Ứng dụng phương pháp dùng ống thông hai bóng cải tiến làm mềm mở cổ tử cung gây chuyển dạ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Mục đích: đánh giá hiệu quả, độ an toàn và tác dụng không mong

muốn của ống thông hai bóng cải tiến BVPSTƯ trong làm mềm mở

cổ tử cung(CTC) gây chuyển dạ tại khoa Đẻ Bệnh viện Phụ sản

Trung ương.

Thiết kế nghiên cứu: hồi cứu.

Đối tượng nghiên cứu: thai phụ sử dụng ống thông hai bóng cải tiến

BVPSPW gây chuyển dạ từ tháng 01/2015 đến tháng 12/2015 với tiêu

chuẩn: một thai sống, ngôi chỏm, chỉ số bishop < 6="" điểm,="" màng="" ối="">

nguyên vẹn, không có nhiễm khuẩn âm đạo do liên cầu nhóm B. Kết

quả của nghiên cứu: xác định thành công của phương pháp (làm CTC

mở > = 3 cm hay Bishop >= 8 điểm),thời gian từ khi đặt bóng đến khi

tháo bóng và đến khi đẻ, thay đổi chỉ số Bishop CTC, chỉ định dùng

oxytocin kèm, biến chứng cho sản phụ và thai nhi, yếu tố ảnh hưởng

đến thành công của phương pháp.

Kết quả: 120 trường hợp đặt bóng làm mềm, mở CTC gây chuyển dạ

với thành công đạt 90% (108/120). Tỷ lệ đẻ đường âm đạo trong vòng

24 giờ gây chuyển dạ là 78,3 %. Thời gian trung bình từ khi đặt bóng

đến khi tháo bóng là 9,07 ± 3,40 giờ, thời gian từ khi đặt bóng đến khi

đẻ là 18,8 ± 5,4 giờ, thay đổi điểm chỉ số Bishop CTC trước đặt và sau

khi tháo bóng là 5 điểm. Không có biến chứng nặng nề nào gây ra cho

sản phụ và thai nhi.

Kết luận: Nghiên cứu đã khẳng định ống thông 2 bóng cải tiến có hiệu

quả cao trong làm mềm mở cổ tử cung và có giá trị trong làm tăng tỷ

lệ đẻ đường âm đạo trong 24 giờ khi gây chuyển dạ. Phương pháp này

hầu như không gây nguy hại gì cho sản phụ và thai nhi

pdf 5 trang phuongnguyen 260
Bạn đang xem tài liệu "Ứng dụng phương pháp dùng ống thông hai bóng cải tiến làm mềm mở cổ tử cung gây chuyển dạ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Ứng dụng phương pháp dùng ống thông hai bóng cải tiến làm mềm mở cổ tử cung gây chuyển dạ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Ứng dụng phương pháp dùng ống thông hai bóng cải tiến làm mềm mở cổ tử cung gây chuyển dạ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
ĐOÀN THỊ PHƯƠNG LAM, LÊ THIỆN THÁI, PHÓ THỊ QUỲNH CHÂU
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
86
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Đoàn Thị Phương Lam, Lê Thiện Thái, Phó Thị Quỳnh Châu
Bệnh viện Phụ sản Trung ương
ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP
DÙNG ỐNG THÔNG HAI BÓNG CẢI TIẾN LÀM MỀM 
MỞ CỔ TỬ CUNG GÂY CHUYỂN DẠ
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
Tóm tắt
Mục đích: đánh giá hiệu quả, độ an toàn và tác dụng không mong 
muốn của ống thông hai bóng cải tiến BVPSTƯ trong làm mềm mở 
cổ tử cung(CTC) gây chuyển dạ tại khoa Đẻ Bệnh viện Phụ sản 
Trung ương. 
Thiết kế nghiên cứu: hồi cứu.
Đối tượng nghiên cứu: thai phụ sử dụng ống thông hai bóng cải tiến 
BVPSPW gây chuyển dạ từ tháng 01/2015 đến tháng 12/2015 với tiêu 
chuẩn: một thai sống, ngôi chỏm, chỉ số bishop < 6 điểm, màng ối còn 
nguyên vẹn, không có nhiễm khuẩn âm đạo do liên cầu nhóm B. Kết 
quả của nghiên cứu: xác định thành công của phương pháp (làm CTC 
mở > = 3 cm hay Bishop >= 8 điểm),thời gian từ khi đặt bóng đến khi 
tháo bóng và đến khi đẻ, thay đổi chỉ số Bishop CTC, chỉ định dùng 
oxytocin kèm, biến chứng cho sản phụ và thai nhi, yếu tố ảnh hưởng 
đến thành công của phương pháp. 
Kết quả: 120 trường hợp đặt bóng làm mềm, mở CTC gây chuyển dạ 
với thành công đạt 90% (108/120). Tỷ lệ đẻ đường âm đạo trong vòng 
24 giờ gây chuyển dạ là 78,3 %. Thời gian trung bình từ khi đặt bóng 
đến khi tháo bóng là 9,07 ± 3,40 giờ, thời gian từ khi đặt bóng đến khi 
đẻ là 18,8 ± 5,4 giờ, thay đổi điểm chỉ số Bishop CTC trước đặt và sau 
khi tháo bóng là 5 điểm. Không có biến chứng nặng nề nào gây ra cho 
sản phụ và thai nhi. 
Kết luận: Nghiên cứu đã khẳng định ống thông 2 bóng cải tiến có hiệu 
quả cao trong làm mềm mở cổ tử cung và có giá trị trong làm tăng tỷ 
lệ đẻ đường âm đạo trong 24 giờ khi gây chuyển dạ. Phương pháp này 
hầu như không gây nguy hại gì cho sản phụ và thai nhi.
Từ khóa: gây chuyển dạ, ống thông hai bóng cải tiến BVPSTƯ, 
cổ tử cung.
Abstract 
USE OF THE IMPROVED DOUBLE BALLOON 
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Đoàn Thị Phương Lam, email: 
[email protected] 
Ngày nhận bài (received): 15/03/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
10/04/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 20/04/2016
Từ khoá: Gây chuyển dạ, 
ống thông hai bóng cải tiến 
BVPSTƯ, cổ tử cung. 
Keywords: Labor, induction, 
ipproved double balloon 
catheter, cervical ripenin, cervix.
Tại khoa Đẻ Bệnh viện Phụ sản Trung ương 
(BVPSTƯ) từ năm 2013 đã tạo ra ống thông hai 
bóng mô phỏng theo bóng Cook làm mềm, mở CTC 
gây chuyển dạ đã được xác định là một phương 
pháp sáng tạo có tính ứng dụng cao với hiệu quả 
làm mềm mở CTC đạt 90 – 94 % [6]
Qua thời gian ứng dụng phương pháp này, 
chúng tôi tập hợp những nghiên cứu có liên quan 
để thảo luận những vấn đền về: tính hiệu quả, độ 
an toàn, chi phí thấp và những tai biến có thể gặp 
của ống thông hai bóng cải tiến.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại khoa Đẻ BVPSTƯ 
trong thời gian từ tháng 1/2015 đến hết tháng 
12/2015 với 120 sản phụ có chỉ định gây chuyển 
dạ bằng đặt ống thông hai bóng cải tiến thỏa mãn 
tiêu chuẩn: một thai sống, ngôi chỏm, tuổi thai >= 
37 tuần, màng ối còn nguyên vẹn, không có nhiễm 
trùng toàn thân, nhiễm trùng âm đạo do liên cầu 
nhóm B, test không đả kích tim thai dao động tốt, chỉ 
số Bishop CTC < 6 điểm. Loại khỏi đối tượng nghiên 
cứu: tuổi sản phụ < 18 tuổi, thai chết lưu trong tử 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 86 - 90, 2016
87
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
1. Đặt vấn đề
Làm mềm mở cổ tử cung (CTC) nhân tạo trong 
gây chuyển dạ trong trường hợp cổ tử cung không 
thuận lợi có tác dụng giúp cho cuộc gây chuyển dạ 
đạt thành công cao tránh được nguy cơ chuyển dạ 
kéo dài, nguy cơ phải mổ lấy thai [1]. Dựa vào hệ 
thống thang điểm Bishop CTC các nhà sản khoa sẽ 
đưa ra quyết định có phải làm mềm mở CTC trước 
khi gây chuyển dạ không: với điểm Bishop CTC >= 6 
điểm thì không cần phải làm mềm mở CTC trước còn 
với Bishop CTC < 6 điểm thì phải làm mềm, mở CTC 
rồi mới gây chuyển dạ [2].
Có hai phương pháp làm mềm, mở CTC là: 
hóa học và cơ học. Phương pháp hóa học (dùng 
Prostaglandin E1, E2) cho hiệu quả làm mềm, mở 
CTC cao nhưng gây nhiều tác dụng phụ: suy thai, vỡ 
tử cung, cơn co tử cung cường tính [3].
Phương pháp cơ học (ống thông hai bóng Atad, 
bóng Cook, ống thông Foley..) làm mềm mở CTC 
bằng lực ép nên hầu như không gây tác dụng phụ 
nguy hại cho sản phụ và thai nhi. Ống thông hai 
bóng được Atad và cộng sự nghiên cứu sử dụng từ 
năm 1991 với hiệu quả thành công gây chuyển dạ 
đạt 94%. [4, 5]. 
CATHETER FOR CERVICAL RIPENING IN INDUCTION OF LABOR
Subjective: evaluate the efficacy, safety and adverse of the improved double balloon catheter in 
ripening cervix for induction at the national hospital obstetric and gynecology.
Study design: retrospective study. 
Method: from January 2015 to December 2015, 120 women with a bishop score less 6, a single 
pregnancy, intact membranes, and cephalic presentation were ripening cervix by a improved double 
balloon catheter. The aim of this study was to assess the efficacy of the improved double balloon 
catheter in cervical ripening and outcome of vaginal delivery within 24 hours and advantage and 
disadvantages of the method. 
Results: incidence of successment in cervical ripening was 90 %, vaginal birth within 24 hours 
after induction os 78,3%. Memium length of time from insert the catheter to put out is 9,07 ± 3,4 
hours, the induction to delivery interval 18,8 ± 5,4 hours. There is not any complication for the 
newborn babies and women. 
Conclusion: This study shows that the improved double balloon catheter is effective in preinduction 
cervical ripening and is associated with a high rate of vaginal birth within 24 hours . There is no 
harmful effects both to the mother and perinatal.
Keywords: labor, induction, ipproved double balloon catheter, cervical ripenin, cervix.
ĐOÀN THỊ PHƯƠNG LAM, LÊ THIỆN THÁI, PHÓ THỊ QUỲNH CHÂU
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
88
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
cung, có sẹo mổ cũ ở tử cung, có chống chỉ định đẻ 
đường âm đạo (rau tiền đạo, u tiền đạo, ngôi thai 
không thuận ). Những sản phụ trong nghiên cứu 
được tư vấn về tác dụng cũng như những nguy cơ 
của phương pháp đặt bóng và ký vào biên bản thỏa 
thuận đồng ý sử dụng làm bằng chứng.
Trước khi đặt bóng sản phụ được thăm khám 
lại bằng mỏ vịt xác định không có viêm âm đạo 
và xác định chỉ số Bishop CTC. Để giảm thiểu tối 
đa sai số trong đánh giá chỉ số Bishop CTC thì tất 
cả những đánh giá về CTC chỉ được thực hiện bởi 
chính người nghiên cứu. 
Tiến hành nghiên cứu: cho sản phụ nằm trên 
bàn đẻ ở tư thế sản khoa, đưa ống thông hai bóng 
cải tiến qua âm đạo và CTC cho đến khi bóng tử 
cung nằm ở đoạn dưới sát lỗ trong CTC, bóng 
CTC- âm đạo nằm trong âm đạo, bơm mỗi bóng 
80 ml nước muối sinh lý, kẹp chặt dây ống thông 
tránh cho nước trào ngược ra ngoài theo quy trình 
kỹ thuật của phương pháp [7]. Cố định ống thông 
vào một bên đùi sản phụ. Đặt máy Monitoring theo 
dõi tim thai trong 30 phút, nếu tim thai tốt, cho sản 
phụ về phòng chờ sinh đi lại sinh hoạt bình thường.
Chỉ định tháo bóng được thực hiện trong những 
trường hợp sau: 1. Hết thời gian 12 giờ đặt nếu bóng 
không tụt thì tháo bóng. 2. Bóng tự tụt, 3. Vỡ màng ối 
đột ngột, 4. Chuyển dạ thực sự (CCTC tần số 4, CTC 
mở > = 3cm), 5. Hoặc có dấu hiệu thai suy.
Thăm khám xác định lại chỉ số Bishop CTC 
ngay khi tháo bóng, tiến hành gây chuyển dạ tiếp 
bằng truyền oxytocin nếu cơn co tử cung thưa, 
giảm đau trong đẻ được thực hiện nếu sản phụ 
yêu cầu. Trường hợp bóng tụt trước 12 giờ cũng 
thăm khám đánh giá lại Bishop CTC rồi theo dõi 
tiếp cuộc chuyển dạ theo quy trình cuộc chuyển dạ 
thông thường và thường bấm ối sớm khi CTC mở 
3cm để kích thích rút ngắn chuyển dạ [8].
Tiêu chuẩn chẩn đoán làm mềm, mở CTC thất 
bại là khi CTC mở nhỏ hơn 3cm (< 3cm) sau thời 
gian 12 giờ đặt bóng, và cuộc chuyển dạ ngừng 
tiến triển là khi CTC không mở thêm sau bốn giờ 
theo dõi với cơn co tử cung phù hợp, gây chuyển dạ 
thất bại là khi cuộc chuyển dạ không tiến triển vào 
pha hành động (giai đoạn 1b) mặc dù đã bấm ối 
và truyền oxytocin ít nhất 10 giờ cho CCTC phù hợp.
Tất cả những số liệu nghiên cứu của sản phụ sẽ 
được ghi vào một phiếu nghiên cứu có mẫu sẵn. 
Các chỉ số nghiên cứu sẽ được tính gồm: tỷ lệ làm 
mềm mở CTC thành công (CTC mở > 3cm), thay 
đổi chỉ số Bishop CTC sau khi làm chín muồi, tỷ lệ 
đẻ đường âm đạo, tỷ lệ mổ lấy thai, thời gian từ khi 
đặt bóng đến khi tháo bóng và thời gian từ khi đặt 
bóng đến khi đẻ, những tai biến có thể gặp ở sản 
phụ và thai nhi, trọng lượng thai khi đẻ.
3. Kết quả nghiên cứu
Qua 1 năm nghiên cứu chúng tôi thu được kết 
quả có 120 sản phụ dùng ống thông hai bóng cải 
tiến gây chuyển dạ. Đặc điểm chung của các sản 
phụ trong nghiên cứu được thể hiện quan bảng kết 
quả 3.1 trong đó hầu hết sản phụ là sinh con so, 
chỉ định gây chuyển dạ chủ yếu là do thai quá 
ngày sinh. Kết quả làm mềm mở CTC thành công 
90%, tỷ lệ đẻ đường âm đạo trong 24 giờ là 78,3%, 
thời gian đặt bóng trung bình là 9,07 giờ, thời gian 
từ khi đặt bóng đến khi sinh trung bình là 18,8 ± 
5,4 giờ. Hầu hết sản phụ đều phải dùng oxytocin 
truyền tĩnh mạch kích thích CCTC giúp chuyển dạ 
đạt hiệu quả. Tai biến gây ra cho sản phụ và thai 
nhi của phương pháp này hầu như không có.
 Đặc điểm của sản phụ Số lượng Tỷ lệ %
Tuổi sản phụ
< 35 tuổi 94 78
>= 35 tuổi 26 22
Số lần sinh
Con so 95 79,16
Con rạ 25 20,8
Tuổi thai
34 tuần – 37 tuần 8 6,7
38 tuần – 40 tuần 27 22,5
>= 41 tuần 85 70,8
Chỉ định gây 
chuyển dạ
Thai quá ngày sinh 85 70, 8
Cao huyết áp, tiền sản giật 7 5,8 
Đái tháo đường thai nghén 6 5 
Thai chậm phát triển trong tử cung 12 10 
Thiểu ối 8 6,6 
Khác 2 1,8 
Bảng 1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Kết quả từ khi đặt bóng đến khi tháo bóng Số lượng Tỷ lệ %
Thành công ( CTC mở > = 3cm) 108 90 
Thất bại ( CTC mở < 3cm) 12 10 
Bảng 2. Kết quả làm mềm mở CTC của ống thông hai bóng cải tiến
Số lần sinh
Chỉ số Bishop CTC Con so Con dạ
Trước khi đặt bóng ( điểm) 2 (0 – 5) 3 (0 – 5)
Sau khi tháo bóng ( điểm ) 7 ( 5 – 10) 7 ( 5 – 10)
Thay đổi số điểm ( điểm ) 5 ( 5 – 10) 5 ( 5 – 10) 
Bảng 3. Sự thay đổi chỉ số Bishop CTC trước và sau khi đặt bóng
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 86 - 90, 2016
89
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Kết quả cuộc gây chuyển dạ và đặc điểm cuộc đẻ Số lượng Tỷ lệ %
Cách sinh ở nhóm đặt bóng thành công
(CTC mở > = 3cm)
Đẻ thường 81/108 75
Đẻ thủ thuật 7/108 7
Mổ đẻ ( CTC không tiến triển, 
thai suy, đầu không lọt) 20/108 18 
Cách sinh ở nhóm đặt bóng không thành 
công ( CTC mở < 3cm) được gây chuyển 
dạ bằng truyền oxytocin tiếp trong 10 giờ
Đẻ thường 4/12 33,3 
Đẻ thủ thuật 2/12 16,7 
Mổ đẻ 6/12 50 
Thời gian trung bình từ khi đặt bóng đến khi tháo bóng (giờ, phút) 9,07 ± 3,40
Thời gian từ khi đặt bóng đến khi đẻ đường âm đạo (giờ, phút) 18,8 ± 5,4
Kết quả cuộc chuyển dạ trong 24 giờ
Đẻ đường âm đạo 94/120 78,3 
Mổ đẻ 26/120 21,7 
Tỷ lệ dùng oxytocin hỗ trợ cuộc chuyển dạ (%) 112/120 93,3 
Tỷ lệ sản phụ dùng giảm đau trong đẻ 98/120 81,6
Bảng 4. Kết quả về cuộc chuyển dạ
Trọng lượng trung bình (g) 3260 ± 580 gr
Sơ sinh
Số sơ sinh P>= 4000g (n) 5 (4,2 %)
Apgar 5 phút < 7 điểm (%) 1 
Sản phụ
Chảy máu sau đẻ 0
Rách CTC, AD 1
Nhiễm trùng trong đẻ 0
Nhiễm trùng sau đẻ 1
Vỡ tử cung 0
CCTC cường tính 0
Bảng 5. Kết quả về sơ sinh và sản phụ sau đẻ
Tác giả Năm NC Thiết bị sử dụng Kết quả làm mềm mở CTC
Kết quả đẻ đường 
âm đạo
Jack Atad [5] 1997 Bóng Cook 94 86,7
Elad Mei –Dan[9] 2011 Bóng Cook 99 80 
Antonella Cromi[10] 2012 Bóng Cook 91,4 68,6 
Đoàn Thị Phương Lam 2015 Bóng Cook cải tiến 90 78,3
Bảng 6. So sánh hiệu quả của ống thông hai bóng cải tiến với ống thông hai bóng nguyên bản
4. Bàn luận
Sau 1 năm ứng dụng ống thông hai bóng 
cải tiến làm mềm mở CTC gây chuyển dạ, chúng 
tôi nhận thấy đây là phương pháp cho kết quả 
thành công tương tự như ống thông hai bóng 
nguyên bản ( bóng Cook) và hầu như không gây 
tác dụng nguy hiểm cho sản phụ và thai nhi.
Từ kết quả nghiên cứu chúng tôi nhận thấy 
chỉ định đặt bóng gây chuyển dạ gặp nhiều nhất 
tại khoa Đẻ Bệnh viện PSTƯ là ở thai quá ngày 
sinh chiếm tỷ lệ 70,8 % trong khi đó chỉ định đặt 
bóng gây chuyển dạ ở các nước phát triển chủ 
yếu là do tăng huyết áp, thiểu ối [9, 10].
Sự khác biệt này là do thăm khám và chăm sóc 
thai sản của phụ nữ tại Việt Nam vẫn chưa được 
coi trọng nên có nhiều phụ nữ không chịu đi thăm 
khám thai định kỳ để được tư vấn và hỗ trợ kịp thời.
Sự thay đổi tình trạng CTC trước đặt bóng và 
sau tháo bóng có giá trị ở cả sản phụ sinh con 
so và sinh con dạ. Kết quả nghiên cứu ở bảng 3 
cho thấy điểm chỉ số Bishop CTC sau tháo bóng 
trung bình là 7 điểm và ở người con rạ cũng như 
con so, trong đó thấp nhất là 5 điểm và cao 
nhất là 10 điểm. Trong thực hành sản khoa các 
nghiên cứu đã khẳng định với chỉ số Bishop >= 
7 điểm thì gây chuyển dạ cho hiệu quả giống 
chuyển dạ tự nhiên, Bishop >= 6 điểm thì tỷ 
lệ gây chuyển dạ thành công đạt trên 90 % [2] 
[11] [12]. 
Tỷ lệ sinh đường âm đạo trong nhóm làm 
mềm mở CTC thành công đạt 90 %, ở nhóm 
không thành công được truyền oxytocin gây 
chuyển dạ tiếp cũng thu được kết quả đẻ đường 
âm đạo trong vòng 24 giờ đạt 50 %. Hầu hết 
sản phụ được sử dụng oxytocin tạo cơn co tử 
cung gây chuyển dạ tiếp sau khi làm mềm mở 
CTC (bảng 4), điều này hoàn toàn dễ hiểu bởi 
vì ống thông hai bóng cải tiến chỉ có tác dụng 
kích thích làm mềm, mở CTC chứ hầu như không 
có tác dụng gây cơn co tử cung do đó nó không 
gây cơn co tử cung cường tính, không gây vỡ 
tử cung do cơn co mạnh. Đây được coi là ưu 
điểm vượt trội của phương pháp đặt bóng so với 
phương pháp dùng thuốc vì đã có nhiều nghiên 
cứu khẳng định dùng thuốc làm mềm mở CTC 
(Prostaglandin E1, E2) gây ra những tác dụng 
nguy hại cho sản phụ và thai nhi như: cơn co tử 
cung cường tính, vỡ tử cung, suy thai [13].
Với kết quả ở bảng 5 cho thấy phương pháp 
dùng ống thông hai bóng cải tiến hầu như không 
gây tác dụng gì nguy hại cho sản phụ và thai 
nhi cả trong quá trình chuyển dạ lẫn sau đẻ. 
Trọng lượng trẻ sơ sinh trung bình là 3260 gr, 
có 5 trường hợp sinh con to trên 4000gr, những 
trường hợp này đều do dự đoán căn nặng trẻ 
bằng siêu âm trước khi gây chuyển dạ sai. Có 
1 trường hợp có dấu hiệu suy hô hấp khi sinh, 
kiểm tra trường hợp này thì chúng tôi được biết 
đây là trường hợp gây chuyển dạ vì thai chậm 
phát triển trong tử cung và cạn ối.
Bảng 6 so sánh hiệu quả của ống thông hai 
bóng cải tiến với ống thông hai bóng nguyên 
bản chúng tôi nhận thấy: mặc dù thiết bị của 
chúng tôi thô xơ, rẻ tiền nhưng hiệu quả thu 
ĐOÀN THỊ PHƯƠNG LAM, LÊ THIỆN THÁI, PHÓ THỊ QUỲNH CHÂU
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
90
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
được lại tương tự như bóng nguyên bản đắt 
tiền hơn. Vì vậy, theo chúng tôi trong điều kiện 
kinh tế nước ta chưa đủ thì việc có một phương 
pháp gây chuyển dạ mới hiệu quả, an toàn, ít 
tai biến và rẻ tiền nên được đưa vào áp dụng 
rỗng rãi ở các cơ sở sản khoa có khả năng 
phẫu thuật.
5. Kết luận
Sau một năm ứng dụng phương pháp đặt ống 
thông hai bóng cải tiến làm mềm mở CTC gây 
chuyển dạ chúng tôi rút ra được một số kết luận sau: 
Đây là phương pháp làm mềm mở CTC có hiệu quả 
thành công cao đạt 90%, an toàn, dễ thực hiện, rẻ 
tiền và ít tai biến cho cả sản phụ và thai nhi.
Tài liệu tham khảo
1. Xenakis EM, P.J., Conway DL, Langer O, Induction of labor in the 
nineties: conquesing the unfavourable cerix. Obstet Gyencol, 1997. 90: 
p. 235-9.
2. EH, B., Pelvic scoring for elective induction. Obstet Gynecol 1964. 
24: p. 266.
3. Kelly AJ, M.S., Smith L, Kavanagh J, Thomas J, Vaginal Prostagladin 
(PGE2, PGF2a) for induction of labor at term Cohrane Databse Syst Rev, 
2009(4): p. CD 000101.
4. Atad J, B.J., Calderon I, Petrikovskey BM Y, Abramovici H, 
Nonpharmaceutical ripening of the unfavourable cervix and induction of labor 
by a novel double balloon device. Obstet Gyencol, 1991. 77: p. 146-152.
5. Atad J, H.M., Auslender P, Porat - Packer T, Abramovici H, Ripening 
and dilation of the unfavourable cervix for induction of labour by a double 
balloon device: experience with 250 cases. Br J Obstet Gynaecol, 1997. 
104: p. 29-34.
6. Lê Thiện Thái, Đ.T.P.L., Nhận xét tác dụng làm mềm, mở cổ tử 
cung của ống thông hai bóng cải tiến trong gây chuyển dạ tại khoa Đẻ 
Bệnh viện Phụ sản Trung ương Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Đề tài 
nghiên cứu khoa học cấp cơ sở năm 2015, 2015.
7. Lê Thiện Thái, Đ.T.P.L., Phó Thị Quỳnh Châu, Kỹ thuật làm mềm 
mở cổ tử cung gây chuyển dạ bằng ống thông hai bóng cải tiến tại 
Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Kỷ yếu tuổi trẻ sáng tạo ngành y tế 
khu vực Hà Nội năm 2013, 2013.
8. Gynecologists, R.C.o.O.a., Induction of Labour. Evidence - Base 
Clinical Guidelines. London, UK. Royal College of Obstetricians and 
Gynaecologist, 2001. Number 9.
9. Elad Mei-Dan1, A.W., Sivan Suarez-Easton2 & Mordechai Hallak1, 
Comparison of two mechanical devices for cervical ripening: a prospective 
quasi-randomized trial. The Journal of Maternal-Fetal and Neonatal 
Medicine,, 2012. 26(6): p. 723-727.
10. Cromi A, G.F., Uccella S, et al, A randomized trial of preinduction 
cervical ripening: dinoprostone vaginal insert vernus double balloon 
catheter Am J Obstet Gynecol, 2012. 207: p. 125.e1-7.
11. luis Sanchez - Ramos, M., Induction of labor. Obstet Gynecol Clin N 
Am, 2005. 32: p. 181-200.
12. Alistair W.F.Miller, R.C., Gây chuyển dạ. Sản khoa hình minh họa, 
1989: p. 283-289.
13. Kelly AJ, M.S., Smith L, Kavanagh J,Thomas J., Vaginal prostaglandin 
(PGE2 and PGF2a) for induction of labor at term. Cochrane Database 
Syst Rev 2009, 2009. 4: p.:CD003101.

File đính kèm:

  • pdfung_dung_phuong_phap_dung_ong_thong_hai_bong_cai_tien_lam_me.pdf