Ứng dụng kỹ thuật prenatal bobs chẩn đoán trước sinh một số bất thường nhiễm sắc thể tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội

Trong chẩn đoán trước sinh các bất thường nhiễm sắc thể (NST), kỹ

thuật nuôi cấy tế bào ối hiện vẫn là tiêu chuẩn vàng,tuy nhiên các kỹ thuật

sinh học phân tử gần đây đã giúp chẩn đoán sớm bất thường NST thường

gặp như hội chứng Down, hội chứng Edwards, trong 24 – 48 giờ. Và đặc

biệt kỹ thuật Prenatal-BoBs (BACs – on – Beads) có khả năng chẩn đoán

9 hội chứng vi mất đoạn NST mà các kỹ thuật khác còn hạn chế.

Mục tiêu: Đánh giá kết quả kỹ thuật Prenatal BoBs trong chẩn đoán

trước sinh một số bất thường NST.

Đối tượng, phương pháp nghiên cứu: 189 mẫu dịch ối của thai nhi tuổi

thai 17 – 26 tuần có nguy cơ cao bất thường NST tại bệnh viện Phụ

Sản Hà Nội từ 05/2016 – 02/2017, được thực hiện đồng thời 2 kỹ thuật:

Prenatal BoBs và nuôi cấy tế bào ối.

Kết quả: Prenatal BoBs phát hiện 13 trường hợp bất thường NST

(6,93%): 9 trường hợp trisomy 21, 2 trường hợp trisomy 18, 1 trường hợp

trisomy 13, 1 trường hợp Turner. Kết quả hoàn toàn tương đồng với kết

quả nuôi cấy tê bào ối, chỉ có 1 trường hợp kết quả Prenatal BoBs bình

thường nhưng nuôi cấy tế bào ối cho kết quả tam bội(69, XXX).

Kết luận: Prenatal BoBs là xét nghiệm có độ chính xác cao, thời gian

thực hiện ngắn giúp chẩn đoán sớm các bất thường NST

pdf 4 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Ứng dụng kỹ thuật prenatal bobs chẩn đoán trước sinh một số bất thường nhiễm sắc thể tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Ứng dụng kỹ thuật prenatal bobs chẩn đoán trước sinh một số bất thường nhiễm sắc thể tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội

Ứng dụng kỹ thuật prenatal bobs chẩn đoán trước sinh một số bất thường nhiễm sắc thể tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội
NGUYỄN DUY ÁNH, ĐINH THUÝ LINH, HOÀNG HẢI YẾN
30
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
Nguyễn Duy Ánh, Đinh Thuý Linh, Hoàng Hải Yến 
Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội
ỨNG DỤNG KỸ THUẬT PRENATAL BOBS CHẨN ĐOÁN 
TRƯỚC SINH MỘT SỐ BẤT THƯỜNG NHIỄM SẮC THỂ 
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Đinh Thúy Linh, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 01/03/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
15/03/2017
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 28/04/2017
Từ khóa: BACs-on-beads, chẩn 
đoán trước sinh, bất thường 
nhiễm sắc thể.
Keywords: BACs - on – beads, 
prenatal diagnosis, aneuploidy.
Tóm tắt
Trong chẩn đoán trước sinh các bất thường nhiễm sắc thể (NST), kỹ 
thuật nuôi cấy tế bào ối hiện vẫn là tiêu chuẩn vàng,tuy nhiên các kỹ thuật 
sinh học phân tử gần đây đã giúp chẩn đoán sớm bất thường NST thường 
gặp như hội chứng Down, hội chứng Edwards,trong 24 – 48 giờ. Và đặc 
biệt kỹ thuật Prenatal-BoBs (BACs – on – Beads) có khả năng chẩn đoán 
9 hội chứng vi mất đoạn NST mà các kỹ thuật khác còn hạn chế. 
Mục tiêu: Đánh giá kết quả kỹ thuật Prenatal BoBs trong chẩn đoán 
trước sinh một số bất thường NST. 
Đối tượng, phương pháp nghiên cứu: 189 mẫu dịch ối của thai nhi tuổi 
thai 17 – 26 tuần có nguy cơ cao bất thường NST tại bệnh viện Phụ 
Sản Hà Nội từ 05/2016 – 02/2017, được thực hiện đồng thời 2 kỹ thuật: 
Prenatal BoBs và nuôi cấy tế bào ối. 
Kết quả: Prenatal BoBs phát hiện 13 trường hợp bất thường NST 
(6,93%): 9 trường hợp trisomy 21, 2 trường hợp trisomy 18, 1 trường hợp 
trisomy 13, 1 trường hợp Turner. Kết quả hoàn toàn tương đồng với kết 
quả nuôi cấy tê bào ối, chỉ có 1 trường hợp kết quả Prenatal BoBs bình 
thường nhưng nuôi cấy tế bào ối cho kết quả tam bội(69, XXX). 
Kết luận: Prenatal BoBs là xét nghiệm có độ chính xác cao, thời gian 
thực hiện ngắn giúp chẩn đoán sớm các bất thường NST.
Từ khoá: BACs-on-beads, chẩn đoán trước sinh, bất thường nhiễm 
sắc thể.
Abstract 
IMPLEMENTATION OF PRENATAL BOBS IN PRENATAL 
DIAGNOSIS CHROMOSOMAL ABNORMALITY IN HANOI 
OBSTETRICS AND GYNECOLOGY HOSPITAL 
Among chromosome abnormality prenatal diagnosis tests, 
karyotyping is still the golden standard, however recent development 
of other bio-molecular techniques also provided the possibility to early 
diagnose and detect syndromes such as Down, Patau, Edwards, or 
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 30 - 33, 2017
31
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
1. Đặt vấn đề
Trong các bất thường bẩm sinh thì hiện nay 
bất thường nhiễm sắc thể (NST) vẫn là một vấn 
đề lớn nhận được nhiều sự quan tâm trong ngành 
sản phụ khoa thế giới nói chung và ở Việt Nam 
nói riêng do những biểu hiện nặng nề, đặc biệt 
là đa dị tật về hình thái, chậm phát triển trí tuệ 
và không có biện pháp điều trị đặc hiệu. Trên thế 
giới các chương trình sàng lọc chẩn đoán trước 
sinh đã và đang được phát triển mạnh mẽ nhằm 
chẩn đoán sớm các trường hợp bất thường nhiễm 
sắc thể, từ đó đưa ra tư vấn di truyền với từng 
trường hợp cụ thể, đặc biệt là dừng thai nghén 
sớm theo nguyện vọng của gia đình với những 
trường hợp thai nhi mắc bất thường di truyền 
nặng như hội chứng Edwards, hội chứng Patau, 
hội chứng Down,hay các hội chứng vi mất đoạn 
nhiễm sắc thể như hội chứng DiGeorge, Williams-
Beuren, Prader -Willi, Angelman, Smith-Magenis, 
Wolf-Hirschhorn, Cri du Chat, Langer-Giedion, và 
Miller-Dieker...[1],[2]. Nuôi cấy tế bào ối hiện nay 
vẫn là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán trước sinh 
các bất thường nhiễm sắc thể, tuy nhiên hạn chế 
của phương pháp này là có thể bỏ sót các trường 
hợp vi mất đoạn nhiễm sắc thể và thời gian trả kết 
quả kéo dài (3 tuần), do đó sự phát triển mạnh mẽ 
của các kỹ thuật sinh học phân tử trong thời gian 
gần đây đã giúp cho việc chẩn đoán và phát hiện 
sớm các bất thường NST 13, 18, 21, X và Y chỉ sau 
24 – 48 giờ, như kỹ thuật lai huỳnh quang tại chỗ 
(FISH), phản ứng chuỗi huỳnh quang định lượng 
(QF-PCR) và kỹ thuật sử dụng mẫu dò đặc hiệu 
được khuếch đại từ phản ứng PCR (MLPA)[1],[3]. 
Và đặc biệt sự ra đời của kỹ thuật Prenatal-BoBs là 
một bước tiến vượt bậc không chỉ phát hiện các đột 
biến lệch bội NST mà còn có khả năng chẩn đoán 
9 hội chứng vi mất đoạn thường gặp gây nên các 
biểu hiện nặng nề ở trẻ bị mắc mà các kỹ thuật 
khác còn hạn chế [4],[5].
Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá kết quả kỹ thuật 
Prenatal BoBs trong chẩn đoán trước sinh một số 
bất thường NST. 
defects in sex-determination chromosome after 24-48 hours. Particularly, Prenatal BoBs technique 
can diagnose 9 popular chromosomal micro-deletion syndromes causing serious symptoms among 
children, which other techniques still have limited detecting capability. 
Objective: Evaluate the result of Prenatal BoBs technique in prenatal diagnosis of several 
chromosomal abnormalities.
Subject - Methodology: Prenatal BoBs testing was applied to 189 amniocentesis samples of 17-26 
week of gestation with high risk of chromosomal abnormality in Hanoi Obstetrics and Gynecology 
Hospital from 05/2016 – 02/2017. Aside from Prenatal BoBs technique, karyotyping was also applied. 
Result: Prenatal BoBs was able to identify 13 cases of chromosomal abnormality (6.93%), among 
which 09 cases of trisomy 21, 02 cases of trisomy 18, 01 case oftrisomy 13, 01 case of Turner 
syndrome; which karyotyping provided similar results. There was only 1 case which Prenatal BoBs 
provided normal result, while karyotyping diagnosed triplody (69, XXX).
Conclusion: Prenatal BoBs is a genetic test capable of providing highly accurate results in a rather 
short time (48h), which able to early diagnose abnormality of chromosome 13, 18, 21 and 23.
Keywords: BACs - on – beads, prenatal diagnosis, aneuploidy.
Mô hình nghiên cứu
3. Kết quả
4. Bàn luận
Chỉ đinh chọc hút nước ối làm xét nghiệm chẩn 
đoán bất thường NST của 189 bệnh nhân được 
NGUYỄN DUY ÁNH, ĐINH THUÝ LINH, HOÀNG HẢI YẾN
32
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những thai phụ tuổi 
thai từ 17 – 26 tuần đến khám thai tại Bệnh viện 
Phụ Sản Hà Nội có chỉ định chọc hút nước ối và tự 
nguyện chọc ối làm xét nghiệm nhiễm sắc đồ qua 
nuôi cấy tế bào ối và xét nghiệm Prenatals BoBs.
Chỉ định chọc hút nước ối:
− Tuổi mẹ ≥ 35 tuổi
− Xét nghiệm sàng lọc có kết quả nguy cơ cao
− Siêu âm có bất thường hình thái thai nhi
− Tăng khoảng sáng sau gáy 
− Tiền sử sinh con có dị tật,...
Nguyên lý kỹ thuật: Kỹ thuật BoBs (BACs-on-
Beads) dựa trên nguyên tắc sử dụng mẫu dò là các 
dòng nhiễm sắc thể nhân tạo có chứa các đoạn 
ngắn DNA của người có gắn các hạt bead, thông 
qua sự khác biệt giữa DNA mẫu với DNA chứng 
để phát hiện các trường hợp mất đoạn hoặc nhân 
đoạn trên DNA dựa trên khả năng bắt cặp giữa 
các DNA dò với một mạch đơn của DNA mẫu theo 
nguyên tắc bổ sung giữa các base khi phản ứng lai 
xảy ra. DNA mẫu sau khi được tách chiết sẽ cùng 
với DNA chứng đi qua bước gắn chất đánh dấu 
biotin, làm sạch rồi được lai với các DNA dò trên 
các bead. Các hạt bead khác nhau được gắn DNA 
dò khác nhau (5 đầu dò khác nhau được sử dụng 
cho mỗi nhiễm sắc thể 13, 18, 21, X và Y cùng với 
4 tới 8 đầu dò khác nhau cho mỗi vùng liên quan 
tới vi mất đoạn). Cuối cùng là bước gắn các phân 
tử đánh dấu vào DNA mẫu. Các hạt bead sẽ được 
đọc trên hệ thống máy quét Luminex 200 để đo 
lượng tín hiệu huỳnh quang của DNA chứng và 
DNA mẫu. Số liệu được phân tích bởi phần mềm 
chuyên dụng Bobsoft, kết quả cuối cùng thể hiện 
dưới dạng tỷ lệ giữa số lượng tín hiệu huỳnh quang 
của DNA mẫu trên số lượng tín hiệu huỳnh quang 
của DNA chứng, từ đó nhận định về tình trạng 
dị bội của các nhiễm sắc thể trong vùng thiết kế 
[6],[7],[8],[9].
• Nếu mẫu DNA cần phân tích có số lượng NST 
bình thường sẽ thể hiện tỷ lệ bằng 1 do có sự cân 
bằng giữa lượng DNA mẫu và DNA chứng.
• Nếu thừa DNA (mất đoạn) sẽ thể hiện tỷ lệ nhỏ 
hơn 1 do có lượng DNA mẫu nhỏ hơn DNA chứng.
• Nếu thiếu DNA (nhân đoạn) sẽ thể hiện tỷ lệ lớn 
hơn 1 do có lượng DNA mẫu lớn hơn DNA chứng.
5	
Mô hình nghiên cứu 
Mẫu dịch ối 
5ml dịch ối tách DNA làm xét nghiệm 
Prenatal BoBs 
 10ml dịch ối nuôi cấy tế bào làm 
nhiễm sắc thể đồ (Karyotype) 
Tách chiết DNA 
Đo nồng độ và độ tinh sạch của DNA 
(Nanodrope) 
 Kỹ thuật Prenatal-BoBs 
Đọc tín hiệu trên hệ thống Luminex 200 
Phân tích dữ liệu bằng phần mềm BoBsoft 
Thu hoạch sau 9 - 12 ngày nuôi 
cấy 
Nhuộm băng G 
Phân tích KARYOTYPE 
Kết quả 
Kết luận 
- Xác định tỷ lệ bất 
thường NST qua 
PN-BoBs 
- Đánh giá giá trị của 
Prenatal-BoBs 
Chỉ định chọc ối Số lượng Tỷ lệ %
Test sàng lọc nguy cơ cao 113 59,79
Thai dị tật 52 27,51
Tăng khoảng sáng sau gáy 10 5,29
Tiền sử sinh con dị tật 09 7,41
Tổng 189 100
Bảng 1. Bảng phân loại chỉ định chọc hút nước ối
Bất thường NST Số lượng Tỷ lệ %
Trisomy 21 09 69,23
Trisomy 13 01 7,69
Trisomy 18 02 15,39
XO 01 7,69
Tổng 13 100
Bảng 3. Tỷ lệ các loại bất thường NST chẩn đoán qua xét nghiệm Prenatal BoBs
Kết quả Số lượng Tỷ lệ %
Bất thường 13 6,88
Bình thường 176 93,12
Tổng 189 100
Bảng 2. Kết quả xét nghiệm Prenatal BoBs
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 30 - 33, 2017
33
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
phân loại trong bảng 1. Trong đấy chỉ định nhiều 
nhất là nhóm bệnh nhân có xét nghiệm sàng lọc 
nguy cơ cao chiếm 59,79%; tiếp đến là nhóm 
thai nhi có dị tật về hình thái trên siêu âm, chiếm 
27,51%, chỉ định chọc ối vì tiền sử sinh con dị tật 
chiếm 7,41% và chỉ định vì thai nhi có tăng khoảng 
sáng sau gáy chiếm tỉ lệ thấp nhất: 5,29%.
Kết quả xét nghiệm Prenatal BoBs phát hiện 13 
trường hợp bất thường số lượng NST, chiếm 6,88% 
(Bảng 2). Trong các bất thường số lượng NST, hội 
chứng Down (trisomy 21) chiếm tỷ lệ cao nhất với 
69,23%, hội chứng Edwards (trisomy 18) chiếm 
tỷ lệ 15,39%, và hội chứng Patau (trisomy 13) và 
Turner (XO) chiếm tỷ lệ thấp nhất (7,69%).
So sánh kết quả Prenatal BoBs với Karyotyping 
cho thấy sự tương đồng của 2 xét nghiệm là 
188/189 trường hợp với bất thường các NST 13, 
18, 21, 23, chiếm 99,47%. 13 trường hợp phát 
hiện bất thường qua xét nghiệm Prenatal BoBs cũng 
được chẩn đoán là bất thường qua nuôi cấy tế bào 
ối. Chỉ có 1 trường hợp kết quả xét nghiệm BoBs trả 
lời bình thường trong khi nuôi cấy tế bào ối cho ra 
kết quả tam bội (69, XXX). Trong trường hợp này, 
thai phụ được chỉ đinh chọc ối xét nghiệm di truyền 
do trên siêu âm thai nhi có tình trạng chậm phát 
triển trong tử cung và phát triển bất cân xứng các 
phần của thai (đường kính lưỡng đỉnh tương đương 
19 tuần trong khi chu vi bụng chỉ tương đương 16 
tuần). Kết quả Prenatal BoBs không phát hiện tín 
hiệu bất thường ở các NST 13, 18, 21, 23 và 9 hội 
chứng vi mất đoạn. Tuy nhiên kết quả nuôi cấy tế 
bào ối sau đấy lại xác định thai nhi mắc hội chứng 
tam bội (69, XXX). Mẫu dịch ối sau đấy tiếp tục 
được thực hiện xét nghiệm QF –PCR và kết quả 
có phát hiện bất thường số lượng ở các NST 13, 
18, 21 và 23 (tam nhiễm). Qua đây cho thấy các 
trường hợp tam bội hiện nay vẫn là một hạn chế 
trong khả năng chẩn đoán của Prenatal BoBs. 
Vì cỡ mẫu trong nghiên cứu còn nhỏ nên chưa 
phát hiện trường hợp nào mắc hội chứng vi mất 
đoạn NST. Các hội chứng vi mất đoạn là gây nên 
bởi của sự mất đoạn NST có độ dài dưới 5 Mb, 
không thể phát hiện qua phương pháp di truyền tế 
bào với nhuộm băng thông thường. Các hội chứng 
vi mất đoạn thường gây ra những hậu quả nặng nề 
như chậm phát triển trí tuệ, bệnh lý tim bẩm sinh, 
bất thường hệ cơ xương, Kỹ thuật Prenatal BoBs 
có thể chẩn đoán 9 hội chứng vi mất đoạn NST 
thường gặp do có các đầu do đặc hiệu.
4. Kết luận
Prenatal BoBs là xét nghiệm di truyền phân tử có 
độ chính xác cao với thời gian thực hiện xét nghiệm 
ngắn (48h), giúp chẩn đoán sớm các trường hợp thai 
nhi có các bất thường số lượng NST 13, 18, 21, 23, 
và đặc biệt có khả năng phát hiện một số hội chứng 
vi mất đoạn NST thường gặp. Tuy nhiên, kỹ thuật 
Prenatal BoBs vẫn cần được tiến hành song song cùng 
kỹ thuật nuôi cấy tế bào ối để có được những chẩn 
đoán chính xác nhất các rối loạn di truyền ở thai nhi.
Tài liệu tham khảo
1. Vialard F, Simoni G, Aboura A, et al. Prenatal BACs-on-BeadsTM : a 
new technology for rapid detection of aneuploidies and microdeletions in 
prenatal diagnosis. Prenat Diagn. 2011;31:500-8 
2. Shaffer LG, Coppinger J, Morton SA, et al. The development of a rapid 
assay for prenatal testing of common aneuploidies and microdeletion 
syndromes. Prenat Diagn. 2011; 31:778-87 
3. Grati FR, Gomes DM, Ganesamoorthy D, et al. Application of a new 
molecular technique for the genetic evaluation of products of conception. 
Prenat Diagn. 2013; 33(1):32-41 
4. Vialard F, Simoni G, Gomes DM, et al. Prenatal BACs-on-BeadsTM : 
the prospective experience of five prenatal diagnosis laboratories. Prenat 
Diagn. 2012; 32:329-35.
5. Piotrowski K, Henkelman M, Zajaczek S. Will the new molecular 
karyotyping BACs-on-Beads technique replace the traditional cytogenetic 
prenatal diagnostics? Preliminary reports. Ginekol Pol. 2012; 83: 284-90 
6. Sheath KL, Duffy L, Asquith P, et al. Bacterial artificial chromosomes 
(BACs)-on- BeadsTM as a diagnostic platform for the rapid aneuploidy 
screening of products of conception. Mol Med Rep. 2013; 8:650-4 
7. Vialard F, Simoni G, Gomes DM et al. Prenatal BACs-on-Beads: the 
prospective experience of five prenatal diagnosis laboratories. Prenatal 
Diagnosis. 2012; 32 (4), pp. 329–335
8. Vialard F, Simoni G, Aboura A, De Toffol S, Molina Gomes D, Marcato 
L, et al. Prenatal BACs-on-Beads™: a new technology for rapid detection 
of aneuploidies and microdeletions in prenatal diagnosis.Prenat Diagn. 
2011; 31, pp.500–8.
9. KW Choy, YK Kwok, YKY Cheng et al. Diagnostic accuracy of the 
BACs-on-Beads™ assay versus karyotyping for prenatal detection of 
chromosomal abnormalities: a retrospective consecutive case series. 
BJOG. 2014; 121 (10), pp 1245-52.

File đính kèm:

  • pdfung_dung_ky_thuat_prenatal_bobs_chan_doan_truoc_sinh_mot_so.pdf