Ứng dụng siêu âm tầng sinh môn đo góc tiến triển trong chẩn đoán độ lọt tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Mục tiêu: đánh giá mối tương quan giữa siêu âm đo góc tiến triển và

lâm sàng trong chẩn đoán độ lọt.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: tiến cứu theo dõi dọc trên 55 sản

phụ, bắt đầu nghiên cứu khi cổ tử cung mở hết, cứ mỗi 20 phút lại thăm

khám lâm sàng và siêu âm tầng sinh môn lại một lần.

Kết quả: Có 7 trường hợp phải mổ đẻ (12,7%) và 48 trường hợp đẻ

đường âm đạo (87,3%).Góc tiến triển trong nhóm mổ đẻ nhỏ hơn trong

nhóm đẻ thường ở tất cả các thời điểm đo được,góc tiến tiển tương quan

tuyến tính với độ lọt Delle trên lâm sàng theo phương trình y = 124,8 +

8.05x (R2= 0,432, p = 0,0001).

Kết luận: Góc tiến tiển tương quan tuyến tính với độ lọt Delle trên lâm

sàng. Góc tiến triển ở thời điểm T0 dự đoán chính xác phương thức đẻ

của sản phụ đến 93,8%.

pdf 4 trang phuongnguyen 160
Bạn đang xem tài liệu "Ứng dụng siêu âm tầng sinh môn đo góc tiến triển trong chẩn đoán độ lọt tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Ứng dụng siêu âm tầng sinh môn đo góc tiến triển trong chẩn đoán độ lọt tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Ứng dụng siêu âm tầng sinh môn đo góc tiến triển trong chẩn đoán độ lọt tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
PHAN CHÍ THÀNH, PHẠM HUY HIỀN HÀO, VŨ VĂN KHANH, PHAN THÀNH NAM
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
46
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Phan Chí Thành(1), Phạm Huy Hiền Hào(2), Vũ Văn Khanh(1), Phan Thành Nam(1)
(1) Bệnh viện Phụ sản Trung ương, (2) Trường Đại học Y Hà nội
ỨNG DỤNG SIÊU ÂM TẦNG SINH MÔN
ĐO GÓC TIẾN TRIỂN TRONG CHẨN ĐOÁN ĐỘ LỌT
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
Tóm tắt
Mục tiêu: đánh giá mối tương quan giữa siêu âm đo góc tiến triển và 
lâm sàng trong chẩn đoán độ lọt. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: tiến cứu theo dõi dọc trên 55 sản 
phụ, bắt đầu nghiên cứu khi cổ tử cung mở hết, cứ mỗi 20 phút lại thăm 
khám lâm sàng và siêu âm tầng sinh môn lại một lần. 
Kết quả: Có 7 trường hợp phải mổ đẻ (12,7%) và 48 trường hợp đẻ 
đường âm đạo (87,3%).Góc tiến triển trong nhóm mổ đẻ nhỏ hơn trong 
nhóm đẻ thường ở tất cả các thời điểm đo được,góc tiến tiển tương quan 
tuyến tính với độ lọt Delle trên lâm sàng theo phương trình y = 124,8 + 
8.05x (R2= 0,432, p = 0,0001). 
Kết luận: Góc tiến tiển tương quan tuyến tính với độ lọt Delle trên lâm 
sàng. Góc tiến triển ở thời điểm T0 dự đoán chính xác phương thức đẻ 
của sản phụ đến 93,8%. 
Từ khóa: Độ lọt Delle, Góc tiến triển, siêu âm tầng sinh môn.
Abstract 
 MEASSURE THE ANGLE OF PROGRESSION IN 
TRANSPERINEAL ULTRASOUND TO DIAGNOSE THE 
CLINICAL HEAD STATION IN NATIONAL HOSPITAL 
OF GYNECO-OBSTETRIC 
Objective: To evaluate the correlation between angle of 
progression in transperineal ultrasound and clinical head station in 
second stage of labor. 
Subjects and Methods: longitudinal prospective study,monitor 55 
pregnant women (37-41 weeks of gestation), started studying when the 
cervix is fully opened, clinical examination and intra-partum ultrasound 
every 20 minutes. 
Result: 7 cases of cesarean section (12.7%) and 48 cases 
of vaginal birth (87.3%). Angle of progression in the cesarean 
groups is smaller than that in the vaginal delivery groups. Angle of 
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Phan Chí Thành,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 15/03/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
10/04/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 20/04/2016
Từ khoá: Độ lọt Delle, Góc tiến 
triển, siêu âm tầng sinh môn. 
Keywords: Head station, angle 
of progression, transperineal 
ultrasound.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 46 - 49, 2016
47
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
progression is linear correlation with clinical head station by the equation y = 124.8 + 8.05x (R2 
= 0432, p = 0.0001). 
Conclusion: Angle of progression is linear correlation with clinical head station. Angle of progression 
at the T0 can predict accurately the mode of delivery up to 93.8%.
Keywords: Head station, angle of progression, transperineal ultrasound.
1. Đặt vấn đề
Chẩn đoán chính xác độ lọt có vai trò rất quan 
trọng trong chuyển dạ, ảnh hưởng tới thái độ xử trí 
sản khoa, đặc biệt trong các trường hợp phân vân 
giữa quyết định mổ lấy thai vì đầu không lọt, hay 
thử thách đẻ đường âm đạo bằng thủ thuật sản khoa 
như Forceps, giác hút sản khoa. Hiện nay thăm 
khám lâm sàng vẫn được coi là chuẩn vàng trong 
chẩn đoán. Tuy nhiên thăm khám lâm sàng mang 
tính chủ quan và phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm 
của người khám, đặc biệt trong các trường hợp có 
bướu huyết thanh, chồng khớp sọ. Theo Depuis và 
cộng sự, tỷ lệ chẩn đoán sai độ lọt là 30% [1]. 
Gần đây các tác giả trên thế giới có sử dụng siêu 
âm tầng sinh môn đo góc tiến triển để chẩn đoán độ 
lọt [2, 3]. Góc tiến triển là góc tạo bởi đường thẳng 
đi qua xương mu và đường thẳng đi qua bờ dưới 
xương mu và tiếp tuyến với xương sọ thai nhi. Khi 
đầu thai nhi càng xuống thấp trong tiểu khung, góc 
tiến triển càng được mở rộng ra [2, 3]. 
Do đó chúng tôi làm nghiên cứu này với mục 
tiêu: Đánh giá mối tương quan giữa góc tiến triển 
và lâm sàng trong chẩn đoán độ lọt. 
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
Nghiên cứu của chúng tôi lựa chọn 55 sản phụ 
có tuổi thai từ 37 đến hết 41 tuần, ngôi đầu, cổ tử 
cung mở hết, ối vỡ hoàn toàn, cân nặng thai nhi từ 
2500g đến 4000g, đồng ý tham gia nghiên cứu tại 
Khoa Đẻ Bệnh viện Phụ Sản Trung ương. 
Những trường hợp thai nghén nguy cơ cao như tiền 
sản giật, tăng huyết áp, mẹ bệnh tim, tiền sử mổ cũ, 
song thai, thai bất thường, thai suy trong chuyển dạ, 
thai non tháng, được loại ra khỏi đối tượng nghiên cứu
Sản phụ được giải thích rõ về 2 phương pháp 
thăm khám âm đạo và siêu âm trong chuyển dạ, 
đồng ý tham gia nghiên cứu.Khi cổ tử cung mở hết 
(qui ước T0), bắt đầu thăm khám âm đạo và siêu 
âm để chẩn đoán kiểu thế và độ lọt của thai nhi. 
Sau đó cứ 20 phút lại thăm khám và siêu âm một 
lần cho đến khi đẻ hoặc mổ lấy thai (T1, T2, T3, 
T4). Sản phụ nằm trong tư thế sản phụ khoa và 
được thông tiểu trước khi thăm khám.
Thăm khám lâm sàng được thực hiện bởi các 
bác sỹ có trên 5 năm kinh nghiệm làm việc tại khoa 
đẻ, xác định độ lọt Delle theo gai hông.
Siêu âm tầng sinh môn đo góc tiến triển được thực 
hiện ngay sau thăm khám lâm sàng. Kết quả thăm 
khám lâm sàng và siêu âm được tiến hành độc lập 
và giữ bí mật với nhau. Các số đo siêu âm sẽ được 
tiến hành phân tích sau. Các quyết định can thiệp 
sản khoa sẽ dựa trên quyết định thăm khám lâm sàng
3. Phương pháp siêu âm đo 
góc tiến triển
Đầu dò được đặt đứng dọc chính giữa theo tầng 
sinh môn, nằm giữa 2 môi lớn. Di chuyển đầu dò 
sao cho xương mu nằm ngang trong khung hình. 
Kẻ một đường thẳng đi dọc qua xương mu. Kẻ 
Hình 1. Siêu âm xác định góc tiến triển, và xác định xương mu trên siêu âm [2] 	
Hình 2. Hình ảnh siêu âm xác định góc tiến triển và bướu huyết thanh [2]
Diện tích dưới đường cong nhằm tiên lượng 
phương pháp đẻ của góc tiến triển và thăm khám 
lâm sàng lần lượt là 93,8 % và 88,3%.
5. Bàn Luận
Khi so sánh giữa 2 nhóm mổ đẻ và đẻ đường 
âm đạo (bao gồm cả đẻ thường và đẻ thủ thuật), 
không có sự khác biệt về tuổi mẹ và cân nặng thai 
nhi, tỷ lệ đẻ giảm đau giữa 2 nhóm. Tỷ lệ truyền 
oxytocin, tuổi thai khác biệt có ý nghĩa thống kê 
giữa 2 nhóm mổ đẻ và đẻ đường âm đạo với p lần 
lượt là 0,035 và 0,041. Thời gian đẻ trung bình 
giữa 2 nhóm khác biệt rất rõ rệt (65,6 ± 35,5 phút 
so với 22,1 ± 18,1 phút). Góc tiến triển trong nhóm 
mổ đẻ nhỏ hơn trong nhóm đẻ thường ở tất cả các 
thời điểm đo được. Điều này cũng đã được chứng 
minh trong nghiên cứu của Tutschek [4].
Bảng 2 chỉ ra khi góc tiến triển càng nhỏ, thì 
thời gian chuyển dạ giai đoạn II càng kéo dài. Điều 
này rất quan trọng trong thực hành lâm sàng giúp 
các nhà sản khoa có thể dự liệu được thời gian 
giai đoạn II, đặc biệt trong những trường hợp cần 
rút ngắn giai đoạn II như mẹ bệnh tim, tăng áp lực 
nội sọ, chống chỉ định rặn kéo dài. Barbera cũng 
chứng minh khi góc tiến triển càng lớn, thời gian 
giai đoạn II càng ngắn lại [2]. Bên cạnh đó, khi 
góc tiến triển đo được ở thời điểm T0 dưới 1200, 
sản phụ có nguy cơ phải mổ đẻ tăng lên 18 lần. 
Biểu đồ 1 chỉ ra giữa góc tiến triển tương quan 
tuyến tính với độ lọt Delle trên lâm sàng theo phương 
trình y = 124,8 + 8,05x ( y: góc tiến triển, x: độ lọt 
Delle) với R2 = 0,432, p = 0,0001. Nghiên cứu của 
Barbera và cộng sự cũng chứng minh góc tiến triển 
và độ lọt tương quan tuyến tính với R2 = 0,2659 [2]. 
Sử dụng đường cong ROC đẻ so sánh giữa 
khám lâm sàng (độ lọt theo Delle) và đo góc tiến 
PHAN CHÍ THÀNH, PHẠM HUY HIỀN HÀO, VŨ VĂN KHANH, PHAN THÀNH NAM
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
48
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
đường thẳng thứ 2 đi qua bờ dưới xương mu và 
tiếp tuyến với xương sọ thai nhi. Góc tiến triển là 
góc được tạo giữa 2 đường thẳng kể trên. Xương 
mu có phần trung tâm là xương, tăng âm rõ, xung 
quanh bọc viền sụn. Bờ dưới xương mu được định 
nghĩa bao gồm cả lớp sụn bao quanh xương mu.
4. Kết quả
Giữa góc tiến triển tương quan tuyến tính với độ 
lọt Delle trên lâm sàng theo phương trình y = 124,8 
+ 8,05x ( y: góc tiến triển, x: độ lọt Delle) với R2 = 
0,432, p = 0,0001.
Tuổi mẹ 28,6 (19-39) tuổi
Tuổi thai 39,6 (37 – 41) tuần 
BMI 26 (20,3 – 34,5)
Thời gian đẻ 27,6 (5 – 124) phút
Cân nặng thai nhi 3300 (2600 – 4000)gr
Đẻ thường 44 (80%)
Mổ đẻ 7 (12,7%)
Đẻ thủ thuật 4 (7,3%)
Bảng 1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Mổ đẻ (n=7) Đẻ đường âm đạo(n=48) p
Cân con 3485,7 ± 279,5 3254,2 ± 318,9 0,075
Tuổi 27,7 ± 3,4 28,8 ± 4,6 0,573
Tuổi thai 39,5 ± 0,9 40,3 ± 0,8 0,041
Thời gian đẻ TB 65,6 ± 35,7 22,1 ± 18,1 0,001
Góc tiến triển ở T0 95,5 ± 38,9 140,5 ± 25,4 0,001
Góc tiến triển ở T1 98,9 ±39,9 (n = 7) 149,7 ± 16,0 (n=15) 0,001
Góc tiến triển ở T2 117.2 ± 17.8 (n=6) 159,3 ± 24.0 (n=6) 0,006
Góc tiến triển ở T3 113,0 ± 9,5 (n= 4)
Truyền oxytocin 7 (100%) 34 (70,8%) 0,035
Bảng 2. Khác biệt giữa 2 nhóm mổ đẻ và đẻ đường âm đạo
Góc tiến triển n Thời gianđẻ p Mổ đẻ Tỉ số khả dĩ p
≤ 120o 9 42,0 ± 41,7
< 0,004
5 (71,4%)
LH ratio 
= 18 < 0,001
 121o – 134o 14 39,5 ± 24,3
2 (28,6%)135o – 150o 11 27,5 ± 19,7
>150o 21 13,5 ± 7,4
Bảng 3. Khác biệt giữa các nhóm góc tiến triển
Biểu đồ 1. Biểu đồ mối liên quan giữa góc tiến triển và độ lọt Delle
Biểu đồ 2. Đường cong ROC của góc tiến triển và độ lọt Delle ở thời điểm T0
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 46 - 49, 2016
49
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
triển ở thời điểm T0, dễ dàng nhận thấy góc tiến 
triển tiên lượng chính xác phương pháp đẻ của 
sản phụ hơn so với khám lâm sàng (diện tích dưới 
đường cong tương ứng là 93,8% và 88,3%). Theo 
nghiên cứu của Marsoosi và cộng sự thì diện tích 
dưới đường cong của góc tiến triển và khám lâm 
sàng lần lượt là 94,9% và 90,2% [5]. Theo Ghi và 
cộng sự, khả năng tiên lượng phương pháp đẻ của 
góc tiến triển là 77,7%. Marsoosi và cộng sự thì 
cho rằng khi góc tiến triên ≥ 113o thì khẳ năng đẻ 
đường âm đạo là 90,8% [5]. Năm 2015, Arthuis 
và cộng sự đã nghiên cứu mô phỏng cắt lớp vi tính, 
dựng hình 3D trên 458 khung chậu nữ mang thai 
quí 3 thai kỳ nhằm xác định góc tiến triển. Tác giả 
lấy ngưỡng góc tiến triển là 120o có đến 97% các 
trường hợp độ lọt là 0 hoặc hơn [6].
6. Kết luận
Góc tiến triển trên siêu âm tầng sinh môn tương 
quan tuyến tính với độ lọt Delle trên lâm sàng.
Góc tiến triển ở thời điểm T0 có thể dự đoán 
chính xác phương pháp đẻ tốt hơn so với thăm 
khám lâm sàng xác định độ lọt theo Delle (93,8% 
và 88,3%).
Tài liệu tham khảo
1. Dupuis, O., et al., Birth simulator: Reliability of transvaginal assessment 
of fetal head station as defined by the American College of Obstetricians 
and Gynecologists classification. American Journal of Obstetrics and 
Gynecology, 2005. 192(3): p. 868-874.
2. Barbera, A.F., et al., A new method to assess fetal head descent in 
labor with transperineal ultrasound. Ultrasound Obstet Gynecol, 2009. 
33(3): p. 313-9.
3. Ghi, T., et al., Sonographic pattern of fetal head descent: relationship 
with duration of active second stage of labor and occiput position at 
delivery. Ultrasound in Obstetrics & Gynecology, 2014. 44(1): p. 82-89.
4. Tutschek, B., et al., A study of progress of labour using intrapartum 
translabial ultrasound, assessing head station, direction, and angle of 
descent. BJOG: An International Journal of Obstetrics & Gynaecology, 
2011. 118(1): p. 62-69.
5. Marsoosi, V., et al., Role of ‘angle of progression’ in prediction of delivery 
mode. Journal of Obstetrics and Gynaecology Research, 2015: p. n/a-n/a.
6. Arthuis, C.J., et al., Anatomical study of the relation between the 
symphysis and ischial spines by CT scan: improving the interpretation of 
intrapartum translabial ultrasound. Ultrasound in Obstetrics & Gynecology, 
2015: p. n/a-n/a.

File đính kèm:

  • pdfung_dung_sieu_am_tang_sinh_mon_do_goc_tien_trien_trong_chan.pdf