Ứng dụng phẫu thuật nội soi hỗ trợ điều trị u trung thất tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp - Hải Phõng

Từ tháng 9/2013 đến 9/2015 có 5 trƣờng hợp u

trung thất đƣợc phẫu thuật nội soi cắt u tại bệnh viện

hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng. Trong đó, có 3 bệnh

nhân nam và 2 nữ; tuổi thấp nhất là 48 tuổi, cao nhất

là 72 tuổi; đƣờng kính của u lớn nhất: 4 x 6,5cm; thời

gian mổ trung bình: 120,5 ± 18 phút; thời gian hậu

phẫu trung bình: 5,5 ngày (từ 4-8 ngày); không có

biến chứng và tử vong. Mô bệnh học: U lành tính: 4

trƣờng hợp; U ác tính: 1 trƣờng hợp, trong đó: U

tuyến ức: 2 trƣờng hợp; U màng tim: 2 trƣờng hợp; U

thần kinh: 1 trƣờng hợp. Điều trị bệnh lý u trung thất

bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực là phƣơng pháp an

toàn, hiệu quả và kết quả tốt.

pdf 4 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Ứng dụng phẫu thuật nội soi hỗ trợ điều trị u trung thất tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp - Hải Phõng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Ứng dụng phẫu thuật nội soi hỗ trợ điều trị u trung thất tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp - Hải Phõng

Ứng dụng phẫu thuật nội soi hỗ trợ điều trị u trung thất tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp - Hải Phõng
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 14 - THÁNG 8/2016 
 16 
ỨNG DỤNG PHẪU THUẬT NỘI SOI HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ U TRUNG THẤT 
TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT TIỆP - HẢI PHÕNG 
Nguyễn Thế May*, Nguyễn Công Huy*, 
Đỗ Đức Thắng*, Lê Minh Sơn*, Đoàn Quốc Hưng** 
TÓM TẮT 
Từ tháng 9/2013 đến 9/2015 có 5 trƣờng hợp u 
trung thất đƣợc phẫu thuật nội soi cắt u tại bệnh viện 
hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng. Trong đó, có 3 bệnh 
nhân nam và 2 nữ; tuổi thấp nhất là 48 tuổi, cao nhất 
là 72 tuổi; đƣờng kính của u lớn nhất: 4 x 6,5cm; thời 
gian mổ trung bình: 120,5 ± 18 phút; thời gian hậu 
phẫu trung bình: 5,5 ngày (từ 4-8 ngày); không có 
biến chứng và tử vong. Mô bệnh học: U lành tính: 4 
trƣờng hợp; U ác tính: 1 trƣờng hợp, trong đó: U 
tuyến ức: 2 trƣờng hợp; U màng tim: 2 trƣờng hợp; U 
thần kinh: 1 trƣờng hợp. Điều trị bệnh lý u trung thất 
bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực là phƣơng pháp an 
toàn, hiệu quả và kết quả tốt. 
Từ khóa: U trung thất, phẫu thuật nội soi lồng 
ngực. 
SUMMARY 
From September 2013 to September 2015, we 
performed video assisted thoracoscopic surgery for 5 
cases of mediastinal tumors at Viet Tiep hospital, Hai 
Phong city. There were 3 males, 2 females; with the 
highest age was 72 years old; the largest size of 
tumors was: 4x6,5 cm; the average time of operation 
was 120 ± 18 minutes; the mean postoperative 
hospital stay was 5,5 days (range from 4-8 days); the 
Morbidity - Mortality was none. Histopathology: 
benign: 4 cases; malignant: 1 case; in which: 
thymoma: 2 cases; pericardinal cyst: 2 cases; 
neuroma: 1 case. Video assisted thoracoscopic surgery 
in management of mediastinal tumors is a safe and 
effective procedure. 
Keyword: Mediastinal tumors; video assisted 
thoracoscopic surgery. 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Có nhiều đƣờng mổ để tiếp cận và cắt u trong điều 
trị ngoại khoa u trung thất. Các đƣờng mổ kinh điển 
nhƣ mở dọc xƣơng ức toàn bộ hay một phần, mở ngực 
trƣớc bên hay sau bên hoặc có thể sử dụng đƣờng mổ 
ở cổ Tùy thuộc vào kích thƣớc, vị trí hay tính chất u 
mà chọn đƣờng mổ nào hay có thể kết hợp các đƣờng 
mổ trên. Tuy nhiên, đó là những phẫu thuật lớn và 
thƣờng để lại tình trạng hậu phẫu nặng nề. 
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của y học và 
trình độ của các phẫu thuật viên, phẫu thuật nội soi 
lồng ngực trong chẩn đoán và điều trị u trung thất 
đƣợc áp dụng rộng rãi tại các trung tâm lớn trong và 
ngoài nƣớc. Đối với điều trị ngoại khoa bệnh lý u 
trung thất, phẫu thuật nội soi lồng ngực đƣợc chỉ định 
và chấp nhận rộng rãi đối với u dạng nang, u trung 
thất lành tính, u tuyến ức có kèm theo nhƣợc cơ hay 
không [2]. * 
Tại bệnh viện hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng, 
trong nhiều năm qua, chúng tôi đã triển khai phẫu 
thuật nội soi lồng ngực một cách thƣờng quy điều trị 
bệnh lý tràn khí màng phổi tự phát, cắt hạch giao cảm 
ngực. Hiện nay, chúng tôi đang bƣớc đầu ứng dụng 
phẫu thuật nội soi lồng ngực trong chẩn đoán và điều 
trị u trung thất. Từ tháng 9 năm 2013 đến tháng 9 năm 
2015 chúng tôi đã thực hiện phẫu thuật nội soi lồng 
ngực điều trị cho 5 trƣờng hợp u trung thất. Tuy số 
lƣợng bệnh nhân còn ít, nhƣng kết quả phẫu thuật tốt 
đã bƣớc đầu khích lệ chúng tôi tiếp tục triển khai kỹ 
thuật và có những nghiên cứu với số lƣợng lớn hơn 
trong tƣơng lai. 
II. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu 
Bao gồm 5 trƣờng hợp đã đƣợc thực hiện phẫu 
thuật nội soi lồng ngực cắt u trung thất tại khoa Phẫu 
thuật Lồng ngực – tim mạch, bệnh viện hữu nghị Việt 
Tiệp Hải Phòng trong khoảng thời gian từ tháng 
9/2013 đến 9/2015. 
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 
- Mô tả hồi cứu 
- Thu thập số liệu từ hồ sơ bệnh án vào bệnh 
án mẫu 
* Bệnh viện hữu nghị Việt Tiệp 
** Bệnh viện hữu nghị Việt Đức 
Người chịu trách nhiệm khoa học: PGS.TS. Đoàn Quốc Hưng 
Ngày nhận bài: 18/06/2016 - Ngày Cho Phép Đăng: 18/08/2016 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 GS.TS. Lê Ngọc Thành 
ỨNG DỤNG PHẪU THUẬT NỘI SOI HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ U TRUNG THẤT TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT TIỆP  
 17 
- Trƣớc mổ tất cả các bệnh nhân đƣợc khám lâm 
sàng, làm đầy đủ các xét nghiệm cơ bản và chỉ điểm 
u, CT-scanner lồng ngực, đo chức năng hô hấp. 
- Các vấn đề nghiên cứu: tuổi, giới, triệu chứng 
lâm sàng, cận lâm sàng (CT-scanner lồng ngực, giải 
phẫu bệnh lý), kết quả phẫu thuật, biến chứng trong 
và sau mổ, thời gian nằm viện sau mổ, kết quả sau 
mổ, so sánh, đối chiếu với các tác giả khác. 
2.3. Quy trình phẫu thuật 
- Tƣ thế bệnh nhân, cách thức gây mê và vị trí 
chọn đặt trocar vào lồng ngực để tiếp cận u và thực 
thiện thao tác phẫu thuật phụ thuộc vào vị trí của u 
nằm ở trung thất trƣớc hay trung thất sau; ở bên phải 
hay bên trái 
- Dụng cụ phẫu thuật: bộ dụng cụ nội soi ổ bụng 
- Phƣơng pháp vô cảm: bệnh nhân đƣợc gây mê 
nội khí quản hai nòng, thông khí một phổi, không 
bơm khí CO2 trong mổ 
- Tƣ thế bệnh nhân: bệnh nhân có thể đƣợc đặt 
nằm ngửa nghiêng sang bên đối diện với bên thực 
hiện phẫu thuật 450, hoặc bệnh nhân có thể đƣợc đặt 
nằm nghiêng về bên đối diện 900. 
- Vị trí đặt trocar: thông thƣờng đặt 3 trocar theo 
nguyên tắc “tam giác dụng cụ”: trocar thứ nhất đặt ở 
khoang liên sƣờn V-VI đƣờng nách giữa để đƣa 
camera vào lồng ngực quan sát; trocar thứ hai đặt ở 
khoang liên sƣờn III đƣờng nách trƣớc – giữa; trocar 
thứ ba đặt ở khoang liên sƣờn IV đƣờng giữa đòn – 
nách trƣớc. Trocar thứ hai và ba để đƣa dụng cụ phẫu 
thuật vào lồng ngực thực hiện thao tác. 
- Đánh giá vị trí, kích thƣớc, tính chất và liên quan 
của khối u với những tổ chức, cơ quan lân cận nhƣ 
mạch máu, thần kinh, khí phế quản, tim Tiến hành 
phẫu tích và cắt u, lấy u ra ngoài lồng ngực bằng túi 
nylon vô trùng kết hợp có mở nhỏ ngực hỗ trợ ở tại vị 
trí đặt trocar (chiều dài đƣờng mổ từ 3-5cm tùy thuộc 
kích thƣớc khối u), trƣờng hợp là u nang nƣớc lớn có 
thể chọc hút nƣớc trƣớc khi lấy u ra ngoài lồng ngực. 
Kiểm tra và cầm máu các diện phẫu thuật. Dẫn lƣu 
khoang màng phổi với 1 ống silicon 32F dƣới hƣớng 
dẫn camera để dẫn lƣu dịch, trƣờng hợp cần thiết có 
thể đặt thêm 01 ống dẫn lƣu silicon 18F để hút khí, 
hút dẫn lƣu với áp lực âm 20cm H20, nở phổi trƣớc 
khi rút hết các trocar và đóng ngực. Khối u lấy ra 
đƣơc gửi làm giải phẫu bệnh lý. Sau phẫu thuật bệnh 
nhân đƣợc theo dõi tình trạng lâm sàng, dẫn lƣu ngực, 
các biến chứng, tập thở, 
2.4. Đánh giá kết quả sớm sau mổ 
- Kết quả tốt: thực hiện thành công phẫu thuật nội 
soi, không có biến chứng 
- Kết quả trung bình: thực hiện thành công phẫu 
thuật nội soi với tai biến nhỏ đƣợc xử trí tốt bằng nội 
soi, biến chứng sau mổ nhƣng không phải mổ lại, 
không cắt đƣợc toàn bộ u mà phải để lại một phần mô 
khối u do dính vào các cấu trúc lân cận. 
- Kết quả xấu: không thực hiện đƣợc phẫu thuật 
nội soi mà phải mở ngực để cắt u, hoặc xử trí các biến 
chứng nhƣ chảy máu, Các biến chứng sau mổ nhƣ 
chảy máu, xẹp phổi, nhiễm trùng khoang màng phổi 
mà phải mổ lại để xử trí biến chứng. 
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 
3.1. Đặc điểm chung 
- Có 5 bệnh nhân với 3 nam và 2 nữ; thấp nhất là 
48 tuổi, cao nhất là 72 tuổi. 
- Đặc điểm lâm sàng: 
Bảng 1. Dấu hiệu lâm sàng: 
Dấu hiệu lâm sàng Số bệnh nhân 
Mệt mỏi, ăn uống kém 3 
Nuốt nghẹn 0 
Khó thở 1 
Khàn tiếng 1 
Nhƣợc cơ 2 
Tức ngực 1 
3.2. Vị trí khối u trong trung thất: Có 4 trƣờng 
hợp khối u nằm ở trung thất trƣớc, giữa, 1 trƣờng hợp 
khối u nằm ở trung thất sau, không có trƣờng hợp nào 
u xâm lấn vào mạch máu, thần kinh, phế quản 
3.3. Kích thƣớc khối u: 100% bệnh nhân đƣợc 
chụp X-quang và CT-scanner lồng ngực xác định. 
Kích thƣớc khối u trung thất đo đƣợc trên phim chụp 
CT-scanner lồng ngực: kích thƣớc nhỏ nhất là: 2cm x 
3cm; lớn nhất là 4cm x 6,5cm. 
3.4. Quy trình phẫu thuật: Tất cả 5 trƣờng hợp 
đƣợc gây mê nội khí quản 2 nòng, bệnh nhân đƣợc 
đặt nằm ngửa nghiêng sang trái 450, xẹp phổi bên 
phải, đặt 3 trocar tiếp cận u từ phía ngực bên phải. 
Cả 5 trƣờng hợp đƣợc phẫu thuật cắt u hoàn toàn 
qua nội soi, không có biến chứng xảy ra trong mổ. 
Thời gian phẫu thuật trung bình 120,5 ± 18 phút 
(từ 90 – 150 phút) 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 14 - THÁNG 8/2016 
 18 
3.5. Tính chất khối u: U đặc: 3 trƣờng hợp; u 
nang 2 trƣờng hợp 
3.6. Kết quả giải phẫu bệnh lý khối u: 
Bảng 2. Kết quả giải phẫu bệnh lý 
Kết quả giải phẫu bệnh khối u Số bệnh nhân 
U tuyến ức (Thymoma) 2 
U thần kinh (Neuroma) 1 
U nang (màng tim – pericardinal 
cyst) 
2 
3.7. Thời gian rút dẫn lƣu ngực: Thời gian rút 
dẫn lƣu ngực trung bình là 3,6 ngày (từ 2 – 5 ngày). 
3.8. Các biến chứng sau mổ: Không có biến 
chứng trong và sau mổ nhƣ chảy máu, suy hô hấp, 
nhiễm trùng vết mổ, tràn dịch, tràn khí khoang màng 
phổi.... 
3.9. Thời gian nằm viện trung bình sau mổ: 
Thời gian nằm viện sau mổ trung bình là 5,5 ngày (từ 
4 – 8 ngày). 
3.10. Kết quả sau mổ: Các bệnh nhân đƣợc hẹn 
khám lại định kỳ sau mổ, tình trạng lâm sàng tốt, 
không khó thở, rất ít đau vết mổ, không có biến 
chứng. 
IV. BÀN LUẬN 
4.1.Chỉ định phẫu thuật nội soi điều trị u trung 
thất. Phẫu thuật nội soi lồng ngực trong bệnh lý u 
trung thất đem lại nhiều lợi ích trong việc chẩn đoán 
cũng nhƣ điều trị bệnh.Trong chẩn đoán, phẫu thuật 
nội soi có vai trò vƣợt trội hơn so với các phƣơng 
pháp khác [2], đó là có thể tiếp cận đƣợc tất cả các 
vùng của trung thất nhƣ trung thất sau, đỉnh phổi mà 
nội soi trung thất không thể tiếp cận đƣợc, hay u trung 
thất trƣớc chƣa lan đến thành ngực, khó tiếp cận qua 
mở trung thất trƣớc. Phẫu thuật nội soi còn đánh giá 
đƣợc mức độ xâm lấn, giai đoạn và khả năng phẫu 
thuật triệt căn. Hơn nữa, phẫu thuật nội soi giúp lấy 
đƣợc bệnh phẩm đủ lớn để làm xét nghiệm định danh 
và phân biệt các loại u trung thất. Trong điều trị, phẫu 
thuật nội soi đem lại nhiều lợi ích nhƣ ít đau sau mổ, ít 
nguy cơ nhiễm trùng vết mổ, bệnh nhân nhanh hồi 
phục, sẹo mổ nhỏ đẹp, có tính thẩm mỹ cao, ngƣời 
bệnh có thể sớm xuất viện và trở lại với công việc, do 
đó góp phần giảm chi phí điều trị [2],[5]. 
Theo kết quả nghiên cứu của các tác giả [5], u 
trung thất rất đa dạng, chiếm tỷ lệ cao nhất trong 
nhóm u đặc là u thần kinh và thƣờng nằm ở trung thất 
sau. U tuyến ức, u lymphom và tiếp đến là u tế bào 
mầm thƣờng xuất phát ở trung thất trƣớc, trên. U nang 
đứng hàng thứ hai hay thứ ba và thƣờng xuất phát từ 
màng tim, từ phế quản, màng phổi và thƣờng ở trung 
thất giữa. 
Nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng: phẫu 
thuật nội soi điều trị u trung thất nên đƣợc chỉ định 
với những trƣờng hợp khối u lành tính hoặc những tổn 
thƣơng ác tính giai đoạn sớm [7],[8],[9]. Với những u 
trung thất nói chung, nên chỉ định phẫu thuật nội soi 
khi u có kích thƣớc dƣới hoặc bằng 8cm [3],[6]. Các 
tác giả khuyến cáo khi phẫu thuật không đƣợc làm vỡ 
u, phải cắt bỏ trọn u, lấy u ra ngoài trong túi nylon và 
gây mê nội khí quản Carlen làm xẹp phổi chọn lọc 
một bên mà không cần bơm CO2 tránh làm gieo rắc tế 
bào ung thƣ trong lồng ngực và vào các vết mổ trên 
lồng ngực [5],[10],[11],[12],[13],[14]. Với u tuyến ức 
nên chỉ định khi u ở giai đoạn I theo phân loại của 
Masaoka [3],[6]. Mục đích của phẫu thuật là cắt bỏ 
đƣợc hết tuyến và phần mỡ trung thất trƣớc. 
Về kỹ thuật mổ, cách tiếp cận và lấy u: đƣờng mổ 
bên nào tùy thuộc vào vị trí u đánh giá trên phim chụp 
CT ngực xem u nằm ƣu thế về bên trái hay phải. Nếu 
u nằm lệch về bên trái thì nên chọn đƣờng vào từ phía 
ngực trái. Tuy nhiên, cách tiếp cận từ bên trái thƣờng 
gặp khó khăn vì vƣớng quai động mạch chủ và khó 
kiểm soát tĩnh mạch vô danh và tĩnh mạch chủ trên. 
Khi u nằm ở giữa hoặc lệch bên phải nên chọn cách 
tiếp cận từ ngực phải vì giúp thuận lợi quan sát rõ các 
mốc giải phẫu, dễ kiểm soát tĩnh mạch chủ trên và 
tĩnh mạch vô danh. [1],[4]. 
Nói chung cho đến nay, phẫu thuật nội soi lồng 
ngực đã đƣợc ứng dụng để cắt bỏ u trung thất trong 
các bệnh lý ngoại khoa nhƣ: u thần kinh, u tuyến ức, u 
teratoma, các nang màng tim, nang phế quản, Cũng 
nhƣ mổ nội soi các bệnh lý khác, khi kíp mổ đƣợc đào 
tạo thành thạo và có trang thiết bị hiện đại thì các 
bệnh lý ngoại khoa trong lồng ngực đều có thể thực 
hiện đƣợc qua phẫu thuật nội soi bao gồm cả những 
phẫu thuật nội soi bằng Rô bốt [5]. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 4 trƣờng hợp 
u nằm ở trung thất trƣớc, giữa, 1 trƣờng hợp u nằm ở 
trung thất sau. Cả 5 trƣờng hợp chúng tôi đều chọn 
cách tiếp cận từ ngực phải, gây mê nội khí quản 
Carlen, xẹp phổi phải trong khi phẫu thuật. Kích 
thƣớc khối u nhận định trong mổ phù hợp với kích 
ỨNG DỤNG PHẪU THUẬT NỘI SOI HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ U TRUNG THẤT TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT TIỆP  
 19 
thƣớc khối u đo đƣợc trên phim chụp CT-scanner lồng 
ngực trƣớc mổ, kích thƣớc u lớn nhất là 4 x 6,5cm, kết 
quả giải phẫu bệnh là u nang (màng tim) nằm ở trung 
thất trƣớc giữa, trƣờng hợp này sau khi cắt u và cho 
vào túi nylon, chúng tôi mở nhỏ ngực 4cm tại vị trí đã 
đặt trocar để lấy u ra. 2 trƣờng hợp u tuyến ức có 
nhƣợc cơ, trong đó có 1 trƣờng hợp nhƣợc cơ độ I và 
1 trƣờng hợp nhƣợc cơ độ IIA theo phân loại lâm sàng 
của Hiệp hội nhƣợc cơ Hoa Kỳ (MGFA: Myasthenia 
Gravis Foundation of America) [4], kích thƣớc khối 
u: 2x3cm, chúng tôi đã cắt bỏ toàn bộ tuyến ức và tổ 
chức mỡ ở trung thất trƣớc. Hai trƣờng hợp này đều 
đã đƣợc điều trị thuốc ức chế miễn dịch (Prostigmin 
và Corticoid) ổn định trƣớc khi phẫu thuật, sau phẫu 
thuật tiếp tục đƣợc theo dõi và phối hợp điều trị nội 
khoa bệnh lý nhƣợc cơ. 
4.2 Về kết quả điều trị phẫu thuật. Các tác giả 
đều cho rằng, trong trƣờng hợp u có kích thƣớc lớn, 
hoặc xâm lấn vào các tổ chức nhƣ mạch máu, thần 
kinh hay phế quản, hoặc trƣờng hợp có biến chứng 
chảy máu khó kiểm soát đƣợc bằng nội soi thì phải 
chuyển mổ mở sớm để thực hiện phẫu thuật cho an 
toàn. Cả 5 trƣờng hợp trong nghiên cứu chúng tôi 
không gặp nhiều khó khăn trong quá trình phẫu tích 
và cắt trọn u hoàn toàn qua nội soi. Không có trƣờng 
hợp nào biến xảy ra chứng chảy máu trong và sau 
phẫu thuật; không có trƣờng hợp nào suy hô hấp và 
nhiễm trùng sau mổ. Quá trình điều trị sau mổ diễn 
biến thuận lợi, thời gian phẫu thuật trung bình là 
120,5 ± 18 phút (từ 90 – 150 phút), thời gian trung 
bình rút dẫn lƣu là 3,5 ngày (2-5 ngày), thời gian 
nằm viện sau mổ trung bình là 5,5 ngày (từ 4 – 8 
ngày). Sau mổ bệnh nhân đƣợc hẹn khám lại định kỳ, 
hai bệnh nhân sau mổ cắt u tuyến ức đƣợc tiếp tục 
theo dõi và điều trị theo chuyên khoa nội thần kinh, 
không có bệnh nhân nào có biến chứng, sẹo mổ đẹp, 
rất ít đau sau mổ. 
V. KẾT LUẬN 
Tuy số lƣợng bệnh nhân còn ít, tình trạng bệnh 
nhân trƣớc mổ không nặng nhƣng kết quả ban đầu 
tốt cho thấy phẫu thuật nội soi lồng ngực điều trị u 
trung thất có thể triển khai một cách an toàn, hiệu 
quả và có nhiều lợi ích, mở ra triển vọng điều trị 
với số lƣợng bệnh nhân lớn hơn và phức tạp hơn 
trong tƣơng lai. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Huỳnh Quang Khánh (2015). Nghiên cứu kết quả 
điều trị u trung thất nguyên phát bằng phẫu thuật 
nội soi lồng ngực, Luận án tiến sĩ y học, Trƣờng 
đại học Y dƣợc thành phố Hồ Chí Minh. 
2. Huỳnh Quang Khánh (2008). Nghiên cứu ứng 
dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực cắt tuyến hung 
trong điều trị bệnh nhƣợc cơ. Tạp chí Y học 
Thành phố Hồ Chí Minh, Tập 13, phụ bản số 1, 
Nghiên cứu chuyên đề ngoại khoa: 75-80. 
3. Trần Minh Bảo Luân (2007). Đánh giá kết quả 
phẫu thuật nội soi lồng ngực trong chẩn đoán và 
điều trị u trung thất. Tạp chí Y học Thành Phố Hồ 
Chí Minh, Tập 11, phụ bản số 1, Nghiên cứu Y 
học chuyên đề ngoại khoa 356. 
4. Phạm Hữu Lƣ (2015). Nghiên cứu điều trị u 
trung thất bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực tại 
bệnh viện Việt Đức, Luận án tiến sĩ y học, Trƣờng 
Đại học Y Hà Nội. 
5. Nguyễn Công Minh (2012). Hiệu quả ung thƣ học 
trong phẫu thuật cắt rộng tuyến ức qua nội soi – 
điều trị bệnh nhƣợc cơ – có u (Nghiên cứu đa 
trung tâm: Bệnh viện Chợ Rẫy, bệnh viện Đại học 
Y dƣợc, bệnh viện Cấp cứu Trƣng Vƣơng). Tạp 
chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, Tập 16, phụ 
bản số 1. 
6. Văn Tần và Cs (2010). Phẫu thuật bƣớu trung thất 
qua nội soi lồng ngực. Tạp chí Y học Thành phố 
Hồ Chí Minh, Tập số 4, phụ bản số 14. 
7. Mai Văn Viện (2010). Ứng dụng phẫu thuật nội 
soi lồng ngực điều trị u trung thất tại bệnh viện 
103. Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, Tập 
14, phụ bản số 4. 
8. Alberto de Hoyos, Amit Patel, Ricardo S. Santos, 
and Rodney J. Landreneau (2005). Video – 
assisted thoracic surgery for mediastinal tumors 
and other diseases within the mediastinum. 
General Thoracic Surg; 2: 2455 – 2476. 
9. Beau V. Duwe, Daniel H. Sterman and Ali I. 
Musani (2005). Tumors of the Mediastinum. 
Chest 128; 2893-290. 
10. Huang J, Rizk NP, Travis WD et al (2009). 
Comparison of patterns of relapse in thymic 
carcinoma and thymoma. Thoracic and 
Cardiovasc Surg. 138, 1, pp26-31. 

File đính kèm:

  • pdfung_dung_phau_thuat_noi_soi_ho_tro_dieu_tri_u_trung_that_tai.pdf