Ứng dụng phương pháp đo lường bão hòa oxy máu tĩnh mạch trộn SVO2 trong hồi sức huyết động bệnh nhân phẫu thuật tim

Quá trình oxy hóa mô cơ quan đầy đủ có vai trò

bảo đảm chức năng sống của cơ thể người. Tuy

nhiên, người thầy thuốc thường gặp nhiều khó khăn

trong việc đánh giá quá trình này ở những bệnh nhân

hồi sức. Nhờ sự phát triển kỹ thuật công nghệ đo

lường huyết động và bão hòa oxy máu tĩnh mạch

trộn SO2 (mixed venous oxygen saturation) , mà các

bác sĩ lâm sàng có thêm phương tiện để đánh giá sự

oxy hóa mô trên những bệnh nhân này. Nếu việc

theo dõi cung lượng tim và khí máu động mạch giúp

đánh giá khả năng cung cấp oxy của cơ thể, thì việc

theo dõi bão hòa oxy máu tĩnh mạch trộn SO2 phản

ánh cân bằng cung - cầu oxy của cơ thể. Nó phản ánh

tình trạng sinh lý bệnh của hệ thống phổi và tuần

hoàn, vì SO2 phản ánh lượng oxy dự trữ của cơ thể

sau khi đã qua quá trình phân tách oxy tại hệ thống

mao mạch cho mô cơ quan.

pdf 7 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Ứng dụng phương pháp đo lường bão hòa oxy máu tĩnh mạch trộn SVO2 trong hồi sức huyết động bệnh nhân phẫu thuật tim", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Ứng dụng phương pháp đo lường bão hòa oxy máu tĩnh mạch trộn SVO2 trong hồi sức huyết động bệnh nhân phẫu thuật tim

Ứng dụng phương pháp đo lường bão hòa oxy máu tĩnh mạch trộn SVO2 trong hồi sức huyết động bệnh nhân phẫu thuật tim
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 11 - THÁNG 8/2015 
 46 
ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG BÃO HÒA OXY MÁU TĨNH MẠCH TRỘN SO2 
TRONG HỒI SỨC HUYẾT ĐỘNG BỆNH NHÂN PHẪU THUẬT TIM 
Huỳnh Văn Minh*, Đoàn Đức Hoằng*, Lê Nhật Anh*, Võ Đại Quyền*, Phạm Văn Huệ* 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Quá trình oxy hóa mô cơ quan đầy đủ có vai trò 
bảo đảm chức năng sống của cơ thể người. Tuy 
nhiên, người thầy thuốc thường gặp nhiều khó khăn 
trong việc đánh giá quá trình này ở những bệnh nhân 
hồi sức. Nhờ sự phát triển kỹ thuật công nghệ đo 
lường huyết động và bão hòa oxy máu tĩnh mạch 
trộn SO2 (mixed venous oxygen saturation) , mà các 
bác sĩ lâm sàng có thêm phương tiện để đánh giá sự 
oxy hóa mô trên những bệnh nhân này. Nếu việc 
theo dõi cung lượng tim và khí máu động mạch giúp 
đánh giá khả năng cung cấp oxy của cơ thể, thì việc 
theo dõi bão hòa oxy máu tĩnh mạch trộn SO2 phản 
ánh cân bằng cung - cầu oxy của cơ thể. Nó phản ánh 
tình trạng sinh lý bệnh của hệ thống phổi và tuần 
hoàn, vì SO2 phản ánh lượng oxy dự trữ của cơ thể 
sau khi đã qua quá trình phân tách oxy tại hệ thống 
mao mạch cho mô cơ quan. 
Kỹ thuật đo lường bão hòa oxy máu tĩnh mạch 
trộn SO2 được thực hiện bởi catheter Edwward 
Swan-Ganz Oximetry TD là một loại catheter động 
mạch phổi cải tiến đã được chứng nhận bởi FDA và 
đã được áp dụng tại các nước trên thế giới. Sự phát 
triển loại catheter động mạch phổi kết hợp với kỹ 
thuật đo lường oxy bằng sợ quang học cho phép người 
thầy thuốc theo dõi SO2 liên tục. Bảo hòa oxy máu 
tĩnh mạch trộn SO2 được đo từ máu trong động mạch 
phổi sau khi đã được trộn lẫn từ các nguồn máu tĩnh 
mạch trở về tim thông qua tĩnh mạch chủ trên, tĩnh 
mạch chủ dưới, từ xoang vành và từ các buồng tim 
phải. Như vậy, SO2 biểu thị giá trị trung bình về độ 
bảo hòa oxy máu tĩnh mạch của tất cả các cơ quan và 
mô cơ thể. Kỹ thuật theo dõi SO2 đã được cho là một 
phương thức theo dõi huyết động an toàn, thuận tiện 
và có độ tin cậy cao. Phương thức theo dõi diễn biến 
sinh lý huyết động này rất có ý nghĩa nhằm tìm hiểu 
hàng loạt những rối loạn về cân bằng cung - cầu oxy; 
phát hiện và chẩn đoán nhanh chóng những biến đổi 
bệnh lý; cũng như giúp hướng dẫn đưa ra liệu pháp 
điều trị can thiệp kịp thời. Điều này đặc biệt hữu ích 
trong hồi sức huyết động cho các bệnh nhân hồi sức, 
đặc biệt những bệnh nhân mổ tim vốn có rất nhiều 
nguy cơ đe dọa đến tình trạng huyết động và đe dọa 
quá trình oxy hóa của cơ thể. Tuy nhiên, cho đến nay, 
vẫn chưa có nhiều nghiên cứu sử dụng kỹ thuật SO2 
trong lĩnh vực hồi sức phẫu thuật tim, nhất là chưa có 
nghiên cứu đi sâu về mục đích cuối cùng trong lĩnh 
vực hồi sức tim phổi là nhằm đảm bảo việc cung cấp 
oxy đầy đủ đáp ứng thỏa đáng nhu cầu chuyển hóa 
của mô và các cơ quan trong cơ thể. Chính vì vậy, 
chúng tôi thực hiện chuyên đề ''Phương pháp đo 
lường và ứng dụng bão hòa oxy máu tĩnh mạch trộn 
SO2 trong hồi sức huyết động bệnh nhân phẫu thuật 
tim'' nhằm tìm hiểu: * 
1. Kỹ thuật đo lường bão hòa oxy máu tĩnh mạch 
trộn SO2 trong thăm dò huyết động. 
2. Ứng dụng lâm sàng của kỹ thuật đo lường bão 
hòa oxy máu tĩnh mạch trộn SO2 trong hồi sức huyết 
động bệnh nhân phẫu thuật tim 
II. PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG BÃO HÒA 
OXY MÁU TĨNH MẠCH TRỘN SO2 
 Bão hòa oxy máu tĩnh mạch trộn SO2 biểu thị 
kết quả của quá trình vận chuyển và tiêu thụ oxy ở 
mô: SO2 = oxy được vận chuyển đến mô - oxy tiêu 
thụ tại mô 
 Khi có nguy cơ đe dọa cân bằng cung - cầu oxy, 
cơ thể sẽ huy động các cơ chế hoạt động bù, và hiệu 
quả của các hoạt động này được phản ánh lập tức bởi 
giá trị của SO2 đo được. Nếu giá trị SO2 bình 
thường, có nghĩa là lượng oxy được cung cấp đầy đủ 
cho mô. Tuy nhiên, nếu giá trị SO2 thấp thì hoặc là 
do cung cấp oxy không đủ, hoặc là do nhu cầu tiêu 
thụ oxy tăng cao. Cho dù nguyên nhân nào thì nếu 
giá trị SO2 giảm thấp là dấu chỉ điểm rằng cơ thể 
đang ở ranh giới cuối cùng để phòng vệ và duy trì 
cân bằng cung - cầu oxy; và chúng ta cần phải can 
thiệp kịp thời. 
* Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Trung Ương Huế. 
Người chịu trách nhiệm khoa học: ThS. Đoàn Đức Hoằng 
Ngày nhận bài: 20/07/2015 - Ngày Cho Phép Đăng: 20/08/2015 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 PGS.TS. Lê Ngọc Thành 
ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG BÃO HÒA OXY MÁU TĨNH MẠCH TRỘN SO2  
 47 
2.1 . Kỹ thuật đo lường bão hòa oxy máu tĩnh 
mạch trộn SO2 
Hình 1. Catheter Swan-Ganz Oxymetry TD 
Bão hòa oxy máu tĩnh mạch trộn SO2 được đo từ 
máu trong động mạch phổi. Quan trọng là phải lấy 
mẫu máu sau khi đã trộn lẫn các nguồn máu tĩnh mạch 
trở về từ tĩnh mạch chủ trên, tĩnh mạch chủ dưới, và 
máu từ xoang vành. Bão hòa oxy máu tĩnh mạch trộn 
SO2 có thể được theo dõi liên tục bởi hệ thống 
Swan-Ganz Oxymetry TD System; hệ thống này còn 
có thể đo cung lượng tim ngắt quảng hoặc đo cung 
lượng tim liên tục theo nguyên lý pha loãng nhiệt độ 
bằng kỹ thuật catheter CCOmbo (hình 1). 
Kỹ thuật đo lường bão hòa oxy máu tĩnh mạch 
trộn SO2 dựa theo nguyên lý đo phổ quang của tia 
phản chiếu (reflection spectrophotometry) (hình 2). Sự 
lan truyền ánh sáng có bước sóng thích hợp qua một 
sợi quang học được tích hợp trong thân catheter cho 
đến đầu mút catheter đang được đặt trong mạch máu. 
Ánh sáng phản chiếu sau đó được dẫn truyền trở lại 
qua một sợi quang học thứ hai về bộ phận phân tách 
sóng quang ở trong module quang học. Module quang 
học này được kết nối vào monitor theo dõi bởi một 
cáp dẫn truyền tín hiệu. Vì phân tử hemoglobin và 
oxyhemoglobin có khả năng hấp thu các tia sáng có 
các bước sóng khác nhau, nên ánh sáng phản chiếu có 
thể được phân tích nhằm xác định tỉ lệ phần trăm bão 
hòa oxy máu tĩnh mạch trộn % SO2. 
Hình 2. Nguyên lý đo phổ quang tia phản chiếu. 
Có hai loại tia sáng có bước sóng thích hợp được 
chụp phổ quang tùy thuộc vào đặc tính hấp thu ánh 
sáng của hemoglobin và oxyhemoglobin. Một loại 
bước sóng là nhạy cảm với những biến đổi của bão 
hòa oxy, còn loại còn lại thì không. 
2.2. Những tình trạng bệnh lý làm thay đổi bất 
thường giá trị SO2 
Trong giới hạn bình thường của giá trị SO2 
(khoảng 60 – 80%), người thầy thuốc có thể đánh giá 
sự tưới máu mô là đầy đủ. Nếu SO2<60% thì cần 
nghĩ đến giảm phân tách oxy và/hoặc do tăng tiêu thụ 
oxy. Nếu SO2<40%, khả năng hoạt động bù của cơ 
thể bị hạn chế, và oxy không đủ để đáp ứng nhu cầu 
của mô. Bảng 4 minh họa những trường hợp lâm sàng 
gây nên mất cân bằng cung - cầu oxy. 
Bảng 1. Ứng dụng lâm sàng của việc theo dõi chỉ số SO2 
Tăng FiO2 Tăng vận chuyển oxy 
Tăng oxy hóa 
Hạ thân nhiệt 
Gây mê sâu 
Thuốc giãn cơ, liệt cơ 
SO2 
tăng 
Giảm nhu cầu tiêu thụ oxy 
Nhiễm trùng 
Giảm Hb Thiếu máu, chảy máu 
Giảm SaO2 Thiếu oxy tổ chức 
Giảm 
vận 
chuyển 
oxy 
Giảm cung 
lượng tim 
Giảm thể tích, sốc, 
loạn nhịp 
Tăng thân nhiệt, đau 
SO2 
giảm 
Tăng nhu cầu tiêu thụ oxy Run lạnh, co giật 
Trường hợp SO2>80% có thể do tăng cung cấp 
và/hoặc do giảm nhu cầu tiêu thụ oxy. Tăng cung cấp 
oxy có thể do tăng nồng độ oxy trong khí thở vào 
(tăng FiO2). Giảm tiêu thụ oxy có thể gặp trong 
trường hợp hạ thân nhiệt, hoặc ở những bệnh nhân 
được gây mê sâu, và đang được thở máy hoặc sử dụng 
thuốc giãn cơ. 
Kỹ thuật đặt catheter để đo áp lực động mạch phổi 
bít cũng có thể gây tăng giả tạo giá trị SO2. Nếu đo 
giá trị SO2 trong quá trình đang bơm phồng bóng ở 
đầu xa catheter để đo áp lực động mạch phổi bít 
PAWP, thì bóng phồng sẽ chặn dòng máu phía trước 
từ thất phải tống lên. Trường hợp này máu ở đầu xa 
catheter phía sau bóng phồng bị ứ đọng và sẽ tiếp tục 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 11 - THÁNG 8/2015 
 48 
hấp thu oxy từ môi trường giàu oxy xung quanh các 
phế nang làm cho bão hòa oxy tăng cao xấp xỉ với 
máu động mạch. Tuy nhiên, trường hợp tăng bão hòa 
oxy máu tĩnh mạch SO2 nhân tạo này chỉ thoáng qua 
trong quá trình đo áp lực động mạch phổi bít và sẽ 
biến mất sau khi xả xẹp bóng. 
Giá trị bão hòa oxy máu tĩnh mạch trộn có thể dao 
động từ bình thường đến tăng cao trong 1số bệnh lý làm 
ảnh hưởng đến quá trình oxy hóa mô. Có 3 cơ chế bệnh 
sinh trong những trường hợp này: do trộn lẫn với máu 
động mạch; do bất thường tái phân bố tưới máu trong 
một số trường hợp; và do thiếu oxy mô gây độc tế bào. 
- Trộn lẫn giữa máu tĩnh mạch và máu động mạch 
do hiện diện của luồng thông (shunt) giữa động - tĩnh 
mạch : trường hợp này tổng lượng oxy được vận 
chuyển (cung lượng tim x nồng độ oxy máu động 
mạch: QT(total) x CaO2) được chia làm 2 phần : một 
phần là lượng oxy thật sự được vận chuyển đến mao 
mạch để phân tách cho mô (Qc(capiliary) x CaO2); lượng 
oxy còn lại được vận chuyển qua luồng thông (shunt) 
nối tắt giữa động - tĩnh mạch mà không đi qua mô 
(Qs(shunt) x CaO2) (hình 3). 
Hình 3. Trộn lẫn máu động mạch do shunt 
 động mạch - tĩnh mạch. 
Sự phân chia luồng máu làm giảm lượng oxy vận 
chuyển thật sự đến mô, do đó tiêu thụ oxy bị giới hạn và 
nhu cầu oxy mô không được đáp ứng. Kết quả làm tăng 
quá trình thiếu oxy mô. Tuy nhiên, luồng máu qua shunt 
có giá trị SO2 như trong máu động mạch vì nó chảy tắt 
không qua mô. Nồng độ oxy máu tĩnh mạch trộn lúc này 
phản ánh sự trộn lẫn giữa luồng máu giàu oxy từ shunt 
và luồng máu sau khi rời mô. Đây là nguyên nhân tăng 
SO2 trong khi đang diễn ra quá trình thiếu oxy ở mô. 
Hiện tượng này được giải thích là một trong những cơ 
chế xảy ra trong bệnh lý sốc nhiễm trùng. 
- Những bất thường phân bố lưu lượng máu góp 
phần làm gia tăng giá trị SO2 trong trường hợp vận 
chuyển oxy không đủ. Trong một số điều kiện, cơ thể 
đáp ứng hoạt động bù bằng cách hạn chế lưu lượng 
máu đến mô có nhu cầu oxy thấp để cung cấp lưu 
lượng bổ sung cho mô có nhu cầu oxy cao hơn. Nếu 
sự tái phân bố tưới máu không xảy ra thì sẽ có hiện 
tượng thiếu oxy ở các mô không nhận đủ oxy trong 
khi ở các mô có nhu cầu oxy thấp thì lại được tưới 
máu quá mức. Máu trở về sau khi qua các mô có nhu 
cầu oxy thấp sẽ có nồng độ oxy cao gây tăng SO2 
cho dù các mô khác bị thiếu oxy. 
- Thiếu oxy mô do ngộ độc tế bào: giảm tiêu thụ oxy 
có thể do ở các mô có các men oxy hóa (oxydative 
enzymes) bị bất hoạt hoặc chỉ còn một phần chức năng. 
Điều này dẫn đến nồng độ oxy trong máu sau khi qua 
mô vẫn cao xấp xỉ trong máu động mạch và SO2 tăng 
cao. Tuy nhiên, các mô lại bị chết do thiếu oxy. Cơ chế 
này được cho là thiếu oxy do ngộ độc tế bào và điều này 
được tìm thấy ở bệnh nhân ngộ độc cyanide do sử dụng 
liệu pháp điều trị với nitroprusside. 
Khi sử dụng phương tiện theo dõi bão hòa oxy 
máu tĩnh mạch trộn SO2 liên tục, người thầy thuốc 
cần lưu ý tất cả những lần đo mà chỉ số SO2 có giá 
trị nằm ngoài giới hạn bình thường. Ngoài ra, bất kỳ 
một biến đổi >10% giá trị của chỉ số SO2 so với giá 
trị đo được trước đó (kể cả giá trị đo được lần này còn 
trong giới hạn bình thường) cũng cần phải được cân 
nhắc và phân tích kỹ nếu như giá trị bất thường này 
tồn tại kéo dài >3-5 phút. Trong trường hợp có sự biến 
đổi giá trị SO2, người thầy thuốc cần phải xác định 
nguyên nhân cụ thể bằng cách thăm khám và đánh giá 
tất cả những yếu tố ảnh hưởng đến cân bằng cung cầu 
oxy và cần phải có can thiệp điều trị kịp thời. 
2.3. Thay đổi SO2 do sự di chuyển của đầu 
catheter động mạch phổi 
Catheter đo lường chỉ số oxy cũng có thể bị đẩy 
vào sâu trong mạch máu phổi. Khi đó giá trị bão hòa 
oxy sẽ bị ảnh hưởng bởi đặc tính hấp thu của thành 
mạch máu, và đo lường SO2 có thể không chính xác 
trong một số trường hợp. Vì vậy, các thương tổn do sự 
dịch chuyển catheter có thể xảy ra do tắc nghẽn kéo 
dài hoặc do mạch máu bị căng dãn quá mức do bơm 
bóng catheter. Dịch chuyển đầu catheter thường được 
phát hiện bằng cách theo dõi đổi bất thường các giá trị 
áp lực đo ở lỗ xa phía đầu catheter và bởi hình ảnh 
trên phim x-quang. Tuy nhiên đối với loại catheter đo 
lường chỉ số oxy hóa, thì các sợi quang học có thể 
được dùng để phát hiện khu vực ngoại vi của mạng 
mạch máu phổi. Dẫn truyền ánh sánh được sử dụng để 
đo SO2 còn có thể lan truyền đến tiếp xúc thành 
mạch máu, đặc biệt trong trường hợp đầu catheter 
được đẩy quá xa vào trong các mạch máu nhỏ. Hệ 
thống đo lường chỉ số oxy hóa Edwards có thể phát 
hiện tình trạng này bằng cách báo động dấu hiệu nhịp 
đập do thành động mạch co bóp. 
Đầu catheter thường dịch chuyển trong quá trình 
thao tác phẫu thuật tim. Điều này có thể gặp khi bệnh 
nhân cử động và/hoặc kích thích trong quá trình thở 
máy. Giải pháp đặt lại vị trí catheter bằng cách xả xẹp 
bóng và kéo lùi catheter từ 1-3cm. Kiểm tra lại vị trí 
của áp lực động mạch phổi bít bằng cách bơm phồng 
bóng ở đầu catheter cho đến khi đạt được dạng sóng áp 
lực động mạch phổi bít PAWP. Nếu giá trị PAWP đã 
đạt được với thể tích bơm bóng 1,25ml, thì cần tiếp tục 
ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG BÃO HÒA OXY MÁU TĨNH MẠCH TRỘN SO2  
 49 
kéo lùi catheter sao cho vẫn được giá trị PAWP nhưng 
với thể tích bơm bóng đủ 1,5ml. Khi điều chỉnh lại vị 
trí catheter cần phải thực hiện các thao tác sau: 1) điều 
chỉnh lại báo động dấu hiệu nhịp đập động mạch; 2) 
điều chỉnh độ chính xác đo lường giá trị SO2; 3) giảm 
thiểu nguy cơ gây vỡ động mạch phổi và/hoặc nhồi 
máu phổi; 4) điều chỉnh độ chính xác khi đo cung 
lượng tim và giá trị áp lực động mạch phổi bít PAWP. 
Để có được các thông tin với độ tin cậy cao nhất, cần 
thực hành tốt một cách định kỳ việc kiểm tra vị trí đầu 
catheter trong quá trình theo dõi huyết động của bệnh 
nhân. Có nhiều cách để phát hiện sự dịch chuyển đầu 
catheter động mạch phổi với các thao tác cơ bản sau: 
- Theo dõi áp lực đầu xa của catheter: nếu đường 
biểu diễn sóng áp lực động mạch phổi bít PAWP vẫn 
đạt được sau khi đã xả xẹp bóng thì có nghĩa là đầu 
catheter đã bị dịch chuyển vào sâu. Sự xuất hiện đột 
ngột một hành động bởi thông khí nhân tạo lên hình 
dạng sóng áp lực cũng cần nghĩ đến sự dịch chuyển 
đầu catheter. 
Theo dõi thể tích bơm bóng cần thiết để đạt được 
giá trị áp lực động mạch phổi bít PAWP. Nếu đạt được 
PAWP chỉ với thể tích bơm bóng dưới 1,25ml, thì đầu 
catheter thường ở vị trí không tốt. Lúc này, đầu catheter 
thường ở vị trí trong các mạch máu nhỏ hoặc ở đoạn 
hợp lưu (bifurcation) giữa 2 nhánh động mạch phổi, và 
ở vị trí này có thể ảnh hưởng đến độ chính xác khi đo 
giá trị bão hòa oxy máu tính mạch trộn SO2. 
- Quan sát giá trị SO2 ở các thời điểm trước, trong 
và sau khi thực hiện thao tác đo áp lực động mạch phổi 
bít PAWP. Giai đoạn bơm phồng bóng catheter, giá trị 
SO2 thường tăng nhanh và đột ngột phản ánh tình 
trạng máu môi trường giàu oxy xung quanh phế nang. 
Giai đoạn xả xẹp bóng, giá trị SO2 trở về các trị số 
ban đầu ở giai đoạn trước khi đo áp lực động mạch 
phổi bít PAWP. Nếu những thay đổi này không xảy ra, 
thì cần cân nhắc điều chỉnh lại vị trí của catheter động 
mạch phổi, ngay cả trong trường hợp vẫn đạt được giá 
trị áp lực động mạch phổi bít PAWP. 
- Theo dõi báo động và cường độ nhịp đập động 
mạch. Khi có báo động này, đặc biệt nếu xuất hiện 
biểu hiện kể trên, thì khả năng rất lớn có sự dịch 
chuyển đầu catheter vào sâu làm ảnh hưởng đến giá trị 
đo lường bão hòa oxy máu tĩnh mạch trộn SO2. 
III. ỨNG DỤNG LÂM SÀNG CỦA KỸ 
THUẬT ĐO LƯỜNG SO2 
Bão hòa oxy máu tĩnh mạch trộn SO2 là một chỉ 
điểm nhạy về tình trạng bệnh nhân và thường biểu 
hiện trước khi xuất hiện các chỉ điểm khác về tình 
trạng bệnh lý tim phổi không ổn định. Phương pháp 
theo dõi liên tục SO2 giúp báo động cho người thầy 
thuốc về những biến đổi tình trạng người bệnh sớm 
hơn so với các phương thức truyền thống trước đây, 
qua đó giúp chẩn đoán và chọn liệu pháp điều trị can 
thiệp sớm hơn trong diễn tiến lâm sàng trên người 
bệnh. Về cơ bản, theo dõi giá trị SO2 là: 
- Hệ thống theo dõi và cảnh báo sớm tình trạng 
huyết động người bệnh 
- Hướng dẫn để điều chỉnh và đánh giá liệu pháp 
điều trị 
- Phương tiện để phân tích những biến đổi khác 
trên người bệnh. 
3.1. Vai trò của chỉ số SO2 trong theo dõi và 
cảnh báo sớm rối loạn huyết động 
Hình 4. Ứng dụng lâm sàng của chỉ số SO2 trong 
điều trị sau mổ 
Hình 4 mô tả khả năng duy trì bão hòa oxy máu 
tĩnh mạch trộn SO2 trong giới hạn bình thường trong 
suốt quá trình phẫu thuật kéo dài, nhưng khi chuyển 
bệnh nhân trở về phòng hồi sức thì giá trị SO2 giảm 
đột ngột còn 50%. Theo suy diễn thông thường thì 
tình trạng này có thể do cung lượng tim bị giảm sau 
tác động của quá trình phẫu thuật kéo dài. Tuy nhiên, 
khi đo cung lượng tim theo phương pháp pha lõang 
nhiệt độ thì thấy cung lượng tim ở thời điểm này đã 
tăng đáng kể (6,2 lít/phút). Quá trình thăm khám phát 
hiện bệnh nhân bị run lạnh ở giai đoạn hồi tỉnh đã làm 
tăng tiêu thụ oxy do tăng nhu cầu chuyển hóa (530ml 
O2/phút), mặc dù cơ thể đã đáp ứng trước đó với tình 
trạng này bằng cách tăng cung lượng tim. Trường hợp 
này can thiệp điều trị với liệu pháp thuốc giãn cơ làm 
giảm tiêu thụ oxy về giới hạn bình thường. Điều này 
giúp loại trừ yếu tố làm tăng nhu cầu tiêu thụ oxy, vì 
vậy cung lượng tim CO và Bão hòa oxy máu tĩnh 
mạch trộn SO2 trở về trong giới hạn bình thường. 
Hình 5. Ứng dụng lâm sàng chỉ số SO2 
trong điều trị sốc nhiễm khuẩn 
Hình 5 mô tả tình trạng trụy tim mạch nghiêm 
trọng với bão hòa oxy máu tĩnh mạch trộn SO2 giảm 
rất thấp còn 35%. Nhiều liệu pháp điều trị tăng cường 
đã được sử dụng nhưng không cải thiện bệnh. Sau vài 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 11 - THÁNG 8/2015 
 50 
giờ, giá trị SO2 tăng nhưng không xác định được 
nguyên nhân. Nguyên nhân được tìm thấy sau đó là 
bệnh nhân bị sốt cao và kết quả cấy máu bệnh nhân bị 
nhiễm trùng huyết. 
Trong trường hợp này, giá trị SO2 tăng trở lại trong 
giới hạn bình thường không phải là dấu hiệu cải thiện 
tình trạng bệnh. Mà đó là tình trạng mở shunt động - tĩnh 
mạch ngoại vi do cơ chế bệnh sinh của sốc nhiễm khuẩn 
làm tăng một lượng lớn máu giàu bão hòa oxy trở về 
tim. Tình trạng cung lượng tim tăng cao và kháng lực 
mạch máu ngoại biên giảm thấp phù hợp với bệnh lý sốc 
nhiễm khuẩn. Sự gia tăng giá trị SO2 trong giai đoạn 
sớm đang xảy ra tình trạng trụy tim mạch là một chỉ 
điểm tốt giúp phát hiện bệnh lý sốc nhiễm khuẩn. 
3.2. Vai trò của SO2 hướng dẫn và đánh giá 
hiệu quả liệu pháp điều trị huyết động 
Hình 6. Ứng dụng lâm sàng SO2 trong 
đánh giá hiệu quả liệu pháp inotrope 
Hình 6 mô tả liệu pháp truyền tĩnh mạch 
dobutamine bị gián đoạn, giá trị SO2 giảm ngay lập 
tức và duy trì mức thấp cho đến khi đường truyền 
thuốc được tái thiết lập. Điều này phản ánh sự lệ thuộc 
thuốc của người bệnh để duy trì cung lượng tim. 
Hình 7 mô tả ứng dụng lâm sàng của chỉ số SO2 
trong theo dõi và đánh giá hiệu quả của liệu pháp điều 
trị với một loại thuốc cải thiện chức năng tim khác là 
nitroprusside với mục đích làm giảm hậu gánh. Cách 
điều chỉnh liều thuốc nitroprusside theo từng nấc nhỏ 
(titration) đồng thời theo dõi cho đến khi có sự cải 
thiện bão hòa oxy máu tĩnh mạch trộn SO2 và kiểm 
tra siêu âm thấy chức năng tim cải thiện đáng kể. 
Hình 7. Ứng dụng lâm sàng SO2 trong đánh giá 
điều trị cải thiện hậu gánh 
Theo dõi liên tục bão hòa oxy máu tĩnh mạch trộn 
SO2 cũng rất hữu ích trong việc theo dõi và đánh giá 
phương thức hỗ điều trị hỗ trợ chức năng hô hấp cho 
các bệnh nhân hồi sức. Hình 8 mô tả ích lợi của việc 
theo dõi SO2 để tiến hành cai máy thở cho bệnh 
nhân. Trước đó bệnh nhân được duy trì chế độ thở 
máy với nồng độ oxy trong khí thở vào FiO2=70% và 
giá trị của chỉ số SO2 duy trì trong giới hạn bình 
thường. Việc chủ động giảm dần giá trị FiO2 không 
làm giảm giảm đáng kể giá trị của chỉ số SO2. Điều 
này có nghĩa việc giảm cung cấp oxy, thì người bệnh 
vẫn có đủ đảm bảo khả năng hoạt động vận chuyển 
oxy đến cho mô biểu hiện với kết quả khí máu vẫn tốt. 
Hình 21. Ứng dụng lâm sàng SO2 trong đánh giá 
liệu pháp cai máy thở 
Hình 7. Ứng dụng lâm sàng SO2 trong thở máy 
 áp lực dương 
Bão hòa oxy máu tĩnh mạch trộn SO2 là phương 
tiện thuận lợi và chính xác giúp điều chỉnh một cách 
nhanh chóng liệu pháp áp lực dương cuối thì thở ra 
PEEP để đạt được giá trị PEEP tối ưu mà không cần 
phải xét nghiệm khí máu và đo cung lượng tim nhiều 
lần. Vì trong nững trường hợp sử dụng PEEP cao, 
thường có mức PEEP>10cmH2O, làm ảnh giảm cung 
lượng tim do đó ảnh hưởng đến ích lợi cải thiện khí máu 
của liệu pháp PEEP. Hình 22 mô tả phương thức điều 
chỉnh giá trị PEEP theo từng nấc nhỏ (titration) đồng 
thởi theo dõi giá trị của chỉ số SO2 để đánh giá ảnh 
hưởng của việc điều chỉnh PEEP lên cung lượng tim. 
ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG BÃO HÒA OXY MÁU TĨNH MẠCH TRỘN SO2  
 51 
Có những bệnh nhân sau phẫu thuật tim cần hỗ trợ 
tuần hoàn bằng kỹ thuật bơm bóng đối xung trong 
động mạch chủ IABP. Kỹ thuật bơm bóng làm tăng 
huyết áp tâm trương, làm giảm hậu gánh thất trái, làm 
tăng tưới máu vành, do đó làm giảm tiêu thụ oxy cơ 
tim và làm giảm thiếu máu cơ tim. Theo dõi liên tục 
giá trị bão hòa oxy máu tĩnh mạch trộn SO2 có thể 
giúp đánh giá hiệu quả của liệu pháp trong giai đoạn 
cai máy IABP. Hình 9 mô tả biến thiên giá trị SO2 
giai đoạn cai máy IABP từ tỉ lệ hỗ trợ bóng đối xung 
từ 1:1 sang tỉ lệ 1:2, thì giá trị SO2 tụt giảm rất đáng 
kể. Khi chuyển lại tỉ lệ hỗ trợ bóng đối xung 1:1 thì 
giá trị SO2 cải thiện trở lại. Giá trị Bão hòa oxy máu 
tĩnh mạch trộn SO2 phản ánh sự thay đổi huyết động 
trên người bệnh rất kịp thời. 
Hình 9. Ứng dụng lâm sàng SO2 đánh giá hiệu quả 
của liệu pháp hỗ trợ tuần hoàn bằng kỹ thuật bơm 
bóng đối xung trong động mạch chủ IABP 
3.3. Vai trò chỉ số SO2 trong đánh giá các biến 
đổi bệnh lý khác 
 Một số trường hợp bệnh nhân có huyết áp bình 
thường nhưng cung lượng tim không đủ, và ngược lại 
đôi khi người bệnh có huyết áp bất thường nhưng vẫn 
có cung lượng tim đầy đủ. Theo dõi SO2 hỗ trợ 
người thầy thuốc xác định các trường hợp này. 
Huyết áp tâm thu tụt có thể biểu hiện tình trạng tưới 
máu kém. Tuy nhiên, tụt huyết áp cũng có thể biểu thị 
tình trạng giãn mạch ngoại biên và cải thiện tưới máu. 
Các liệu pháp điều trị là hoàn toàn khác nhau trong hai 
trường hợp này. Nếu huyết áp giảm xuống 20mmHg so 
với trước nhưng giá trị SO2 không biến đổi hoặc vẫn 
còn trong giá trị bình thường thì không cần can thiệp 
điều trị. Tuy nhiên, nếu huyết áp cũng giảm tương 
đương nhưng kéo theo giá trị SO2 giảm thấp so với 
trước hoặc biến đổi ngoài giới hạn bình thường thì cần 
phải có can thiệp điều trị kịp thời (bảng 2). 
Bảng 2. Vai trò chỉ số SO2 trong đánh giá biến 
đổi huyết áp 
Biến cố Tụt HA + SO2 bình thường 
Tụt HA + SO2 
giảm thấp 
Huyết áp HA giảm 20mmHg HA giảm 20mmHg 
SO2 SO2 = 70% SO2 = 45% 
Chẩn 
đoán 
HA đáp ứng nhu cầu HA không đáp ứng 
nhu cầu 
Điều trị Không can thiệp Cần điều trị kịp thời 
Giá trị bình thường của cung lượng tim CO 
thường phản ánh tình trạng cung cấp oxy đầy đủ cho 
mô cơ quan. Tuy nhiên, cung lượng tim chỉ là một 
biến số của phương trình cân bằng cung - cầu oxy sau: 
VO2 = CO x Hb x 13,8 (SaO2 – SvO2) 
Cung lượng tim không cung cấp thông tin về khả 
năng đáp ứng oxy đầy đủ theo nhu cầu tiêu thụ của 
mô. Khi cung lượng tim đạt 6 lít/phút nhưng giá trị 
bão hòa oxy máu tĩnh mạch trộn SO2 đo trong cùng 
thời điểm giảm thấp bất thường là dấu chỉ điểm gợi ý 
người thầy thuốc phải thăm khám kỹ hơn và/hoặc cần 
can thiệp điều trị kịp thời. 
Ngược lại, khi cung lượng tim giảm thấp thường 
biểu thị tình trạng cung cấp oxy không đầy đủ cho mô 
cơ quan. Tuy nhiên, nếu giá trị SO2 đo được trong 
cùng thời điểm còn duy trì giới hạn bình thường (bệnh 
nhân hạ thân nhiệt), thì với cung lượng tim 2,1 lít/phút 
vẫn đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu thụ oxy của mô. 
Khuyến cáo không cần thiết can thiệp điều trị trong 
trường hợp cung lượng tim giảm thấp nhưng có giá trị 
SO2 đo được trong cùng thời điểm đang duy trì giới 
hạn bình thường (bảng 3). 
Bảng 3. Vai trò chỉ số SO2 trong đánh giá biến 
đổi cung lượng tim 
Biến 
cố 
Tăng CO + SO2 
giảm thấp 
Giảm CO + SO2 
bình thường 
CO CO = 6 lít/phút CO = 2,1 lít/phút 
SO2 SO2 = 45% SO2 = 70% 
Chẩn 
đoán 
CO không đáp ứng 
nhu cầu 
CO đáp ứng nhu 
cầu 
Điều 
trị 
Cần can thiệp điều 
trị kịp thời 
Không can thiệp 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 11 - THÁNG 8/2015 
 52 
IV. KẾT LUẬN 
Bão hòa oxy máu tĩnh mạch trộn SO2 là một chỉ 
điểm rất nhạy cảm ngay ở giai đoạn rất sớm khi người 
bệnh không ổn định huyết động và hô hấp đặc biệt cần 
thiết theo dõi bệnh nhân sau phẫu thuật tim vốn bị tổn 
thương trực tiếp hệ thống huyết động và đòi hỏi sự 
theo dõi liên tục cũng như cần sự can thiệp điều trị kịp 
thời. Việc theo dõi giá trị bão hòa oxy máu tĩnh mạch 
trộn SO2, vì vậy, giúp người thầy thuốc đánh giá 
chính xác tình trạng huyết động của người bệnh và 
đưa ra các liệu pháp điều trị phù hợp cho bệnh nhân 
sớm hơn so với các phương pháp kinh điển trước đây 
trong lĩnh vực chẩn đoán và điều trị. Một cách tổng 
quát, theo dõi bão hòa oxy máu tĩnh mạch tộn SO2 là 
rất hữu ích trong lĩnh vực hồi sức huyết động với các 
vai trò là: 1) Hệ thống theo dõi và cảnh báo sớm tình 
trạng huyết động người bệnh; 2) Hướng dẫn để điều 
chỉnh và đánh giá liệu pháp điều trị; 3) Phương tiện để 
phân tích những biến đổi khác trên người bệnh. 
Theo dõi bão hòa oxy máu tĩnh mạch trộn SO2 
đặc biệt có ý nghĩa ở bệnh nhân có sự thiếu hụt khả 
năng dự trữ của tim. Khi suy tim, cung lượng tim 
giảm, cơ thể bù trừ bằng cách tăng khả năng phân tách 
oxy để đáp ứng với nhu cầu tiêu thụ oxy và biểu hiện 
chỉ điểm là giá trị của SO2 giảm thấp. Liệu pháp điều 
trị kịp thời tình trạng suy tim giúp cải thiện chức năng 
và đề phòng xảy ra các biến cố lâm sàng. Giá trị của 
chỉ số SO2 thay đổi liên quan đến thay đổi của các 
yếu tố đi kèm như bão hòa oxy động mạch SaO2, nồng 
độ hemoglobin, sự tiêu thụ oxy VO2 và cung lượng 
tim CO. Bão hòa oxy máu tĩnh mạch trộn SO2 giảm 
có nghĩa là do giảm cung lượng tim hoặc do tăng tiêu 
thụ oxy mất bù. Trong thực hành lâm sàng, khi giá trị 
của chỉ số SO2 biến đổi khoảng 10% so với giá trị 
bình thường là dấu hiệu cần phải can thiệp về huyết 
động. Bão hòa oxy máu tĩnh mạch trộn SO2<60% 
biểu thị tình trạng cơ thể sử dụng đáng kể khả năng dự 
trữ và sự phân tách oxy. Giá trị hòa oxy mãu tĩnh 
mạch trộn SO2<40% biểu thị tình trạng thiếu oxy mô 
nặng nguy cơ đe dọa tính mạng người bệnh. 
Tuy nhiên, để đánh giá quá trình oxy hóa ở mô cơ 
quan đòi hỏi người thầy thuốc phải thăm khám và 
đánh giá tất cả các thông số liên quan đến cân bằng 
cung - cầu oxy của cơ thể. Giá trị bão hòa oxy máu 
tĩnh mạch trộn SO2 không phản ánh những biến đổi 
của bất kỳ thông số nào của phương trình cân bằng 
cung - cầu oxy bao gồm khả năng vận chuyển oxy 
DO2 của cơ thể và nhu cầu tiêu thụ oxy VO2 của mô. 
Tuy nhiên, khác với những thông số nói trên, bão hòa 
oxy máu tĩnh mạch trộn SO2 là chỉ số giá trị đánh giá 
những biến đổi về mối tương quan tổng thể giữa khả 
năng cung ứng DO2 và nhu cầu tiêu thụ oxy VO2 của 
cơ thể; hơn nữa, bão hòa oxy máu tĩnh mạch trộn 
SO2 là chỉ số có thể đo lường được một cách đơn 
giản và chính xác trong thực hành lâm sàng. Theo dõi 
bão hòa oxy máu tĩnh mạch trộn SO2 không thay thế 
các thông số huyết động khác nhưng là phương tiện 
bổ sung giúp đánh giá quá trình oxy hóa xảy ra trong 
cơ thể qua đó có vai trò cảnh báo sớm tình trạng huyết 
động của người bệnh và hướng dẫn liệu pháp điều trị 
kịp thời và hiệu quả. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Baele PL, McMichan JC, Marsh HM, et al. 
(2012), Continuous monitoring of mixed venous 
oxygen saturation in critically ill patients. Anesth 
Analg 2012; 61(6):513-517. 
2. Birman H, Haq A, Hew E, Aberman A. (2004), 
Continuous monitoring of mixed venous oxygen 
saturation in hemodynamically unstable patients. 
Chest 2004; 86(5):753-756. 
3. De La Rocha AG, Edmonds JF, Williams WG, et 
al. (2008), Importance of mixed venous oxygen 
saturation in the care of critically ill patients. Can 
J Surg. 2008; 21(3):227-229. 
4. Gore JM, Sloan K. (2004), Use of continuous 
monitoring of mixed venous saturation in the 
coronary care unit. Chest 2004; 86(5):757-761. 
5. Jamieson WRE, Turnbull KW, Larrieu AJ, et al. 
(2012), Continuous monitoring of mixed venous 
oxygen saturation in cardiac surgery. Can J Surg. 
2012; 25(5):538-43. 
6. Martin WE, Cheung PW, Johnson CC, Wong KC. 
(2003), Continuous monitoring of mixed venous 
oxygen saturation in man. Anesth Anal. 2003; 
52(5):784-93. 
7. Sandham J. D. and al (2007), "A randomized 
controlled trial of the use of pulmonary artery 
catheters in high-risk surgical patients", New 
England Journal of Medicine. 
8. Schmidt CR, Frank LP, Forsythe SB, Estafanous 
FG. (2004), Continuous SvO2 measurement and 
oxygen transport patterns in cardiac surgery 
patients. Critical Care Med. 2004; 12(6):523-527. 
9. Sottile FD, Durbin CG, Hoyt JW, et al. (2012), 
Evaluation of pulmonary artery oximetry as a 
predictor of cardiac output. Anesth. 2012; 
57(3):AI27. 

File đính kèm:

  • pdfung_dung_phuong_phap_do_luong_bao_hoa_oxy_mau_tinh_mach_tron.pdf