pdf 8 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Vai trò của can thiệp nội mạch trong điều trị huyết khối thành động mạch chủ ngực", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Vai trò của can thiệp nội mạch trong điều trị huyết khối thành động mạch chủ ngực

Vai trò của can thiệp nội mạch trong điều trị huyết khối thành động mạch chủ ngực
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 29 - THÁNG 6/2020 
 68 
VAI TRÒ CỦA CAN THIỆP NỘI MẠCH TRONG ĐIỀU TRỊ HUYẾT KHỐI 
THÀNH ĐỘNG MẠCH CHỦ NGỰC 
Võ Tuấn Anh*, Nguyễn Thời Hải Nguyên**, Nguyễn Hoàng Định** 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Huyết khối thành động mạch 
chủ là một dạng của hội chứng động mạch 
chủ cấp. Trong các phương pháp điều trị hiện 
nay, can thiệp nội mạch có vai trò ngày càng 
quan trọng. 
Mục tiêu: Đánh giá kết quả bước đầu của 
can thiệp nội mạch trong điều trị huyết khối thành 
động mạch chủ. 
Đối tượng – Phương pháp nghiên cứu: 
Mô tả loạt ca hồi cứu các bệnh nhân huyết khối 
thành động mạch chủ được can thiệp nội mạch từ 
12/2017 đến 06/2019 tại Khoa Phẫu thuật Tim 
mạch Bệnh viện ĐHYD TPHCM. 
Kết quả: Có 27 trường hợp huyết khối 
thành động mạch chủ được điều trị. 16 trường 
hợp điều trị ngoại khoa hoặc can thiệp nội mạch 
và 11 trường hợp điều trị nội khoa. Có 9 trường 
hợp loại A theo Stanford: 6 trường hợp phẫu 
thuật mở và 3 trường hợp đặt ống ghép nội mạch. 
7 trường hợp còn lại là loại B cần can thiệp nội 
mạch. Không có tử vong trong nhóm đặt ống 
ghép và chuyển thành bóc tách kinh điển. 1 
trường hợp hẹp động mạch đùi sau phẫu thuật cần 
tạo hình. 90% hấp thu hoàn toàn huyết khối nội 
thành tại thời điểm 6 tháng sau can thiệp. 
Kết luận: Đặt ống ghép nội mạch là một 
phương pháp hứa hẹn với kết quả ban đầu khả 
quan, cần có số lượng bệnh nhân lớn và theo 
dõi lâu dài để chứng minh hiệu quả của 
phương pháp này. 
Từ khóa: Huyết khối thành động mạch 
chủ, hội chứng động mạch chủ cấp, can thiệp 
nội mạch. 
ABSTRACT 
ROLES OF ENDOVASCULAR 
TREATMENT IN AORTIC INTRAMURAL 
HEMATOMA 
Background – Objectives: Intramural 
hematoma (IMH) is a part of the acute aortic 
syndrome. Treatment of this disease remains 
controversial, including optimal medical 
treatment, surgery and endovascular surgery. 
Each modality has their advantages and 
disadvantages. The study aimed for the the early 
result of endovascular treatment in acute intral 
mural hematoma in our center. 
Method: We restrospective reviewed 
patients underwent aortic endovascular repair 
for IMHpatients at the University Medical Center 
at Ho Chi Minh City from 12/2017 to 06/2019.1 
Results: 27 patients with IMH was 
recorded during this time, 11 patients were 
treated medically and 6 patients underwent 
surgical or and 10 received endovascular 
treatment. In these 16 patients, 9 are type A IMH 
and 7 type B IMH. 3 type A IMHs were chosen 
for stent grafting. 3 patients in type B IMH group 
required partial debranching. No early mortality 
recorded, no stroke and conversion to classic 
dissection was seen in this group. 1 femoral 
artery stenosis required reconstruction. 90% of 
patients had total resolution of the hematoma 
after 6 months follow-up. 
* Khoa Phẫu Thuật Tim mạch -Bệnh viện Đại học Y Dược TP. HCM 
** Bộ môn Phẫu thuật Lồng ngực -Tim mạch -Đại học Y Dược TP.HCM 
Người chịu trách nhiệm khoa học: Võ Tuấn Anh 
Ngày nhận bài: 01/05/2020 - Ngày Cho Phép Đăng: 15/05/2020 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đoàn Quốc Hưng 
 PGS.TS. Nguyễn Hữu Ước 
VAI TRÒ CỦA CAN THIỆP NỘI MẠCH TRONG ĐIỀU TRỊ HUYẾT KHỐI THÀNH ĐỘNG MẠCH CHỦ NGỰC 
 69 
Conclusions: In our experiences with 
endovascular for IMH, the short term outcomes are 
satisfactory with no mortality and low morbidity. 
This treatment might be safe and feasible, bigger 
cohorts and long term follow-up are needed. 
Key words: Intramural hematoma, acute 
aortic syndrome, endovascular treatment. 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Bệnh lý động mạch chủ bao gồm phình 
động mạch chủ, bóc tách động mạch chủ, huyết 
khối thành động mạch chủ (Intramural Hematoma 
– IMH), loét xuyên thành động mạch chủ và tổn 
thương động mạch chủ do chấn thương (1). Huyết 
khối thành động mạch chủ (HKTĐMC) được định 
nghĩa là sự hiện diện của máu trong thành động 
mạch chủ mà không có sự hiện diện rõ ràng của lỗ 
vào. HKTĐMC có thể do vỡ các mạch máu nuôi 
thành động mạch chủ (vaso vasorum) hoặc là một 
trường hợp bóc tách động mạch chủ kinh điển có 
lỗ vào chính, sau đó huyết khối toàn bộ phần lòng 
giả, dẫn đến không thấy hình ảnh lỗ vào trên các 
phương tiện chẩn đoán hình ảnh thông thường (2). 
HKTĐMC chiếm khoảng 6 đến 10% các trường 
hợp hội chứng động mạch chủ cấp (3). Trong các 
nghiên cứu ở dân số châu Á, tỉ lệ này có thể cao 
hơn, lên đến 30 – 40% bệnh nhân (4). 
Triệu chứng của HKTĐMC rất giống với 
bóc tách động mạch chủ kinh điển, vì vậy khó có 
thể phân biệt được hai loại bệnh này nếu chỉ đơn 
thuần dựa vào triệu chứng của bệnh nhân. Cho đến 
nay, diễn tiến tự nhiên của HKTĐMC vẫn chưa rõ 
ràng và còn đang được tranh cãi. Một số tác giả 
cho rằng HKTĐMC có diễn tiến tự nhiên khá lành 
tính và tiên lượng tốt hơn, một số tác giả khác lại 
cho rằng loại bệnh này có tỉ lệ tử vong và biến 
chứng tương đương với bóc tách động mạch chủ 
thông thường (5). Biến chứng của HKTĐMC bao 
gồm diễn tiến tiếp tục của huyết khối thành trong 
28 – 47% các trường hợp và vỡ hoặc tạo phình lòng 
giả động mạch chủ trong 20 – 45% các trường hợp 
(6). Bên cạnh đó, bệnh có thể diễn tiến theo hướng 
lành tính, khối máu tụ trong thành có thể được hấp 
thu toàn bộ sau 1 thời gian theo dõi. Các yếu tố tiên 
lượng bệnh diễn tiến tiếp tục bao gồm đau ngực tái 
phát hoặc không đáp ứng điều trị, hiện diện của loét 
xuyên thành động mạch chủ. Các bệnh nhân có 
đường kính động mạch chủ < 4,0 – 4,5 cm, chiều 
dày của huyết khối thành < 10 mm và tuổi trẻ có 
tiên lượng tốt hơn (5). 
Vị trí của huyết khối thành động mạch chủ 
ngực cũng ảnh hưởng đến tiên lượng của bệnh 
nhân. Theo phân độ của Stanford, huyết khối 
thành động mạch chủ ngực lên (loại A) cần phải 
mổ khẩn ở hầu hết các bệnh nhân để loại trừ nguy 
cơ vỡ hoặc diễn tiến đến bóc tách thực sự (7). 
Tuy vậy, một số tác giả Nhật và Hàn Quốc có ghi 
nhận diễn tiến lành tính hơn loại bệnh lý này, các 
tác giả trên đề xuất hướng điều trị không phẫu 
thuật, theo dõi sát huyết áp, nằm nghỉ tại giường 
trong 4 tuần và chụp CT Scan thường xuyên, tỉ lệ 
tử vong với phương pháp điều trị nội khoa này 
vào khoảng 6% so với 58% của bóc tách động 
mạch chủ thông thường (4). 
Thời gian gần đây, có một số tác giả đề 
xuất sử dụng phương pháp can thiệp nội mạch 
động mạch chủ để điều trị huyết khối thành động 
mạch chủ, kể cả loại A và loại B với tỉ lệ thành 
công tương đối cao, tỉ lệ tử vong và biến chứng 
chu phẫu thập và tỉ lệ hấp thu hoàn toàn huyết 
khối khá tốt (7). Chúng tôi thực hiện nghiên cứu 
này nhằm đánh giá kết quả bước đầu và vai trò 
của can thiệp nội mạch trong điều trị huyết khối 
thành động mạch chủ. 
Nghiên cứu nhằm mục tiêu đánh giá kết quả 
ngắn hạn của can thiệp nội mạch trong điều trị 
bệnh lý huyết khối thành động mạch chủ loại A 
và loại B tại Khoa Phẫu thuật Tim mạch - Trung 
tâm Tim mạch Bệnh viện Đại học Y Dược 
TP.HCM. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 29 - THÁNG 6/2020 
 70 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
Phương pháp nghiên cứu: 
Mô tả loạt ca, hồi cứu. 
Trích lục dữ liệu hồ sơ bệnh án tại Khoa 
Phẫu Thuật Tim Mạch, Bệnh viện Đại học Y 
Dược TP.HCM của các bệnh nhân được can thiệp 
nội mạch điều trị huyết khối thành động mạch 
chủ ngực từ 12/2017 đến tháng 12/2019. 
Phân loại huyết khối thành: 
- Loại A: Huyết khối thành có ảnh hưởng 
đến động mạch chủ ngực lên 
- Loại B: Huyết khối thành không ảnh 
hưởng đến động mạch chủ ngực lên. 
Chỉ định can thiệp huyết khối thành động 
mạch chủ: 
- Có hai hình thức can thiệp đối với bệnh 
huyết khối thành động mạch chủ: 
 Phẫu thuật hở: Sử dụng hệ thống tim phổi 
nhân tạo với hệ thống tuần hoàn ngoài cơ thể. 
 Can thiệp nội mạch: Can thiệp đặt ống 
ghép nội mạch động mạch chủ. 
- Loại A: Phẫu thuật cấp cứu. Trong trường 
hợp bệnh nhân có nguy cơ cao hoặc thân nhân 
không đồng ý phẫu thuật và có hình ảnh gợi ý lỗ 
vào của ở động mạch chủ ngực xuống thì xem xét 
phương pháp can thiệp nội mạch. 
- Loại B: Theo dõi và điều trị nội khoa. Chỉ 
định can thiệp nội mạch động mạch chủ khi có 
một trong các đặc điểm sau: 
 Đường kính huyết khối thành > 11 mm. 
 Đường kính động mạch chủ > 50 mm. 
 Chèn ép mạch máu lớn gây thiếu máu tạng. 
 Hình ảnh thoát cản quang trong huyết 
khối thành (“blood pool” và “ulcer like 
projection”) 
 Khó khống chế được huyết áp. 
 Đau ngực kéo dài với huyết áp đã được 
khống chế. 
- Vị trí can thiệp: 
 Huyết khối thành động mạch chủ loại B: 
Ưu tiên đặt ống ghép nội mạch ở vùng động mạch 
chủ lành, phẫu thuật chuyển vị các nhánh quai 
động mạch chủ khi cần thiết. 
 Huyết khối thành động mạch chủ loại A: 
Đặt ống ghép nội mạch với đầu gần cách vị trí 
nghi ngờ lỗ vào ít nhất 20 mm. 
Theo dõi bệnh nhân: 
Bệnh nhân được tái khám hàng tháng tại 
khoa Phẫu thuật Tim mạch – Bệnh viện Đại học 
Y Dược TP. Hồ Chí Minh. 
Chụp CT scan có cản quang động mạch chủ 
vào thời điểm trước xuất viện, 3 tháng, 6 tháng và 
1 năm. 
Trường hợp bệnh nhân không tái khám: Gọi 
điện thoại mời bệnh nhân tái khám và chụp CT 
Scan động mạch chủ có cản quang. 
Khi không liên hệ được: Mất mẫu. 
KẾT QUẢ 
Từ tháng 01/2017 đến tháng 06/2019, có 27 
trường hợp huyết khối thành động mạch chủ điều 
trị tại khoa Phẫu thuật Tim mạch – Bệnh viện Đại 
học Y Dược TP.HCM. Trong đó có 6 trường hợp 
phẫu thuật cấp cứu (6 trường hợp loại A), 10 
trường hợp được can thiệp nội mạch (3 loại A và 
7 loại B) và 11 trường hợp điều trị nội khoa (11 
loại B) và theo dõi bằng CT Scan ngực. 
VAI TRÒ CỦA CAN THIỆP NỘI MẠCH TRONG ĐIỀU TRỊ HUYẾT KHỐI THÀNH ĐỘNG MẠCH CHỦ NGỰC 
 71 
Bảng 1. Đặc điểm can thiệp nội mạch theo loại huyết khối thành 
 Huyết khối thành loại A Huyết khối thành loại B 
Can thiệp nội mạch đơn thuần 3 4 
Can thiệp nội mạch có chuyển vị quai 
động mạch chủ 
0 3 
Hình 1: Huyết khối thành động mạch chủ ngực loại A với hình ảnh đọng cản quang trong huyết khối 
Hình 2. Can thiệp nội mạch điều trị huyết khối thành động mạch chủ loại A 
Bảng 2. Kết quả điều trị của can thiệp nội mạch 
Kết quả Số lượng bệnh nhân 
Tử vong 0 
Tai biến mạch máu não 
 + Không hồi phục 
 + Có hồi phục 
0 
1 (10%) 
Bóc tách động mạch chủ ngược dòng 0 
Suy thận 0 
Hẹp động mạch đùi 1 (10%) 
Hấp thụ hoàn toàn huyết khối sau 6 tháng 9 (90%) 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 29 - THÁNG 6/2020 
 72 
Hình 3. Huyết khối thành được hấp thu hoàn toàn sau 3 tháng (trái) và hình ảnh CT Scan 
sau 1 năm (phải) 
BÀN LUẬN: Toàn bộ các số liệu viện 
dẫn trong phần này phải ghi rõ có nguồn ở 
bảng hay biểu đồ nào trong phần kết quả 
Mặc dù huyết khối thành động mạch chủ 
được xem là lành tính hơn và có tiên lượng tốt 
hơn bóc tách động mạch chủ kinh điển, các bệnh 
nhân mắc bệnh lý này cũng có nguy cơ tiến triển 
tiếp tục bệnh động mạch chủ như chuyển dạng 
thành bóc tách kinh điển, vỡ động mạch chủ, 
phình động mạch chủ và loét xuyên thành động 
mạch chủ (8). Phẫu thuật thay động mạch chủ lên 
điều trị huyết khối thành động mạch chủ loại A 
có kết quả tốt hơn và tiên lượng sống còn lâu dài 
hơn so với điều trị nội khoa. Hara và cộng sự cho 
thấy phẫu thuật cấp cứu điều trị huyết khối thành 
động mạch chủ loại A có kết quả khá tốt vì đa số 
bệnh nhân có tình trạng huyết động ổn định trước 
mổ, cho phép chuẩn bị phẫu thuật kĩ lưỡng hơn, ở 
nhóm điều trị nội khoa (9). Matsushita và cộng sự 
cũng cho thấy huyết khối thành khác với bóc tách 
động mạch chủ loại A về đặc tính lâm sàng, nhóm 
huyết khối thành lớn tuổi hơn, nữ giới chiếm tỉ lệ 
lớn hơn và có tỉ lệ tăng huyết áp, rối loạn lipid 
máu nhiều hơn. Bên cạnh đó, phẫu thuật cấp cứu 
của loại bệnh lý này có kết quả ngắn hạn cũng 
như kết quả 5 năm rất tốt (10). Vì vậy, theo 
hướng dẫn điều trị của hội Tim mạch học Châu 
Âu, huyết khối thành động mạch chủ loại A có 
chỉ định phẫu thuật khẩn khi được chẩn đoán (chỉ 
định loại I, mức độ bằng chứng C). 
Tuy vậy, trong trường hợp nguy cơ phẫu 
thuật bệnh nhân cao hoặc gia đình bệnh nhân 
không đồng ý phẫu thuật, và điều trị nội khoa có 
nguy cơ tử vong cũng như chuyển dạng bóc tách 
kinh điển khá cao, cần có 1 giải pháp trung dung 
hơn để điều trị cho bệnh nhân. Can thiệp nội 
mạch có thể được cân nhắc chỉ định trong một số 
trường hợp với kết quả khá tốt. Muetterties thực 
hiện nghiên cứu gộp cho thấy mặc dù chưa có 
ống ghép nào hoàn toàn tốt để dùng cho huyết 
khối thành động mạch chủ ngực lên nhưng đã có 
nhiều trường hợp điều trị can thiệp nội mạch 
thành công đối với bệnh lý này, tỉ lệ rò nội mạch 
loại 1 là 18,6%, 9,3% bệnh nhân cần can thiệp lại, 
3,4% cần chuyển phẫu thuật hở, tỉ lệ tử vong do 
động mạch chủ là 5% sau 17,2 tháng theo dõi 
trung bình. Các tác giả cũng nhấn mạnh để có kết 
quả tốt nhất, lựa chọn bệnh nhân đóng vai trò rất 
quan trọng và lựa chọn này chỉ nên dành cho 
những trường hợp phẫu thuật nguy cơ cao (11). 
Kết quả này cũng tương đồng với kết quả của 
VAI TRÒ CỦA CAN THIỆP NỘI MẠCH TRONG ĐIỀU TRỊ HUYẾT KHỐI THÀNH ĐỘNG MẠCH CHỦ NGỰC 
 73 
chúng tôi, khi thực hiện can thiệp nội mạch cho 3 
trường hợp huyết khối nội thành động mạch chủ 
loại A, chúng tôi không có tai biến và biến chứng 
ngắn hạn và các bệnh nhân đều có hấp thu toàn 
bộ huyết khối sau 3 tháng theo dõi (Bảng 2). 3 
trường hợp này là các bệnh nhân có nguy cơ phẫu 
thuật cao, lớn tuổi, nhiều bệnh đi kèm, các bệnh 
nhân đều có hình ảnh thoát thuốc cản quang trong 
huyết khối thành ở sau động mạch dưới đòn trái 
(Hình 1). Vì vậy, chúng tôi quyết định chọn lựa 
phương pháp can thiệp nội mạch để che vị trí 
thoát thuốc cản quang này nhằm giảm thiểu nguy 
cơ chuyển sang bóc tách kinh điển của huyết khối 
thành động mạch chủ ngực lên. Ở các trường hợp 
này, do nhiều nguy cơ phẫu thuật, chúng tôi chọn 
lựa đặt sát chỗ xuất phát động mạch dưới đòn trái 
hoặc che một phần động mạch này để tránh 1 
cuộc mổ chuyển vị (hình 2). 
Huyết khối thành động mạch chủ ngực 
xuống có thể được điều trị nội khoa hoặc điều trị 
can thiệp nội mạch (12). Hướng dẫn điều trị của 
Hội Phẫu thuật mạch máu Châu Âu khuyến cáo 
nên điều trị can thiệp nội mạch đối với các trường 
hợp huyết khối thành động mạch chủ ngực xuống 
có biến chứng (chỉ định loai IIa, bằng chứng C) 
(13). Bischoff và cộng sự cho thấy hầu hết các 
bệnh nhân được điều trị nội khoa đều có biến 
chứng ở những mức độ khác nhau trong vòng 20 
ngày đầu tiên và có thể cần phải can thiệp nội 
mạch khi có thể (14). Piffaretti và cộng sự đã ghi 
nhận huyết khối thành động mạch chủ loại B có tỉ 
lệ biến chứng lên đến 47% nếu chỉ điều trị nội 
khoa đơn thuần, và kết quả trung hạn của những 
trường hợp điều trị bằng can thiệp nội mạch khá 
tốt (15). 
Tái cấu trúc động mạch chủ sau huyết khối 
thành động mạch chủ loại B là 1 vấn đề quan 
trọng. Lavingia và cộng sự chứng minh rằng điều 
trị can thiệp nội mạch không chỉ an toàn và khả 
thi mà còn giúp cho cấu trúc động mạch chủ trở 
về bình thường, các tác giả theo dõi những trường 
hợp can thiệp nôi mạch bằng CT Scan định kì và 
sau 13 tháng theo dõi, các chỉ số đều cải thiện có 
ý nghĩa thống kê: Chiều dày của huyết khối giảm 
từ 12 mm xuống 4 mm (p = 0,01), kích thước 
động mạch chủ giảm từ 47 mm xuống 42 mm (p 
= 0,02), tỉ số đường kính lòng động mạch 
chủ/đường kính toàn động mạch chủ giảm từ 1,35 
xuống 1,14 (p < 0,01) (16). Ye và cộng sự cũng 
chứng minh rằng tỉ lệ tái cấu trúc động mạch chủ 
trong nhóm điều trị nội khoa thấp hơn có ý nghĩa 
thống kê so với nhóm được đặt ống ghép động 
mạch chủ (15,4% so với 82,1%, p < 0,001), các 
tác giả kết luận can thiệp nội mạch có tác dụng 
bảo vệ và ngăn ngừa huyết khối nội thành diễn 
tiến thành bóc tách loại B thực sự và có thể có kết 
quả lâu dài tốt hơn so với điều trị nội khoa đơn 
thuần (17). 
Tuy vậy, bên cạnh những ưu điểm, can 
thiệp nội mạch cũng có những nhược điểm riêng. 
Có những trường hợp huyết khối thành không 
hấp thu mà vẫn tiếp tục tồn tại. Vì vậy, các kĩ 
thuật can thiệp nội mạch cũng như các loại ống 
ghép vẫn còn đang tiếp tục được nghiên cứu và 
phát triển cho các trường hợp huyết khối thành 
động mạch chủ, đặc biệt là trong trường hợp loại 
A. Bên cạnh đó, các bệnh nhân huyết khối nội 
thành loại B cũng đứng trước nguy cơ bóc tách 
động mạch chủ diễn tiến hoặc bóc tách ngược 
dòng trong quá trình can thiệp nội mạch. Giá 
thành của ống ghép cũng như liều tia xạ cho bệnh 
nhân cũng cần được cân nhắc kĩ khi chỉ định kĩ 
thuật này. 
Tỉ lệ tái cấu trúc của thành động mạch chủ 
cũng như tỉ lệ hấp thu toàn bộ huyết khối thành 
trong lô nghiên cứu của chúng tôi cũng rất tốt 
(bảng 2, hình 3), phù hợp với các nghiên cứu trên 
thế giới. Tuy vậy, số lượng bệnh nhân còn chưa 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 29 - THÁNG 6/2020 
 74 
nhiều và theo dõi chưa đủ dài nên kết quả chưa 
thực sự mạnh về mặt thống kê. Cần có những 
nghiên cứu với số lượng lớn hơn và theo dõi bệnh 
nhân lâu dài để thấy rõ được hiệu quả của phương 
pháp điều trị tiên tiến này. 
KẾT LUẬN 
Huyết khối thành động mạch chủ là bệnh 
thường gặp ở dân số châu Á, có thể điều trị bảo 
tồn, phẫu thuật và can thiệp nội mạch. Đặt ống 
ghép là một phương pháp hứa hẹn với kết quả 
ban đầu khả quan, tuy vậy, cần có số lượng bệnh 
nhân lớn và theo dõi lâu dài để chứng minh hiệu 
quả thực sự của phương pháp này. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO: 
1. Erbel R, Aboyans V, Boileau C, 
Bossone E, et al. (2014). 2014 ESC Guidelines on 
the diagnosis and treatment of aortic diseases: 
Document covering acute and chronic aortic 
diseases of the thoracic and abdominal aorta of 
the adult. The Task Force for the Diagnosis and 
Treatment of Aortic Diseases of the European 
Society of Cardiology (ESC). Eur Heart J. 
35(41):2873-926. 
2. Riambau V, Bockler D, Brunkwall J, 
Cao P, et al. (2017). Editor's Choice - 
Management of Descending Thoracic Aorta 
Diseases: Clinical Practice Guidelines of the 
European Society for Vascular Surgery (ESVS). 
Eur J Vasc Endovasc Surg. 53(1):4-52. 
3. Mohr-Kahaly S, Erbel R, Kearney P, 
Puth M, et al. (1994). Aortic intramural 
hemorrhage visualized by transesophageal 
echocardiography: findings and prognostic 
implications. J Am Coll Cardiol. 23(3):658-64. 
4. Song JK, Kim HS, Kang DH, Lim TH, 
et al. (2001). Different clinical features of aortic 
intramural hematoma versus dissection involving 
the ascending aorta. J Am Coll Cardiol. 
37(6):1604-10. 
5. Oderich GS, Karkkainen JM, Reed NR, 
Tenorio ER, et al. (2019). Penetrating Aortic 
Ulcer and Intramural Hematoma. Cardiovasc 
Intervent Radiol. 42(3):321-334. 
6. Evangelista A, Mukherjee D, Mehta 
RH, O'Gara PT, et al. (2005). Acute intramural 
hematoma of the aorta: a mystery in evolution. 
Circulation. 111(8):1063-70. 
7. Eggebrecht H, Plicht B, Kahlert P, and 
Erbel R (2009). Intramural hematoma and 
penetrating ulcers: indications to endovascular 
treatment. Eur J Vasc Endovasc Surg. 38(6):659-65. 
8. Spanos K, Kolbel T, and Giannoukas 
AD (2019). Current trends in aortic intramural 
hematoma management-a shift from conservative 
to a more aggressive treatment. Ann Cardiothorac 
Surg. 8(4):497-499. 
9. Hata M, Hata H, Sezai A, Yoshitake I, 
et al. (2014). Optimal treatment strategy for type 
A acute aortic dissection with intramural 
hematoma. J Thorac Cardiovasc Surg. 
147(1):307-11. 
10. Matsushita A, Fukui T, Tabata M, Sato 
Y, et al. (2016). Preoperative characteristics and 
surgical outcomes of acute intramural hematoma 
involving the ascending aorta: A propensity 
score-matched analysis. J Thorac Cardiovasc 
Surg. 151(2):351-8. 
11. Muetterties CE, Menon R, and 
Wheatley GH, 3rd (2018). A systematic review of 
primary endovascular repair of the ascending 
aorta. J Vasc Surg. 67(1):332-342. 
VAI TRÒ CỦA CAN THIỆP NỘI MẠCH TRONG ĐIỀU TRỊ HUYẾT KHỐI THÀNH ĐỘNG MẠCH CHỦ NGỰC 
 75 
12. Attia R, Young C, Fallouh HB, and 
Scarci M (2009). In patients with acute aortic 
intramural haematoma is open surgical repair 
superior to conservative management? Interact 
Cardiovasc Thorac Surg. 9(5):868-71. 
13. Schmidli J, Widmer MK, Basile C, de 
Donato G, et al. (2018). Editor's Choice - 
Vascular Access: 2018 Clinical Practice 
Guidelines of the European Society for Vascular 
Surgery (ESVS). Eur J Vasc Endovasc Surg. 
55(6):757-818. 
14. Bischoff MS, Meisenbacher K, 
Wehrmeister M, Bockler D, et al. (2016). 
Treatment indications for and outcome of 
endovascular repair of type B intramural aortic 
hematoma. J Vasc Surg. 64(6):1569-1579 e2. 
15. Piffaretti G, Lomazzi C, Benedetto F, 
Pipito N, et al. (2018). Best Medical Treatment 
and Selective Stent-GraftRepair for Acute Type B 
Aortic Intramural Hematoma. Semin Thorac 
Cardiovasc Surg. 30(3):279-287. 
16. Lavingia KS, Ahanchi SS, Redlinger 
RE, Udgiri NR, et al. (2014). Aortic remodeling 
after thoracic endovascular aortic repair for 
intramural hematoma. J Vasc Surg. 60(4):929-35; 
discussion 935-6. 
17. Ye K, Qin J, Yin M, Jiang M, et al. 
(2017). Acute Intramural Hematoma of the 
Descending Aorta Treated with Stent Graft 
Repair Is Associated with a Better Prognosis. J 
Vasc Interv Radiol. 28(10):1446-1453 e2. 

File đính kèm:

  • pdfvai_tro_cua_can_thiep_noi_mach_trong_dieu_tri_huyet_khoi_tha.pdf