Ứng dụng kỹ thuật chẩn đoán di truyền tiền làm tổ trong thụ tinh ống nghiệm: hiện trạng và xu hướng

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của việc áp dụng kỹ thuật “chẩn đoán

di truyền tiền làm tổ” (PGD) kết hợp cùng lĩnh vực thụ tinh trong ống

nghiệm (IVF) có góp phần can thiệp ngăn chặn các đột biến di truyền

xuất hiện ngay từ trong phôi, giúp bệnh nhân có cơ hội sinh con mà

không phải chấm dứt thai kì và giảm bớt gánh nặng cho toàn xã hội.

Đối tượng và phương pháp: Từ tháng 5/2016 đến nay tại IVFMD, đã

có 32 chu kỳ thực hiện IVF kết hợp PGD; trong đó, có 24 chu kỳ mang

bất thường cấu trúc NST sau karyotype với tiền căn sẩy thai liên tiếp

(nhóm 1) và 8 chu kỳ mang các đột biến gen lặn liên quan đến bệnh lý

thalassemia (nhóm 2). DNA tế bào phôi được thu nhận bằng cách sinh

thiết 3-5 tế bào lá nuôi phôi ở giai đoạn phôi nang và sau đó gửi phân

tích di truyền bằng kỹ thuật NGS. Phôi được đông lạnh sau khi sinh thiết.

Kết quả: Ở nhóm 1, có 93 phôi với tỉ lệ phôi bình thường, bất thường

cấu trúc lần lượt là 57% (53/93), 14% (13/93). Ở nhóm 2, có 47 phôi với

tỉ lệ phôi bình thường 80,9% (38/47); trong đó, tỉ lệ phôi không mang đột

biến, mang đột biến dị hợp tử và mang đột biến đồng hợp tử tương ứng

là 15,8% (6/38); 57,9% (22/38) và 26,3% (10/38). Tỉ lệ thai diễn tiến, sẩy

thai và sinh sống sau chuyển phôi trữ lần lượt là 45,8%, 12,5% và 45,8%.

Kết luận: Sự an toàn của sinh thiết phôi nang và quy trình đông lạnh

phôi cùng với kỹ thuật NGS cho thấy thực hiện IVF kết hợp PGD có thể

áp dụng cho quần thể bệnh nhân có nguy cơ cao về bệnh di truyền.

pdf 7 trang phuongnguyen 40
Bạn đang xem tài liệu "Ứng dụng kỹ thuật chẩn đoán di truyền tiền làm tổ trong thụ tinh ống nghiệm: hiện trạng và xu hướng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Ứng dụng kỹ thuật chẩn đoán di truyền tiền làm tổ trong thụ tinh ống nghiệm: hiện trạng và xu hướng

Ứng dụng kỹ thuật chẩn đoán di truyền tiền làm tổ trong thụ tinh ống nghiệm: hiện trạng và xu hướng
LƯU THỊ MINH TÂM, PHẠM THIẾU QUÂN, HUỲNH GIA BẢO
150
Tậ
p 
16
, s
ố 
02
Th
án
g 
08
-2
01
8
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
Lưu Thị Minh Tâm, Phạm Thiếu Quân, Huỳnh Gia Bảo 
Bệnh viện Đa khoa Mỹ Đức
ỨNG DỤNG KỸ THUẬT CHẨN ĐOÁN DI TRUYỀN
TIỀN LÀM TỔ TRONG THỤ TINH ỐNG NGHIỆM:
HIỆN TRẠNG VÀ XU HƯỚNG
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Huỳnh Gia Bảo, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 08/06/2018
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
25/06/2018
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 29/06/2018
Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của việc áp dụng kỹ thuật “chẩn đoán 
di truyền tiền làm tổ” (PGD) kết hợp cùng lĩnh vực thụ tinh trong ống 
nghiệm (IVF) có góp phần can thiệp ngăn chặn các đột biến di truyền 
xuất hiện ngay từ trong phôi, giúp bệnh nhân có cơ hội sinh con mà 
không phải chấm dứt thai kì và giảm bớt gánh nặng cho toàn xã hội. 
Đối tượng và phương pháp: Từ tháng 5/2016 đến nay tại IVFMD, đã 
có 32 chu kỳ thực hiện IVF kết hợp PGD; trong đó, có 24 chu kỳ mang 
bất thường cấu trúc NST sau karyotype với tiền căn sẩy thai liên tiếp 
(nhóm 1) và 8 chu kỳ mang các đột biến gen lặn liên quan đến bệnh lý 
thalassemia (nhóm 2). DNA tế bào phôi được thu nhận bằng cách sinh 
thiết 3-5 tế bào lá nuôi phôi ở giai đoạn phôi nang và sau đó gửi phân 
tích di truyền bằng kỹ thuật NGS. Phôi được đông lạnh sau khi sinh thiết. 
Kết quả: Ở nhóm 1, có 93 phôi với tỉ lệ phôi bình thường, bất thường 
cấu trúc lần lượt là 57% (53/93), 14% (13/93). Ở nhóm 2, có 47 phôi với 
tỉ lệ phôi bình thường 80,9% (38/47); trong đó, tỉ lệ phôi không mang đột 
biến, mang đột biến dị hợp tử và mang đột biến đồng hợp tử tương ứng 
là 15,8% (6/38); 57,9% (22/38) và 26,3% (10/38). Tỉ lệ thai diễn tiến, sẩy 
thai và sinh sống sau chuyển phôi trữ lần lượt là 45,8%, 12,5% và 45,8%. 
Kết luận: Sự an toàn của sinh thiết phôi nang và quy trình đông lạnh 
phôi cùng với kỹ thuật NGS cho thấy thực hiện IVF kết hợp PGD có thể 
áp dụng cho quần thể bệnh nhân có nguy cơ cao về bệnh di truyền.
Abstract 
APPLICATION PGD TECHNOLOGY IN IVF: CURRENT 
AND TRENDS 
Objectives: To evaluate the effectiveness of preimplantation genetic 
diagnosis (PGD) technique used for couples at risk of conceiving a 
pregnancy affected with known genetic diseases followed by in vitro 
fertilization (IVF) treatment. 
Materials & Methods: From Oct 2016, there were 32 IVF cycles 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
151
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
1. Đặt vấn đề
“Chẩn đoán di truyền tiền làm tổ” viết tắt là 
PGD. Kỹ thuật này đã được phát triển từ những 
năm 1980 nhằm giúp phát hiện các bất thường 
di truyền ở phôi từ những cặp vợ chồng có nguy 
cơ truyền các bệnh lý di truyền cho con, giúp họ 
có cơ hội sinh con không mắc bệnh mà không 
phải chấm dứt thai kì khi phát hiện các bệnh 
lý thông qua chẩn đoán tiền sản cổ điển. Trải 
qua hơn 30 năm nghiên cứu và ứng dụng, PGD 
đã trở thành một kĩ thuật quan trọng trong lĩnh 
vực hỗ trợ sinh sản trên toàn thế giới, giúp kiểm 
soát các bệnh di truyền Meldel hay chuyển đoạn 
NST không cân bằng. Cùng với những tiến bộ 
trong kĩ thuật sinh thiết phôi, đông lạnh phôi và 
chẩn đoán phân tử thì việc ứng dụng PGD trong 
IVF càng dễ dàng hơn. Trong các báo cáo hằng 
năm về ứng dụng kỹ thuật PGD trên toàn châu 
Âu, số liệu tổng hợp từ báo cáo gần nhất của 
Hiệp Hội Sinh Sản Châu Âu (ESHRE) cho thấy đã 
có hơn 10000 trẻ ra đời từ 15 lần thu thập dữ 
liệu [1]. Tại khu vực Đông Nam Á, PGD đã được 
thực hiện hầu hết các nước, trong đó có cả Việt 
Nam. Vào năm 2009-2010, nhóm chuyên gia 
từ Đại học Y Dược TPHCM, Hội Nội tiết sinh sản 
và Vô sinh TPHCM và Trung tâm IVF Vạn Hạnh 
đã xây dựng thành công qui trình thực hiện PGD 
để chẩn đoán bất thường số lượng nhiễm sắc 
thể trên phôi người. Mục tiêu của đề tài nhằm 
xây dựng qui trình PGD trên phôi người ở Việt 
nam và bước đầu đánh giá tỉ lệ lệch bội ở một 
số nhiễm sắc thể trên các phôi người bất thường. 
Đây là đề tài nghiên cứu cấp thành phố do Sở 
Khoa học Công nghệ TPHCM quản lý. Tháng 
5/2009, các trường hợp thực hiện thành công 
kỹ thuật PGD đầu tiên ở Việt nam đã được các 
tác giả trên báo cáo [2]. Hiện nay, lĩnh vực IVF 
kết hợp với kỹ thuật PGD đang có những bước 
tiến vượt trội và vững chắc giúp chẩn đoán và 
tầm soát các bệnh di truyền ở người. Lĩnh vực hỗ 
trợ sinh sản tại Việt Nam không chỉ đơn thuần là 
điều trị vô sinh mà đã tiến xa hơn, ghi nhận được 
nhiều thành tựu trong kĩ thuật PGD này. Nhiều 
trường hợp được chỉ định PGD tại Việt Nam thay 
vì phải ra nước ngoài điều trị với chi phí rất cao 
như trước đây thì nay đã được chỉ định thực hiện 
tại một số trung tâm lớn trong nước với kết quả 
chính xác, nhanh chóng và tiết kiệm chi phí đáng 
kể cho các cặp vợ chồng.
Như vậy những đối tượng nào sẽ được chỉ 
định thực hiện IVF chủ động kết hợp PGD? Hiện 
nay trên thế giới đang tập trung chỉ định thực 
hiện IVF kết hợp PGD cho các trường hợp bất 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(02), 150 - 156, 2018
Tập 16, số 02
Tháng 08-2018
undergoing PGD technique, in which, 24 cycles having structural chromosomal abnormalities related 
to recurrent miscarriages (group 1), 8 cycles having single gene disorder as thalassemia (group 
2). Approximately 3-5 trophectoderm cells of blastocysts were biopsied and sent to reproductive 
genetics lab with NGS technique platform. Embryos were frozen after the biopsy. 
Results: With 93 embryos in group 1, we detected 57% (53/93) embryos showed normal genetic 
profiles and 14% (13/93) embryos had structural chromosomal abnormalities. In group 2 with 47 
embryos, the normal chromosome rate was 80.9% (38/47), in that consisted of 15.8% (6/38) unaffected 
embryos, 57.9% (22/38) carrier embryos may be available for transfer and 26.3% (10/38) affected 
embryos (autosomal recessive condition) as shown above. Ongoing pregnancy rate, miscarriage 
rate and live birth rate after frozen embryo transfer were 45.8%, 12.5% and 45.8%, respectively. 
Conclusion: The safety of biopsy and vitrification of blastocysts with these results indicate that IVF-
PGD procedure could be safely applied for high genetic risk population.
LƯU THỊ MINH TÂM, PHẠM THIẾU QUÂN, HUỲNH GIA BẢO
152
Tậ
p 
16
, s
ố 
02
Th
án
g 
08
-2
01
8
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
thường về nhiễm sắc thể, rối loạn/đột biến đơn 
gen trên NST thường hoặc liên kết NST X. Cụ thể 
hơn, vì những bất thường về nhiễm sắc thể, bao 
gồm bất thường về số lượng và bất thường về 
cấu trúc xuất hiện trong ở khoảng 0,5%-5% các 
cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh sản và đặc biệt 
tăng lên đáng kể theo độ tuổi người mẹ. Đối với 
trường hợp bất thường về NST thì PGD phần lớn 
tập trung vào bất thường cấu trúc là hiện tượng 
chuyển đoạn thuận nghịch hoặc chuyển đoạn 
Robertson. Chuyển đoạn thuận nghịch (reciprocal 
translocations) xảy ra ở 1/500 cá thể và chuyển 
đoạn Robertson (Robertsonian translocation) với 
tỷ lệ 1/1000 cá thể [3]. Những cá thể mang các 
bất thường cấu trúc trên thường có kiểu hình bình 
thường, nhưng lại có khả năng tạo ra sự mất 
cân bằng NST trong quá trình phân chia của các 
giao tử, dẫn đến sự gia tăng các nguy cơ trong 
sinh sản như: tạo ra giao tử bất thường, sẩy thai 
liên tiếp hoặc thất bại làm tổ nhiều lần, kết thúc 
sớm quá trình mang thai hay thậm chí đứa trẻ 
sinh ra thừa kế các bất thường này [4], [5]. Theo 
dữ liệu mới được ESHRE thu thập, PGD còn được 
chỉ định phổ biến cho nhóm rối loạn/đột biến di 
truyền lặn trên NST thường như: bệnh xơ nang, 
teo cơ tủy sống và các hội chứng liên quan đến 
tế bào máu [6]. Đối với các rối loạn/đột biến di 
truyền trội trên NST thường thì nhóm bệnh được 
quan tâm nhiều nhất bao gồm: rối loạn dưỡng 
cơ, u sợi thần kinh và bệnh Huntington; đối với 
các rối loạn di truyền liên kết NST X, PGD chủ 
yếu được thực hiện cho chứng loạn dưỡng cơ 
Duchenne, bệnh rối loạn đông máu (hemophilia) 
và hội chứng NST X dễ gãy. Thalassemia là một 
trong nhóm các bệnh di truyền do đột biến đơn 
gen, có đặc trưng biểu hiện là sự giảm hoặc 
không có của một trong những chuỗi globin của 
hemoglobin (Hb) và ảnh hưởng đến khoảng 
4,8% dân số thế giới với những di chứng nặng 
nề ở thể nặng hoặc tiềm ẩn truyền qua nhiều 
thế hệ [7]. Bệnh lý di truyền này phân bố phổ 
biến ở khu vực Địa Trung Hải và Đông Nam Á, 
đã được thế giới phát hiện, nghiên cứu từ những 
năm 1925. Như đã biết, phân tử Hb gồm 4 tiểu 
phần. Ở trẻ sơ sinh, phân tử Hb bao gồm chủ 
yếu hai chuỗi α globin và hai chuỗi γ globin. Ở 
người trưởng thành bình thường, 95% các phân 
tử Hb tuần hoàn bao gồm hai chuỗi α globin và 
hai chuỗi β globin, mỗi chuỗi chứa một nhân 
heam có nhiệm vụ vận chuyển cung cấp oxy cho 
các mô, cơ quan trong cơ thể. Gen trên nhiễm 
sắc thể số 16 chịu trách nhiệm cho tổng hợp các 
tiểu đơn vị α, trong khi các gen trên nhiễm sắc 
thể số 11 kiểm soát sự sản sinh các tiểu đơn vị β. 
Việc thiếu một tiểu đơn vị đặc hiệu sẽ xác định 
loại thalassemia (ví dụ như thiếu tiểu đơn vị α 
dẫn đến α-thalassemia). Tuỳ theo số lượng gen 
đột biến sẽ có các biểu hiện bệnh khác nhau từ 
nhẹ đến nặng như: phù thai từ trong bụng mẹ, 
thiếu máu nặng khi trẻ chưa đến 2 tuổi, dễ nhiễm 
trùng, suy tim,  Đối với trường hợp mang các 
bất thường trên đã biểu hiện bệnh hoặc tiềm ẩn 
ở thế hệ trước sẽ được chủ động chỉ định thực 
hiện kỹ thuật sinh thiết phôi khi thực hiện IVF 
kết hợp phân tích, chẩn đoán DNA nhằm lựa 
chọn những phôi hoàn toàn không mang các gen 
bệnh này, đảm bảo cho thế hệ sau khoẻ mạnh. 
PGD là một kỹ thuật tiên tiến, hiện đang được 
thực hiện rộng rãi trên thế giới và tại một vài 
trung tâm chuyên ngành ở Việt Nam. Những 
tiến bộ nhanh chóng trong di truyền học phân 
tử đang khuyến khích sự thay đổi đáng kể trong 
phương thức ngăn ngừa các bệnh di truyền 
thông qua tiến hành PGD. Không những vậy, 
kỹ thuật này còn hướng đến chọn phôi cứu tinh 
tương hợp kháng nguyên bạch cầu người (HLA) 
với anh/chị em của chúng đã ra đời nhưng mang 
bệnh, cụ thể sẽ sử dụng tế bào gốc máu cuống 
rốn từ những phôi cứu tinh này. Tuy nhiên, mục 
đích này vẫn còn đang vấp phải nhiều tranh cãi 
đạo đức khi đứa trẻ ra đời sau chỉ được xem là 
một công cụ. Mặc dù có nhiều cuộc tranh luận, 
nhưng chắc chắn PGD kết hợp HLA sẽ được chấp 
nhận rộng rãi với bằng chứng số chu kỳ thực 
hiện đang tăng dần mỗi năm [8]. Một ứng dụng 
khác của PGD đang hướng tới chính là rối loạn 
di truyền ty thể, một dạng rối loạn không theo 
định luật Mendel, mặc dù chỉ có một vài trường 
hợp được báo cáo cho đến nay.
Bên cạnh đó, lĩnh vực IVF góp phần tạo nên 
vật liệu di truyền cung cấp cho PGD, đó chính là 
các tế bào phôi được sinh thiết. Giai đoạn phôi 
nang hiện nay đang là nguồn thu DNA tế bào 
với những ưu điểm như: chỉ lấy đi một vài tế bào 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
153
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(02), 150 - 156, 2018
Tập 16, số 02
Tháng 08-2018
TE, những tế bào này sẽ không tạo thành thai nhi 
và do đó giảm rủi ro của sinh thiết ảnh hưởng 
đến khả năng phát triển của phôi hơn các giai 
đoạn trước đó. Ngoài ra, có rất nhiều tế bào ở 
giai đoạn này vì vậy nhiều hơn một tế bào có 
thể được lấy ra. Xét nghiệm trên cụm nhỏ tế bào 
với nhau làm tăng cơ hội phát hiện bất kỳ thể 
khảm nào thể hiện ở mức độ có thể ảnh hưởng 
đến thai nhi. Sinh thiết sẽ được thực hiện vào 
ngày thứ 5, vẫn còn đủ thời gian để xét nghiệm 
trước khi chuyển phôi vào ngày thứ 6. Ngoài ra, 
có thể chuyển phôi đông lạnh, mà kết quả của 
chu kỳ chuyển phôi trữ thực sự có thể cải thiện 
hơn nữa tỷ lệ thành công [9] và kết cục lâm sàng 
[10]. Bên cạnh đó, sự tiến bộ trong các kỹ thuật 
chẩn đoán di truyền đã góp phần đưa chúng ta 
tiến gần hơn với việc phát hiện các bất thường về 
gen. Một cuộc cách mạng trong công nghệ giải 
trình tự bộ gen, đã đóng góp rất lớn trong PGD 
hiện tại chính là sự ra đời của kỹ thuật giải trình 
tự bộ gen thế hệ mới (NGS) với số lượng lớn các 
cặp mồi đặc hiệu trên từng NST và khả năng giải 
trình tự toàn bộ bộ gen. Yêu cầu lượng DNA để 
có thể khuếch đại là rất thấp (khoảng 1ng-1 tế 
bào) do đó sẽ giúp giảm số lượng tế bào sinh 
thiết cần cho phân tích. Thời gian thực hiện giảm 
đáng kể và độ chính xác tăng cao rõ rệt. 
Rõ ràng, đây là nhu cầu từ những cặp vợ 
chồng vô sinh đang tìm kiếm cơ hội thành công 
hoặc cải thiện khi quyết định điều trị IVF kết hợp 
sinh thiết phôi cho chẩn đoán di truyền, giảm 
nguy cơ đứa trẻ ra đời mang khuyết tật cũng như 
việc chấm dứt thai kỳ giai đoạn muộn qua chẩn 
đoán tiền sản ảnh hưởng đến sức khoẻ cũng như 
tâm lý cho người mẹ. PGD đã và đang có nhiều 
đóng góp cực kỳ quan trọng cho lĩnh vực IVF và 
ngược lại, IVF đưa chúng ta đang dần can thiệp 
vào lĩnh vực di truyền với việc phát hiện và ngăn 
chặn các đột biến di truyền xuất hiện ngay từ 
trong phôi. Lĩnh vực PGD hiện nay là sự kết hợp 
từ 2 nhóm: một nhóm đến từ IVF (các chuyên viên 
phôi học) và một nhóm nghiên cứu về gen (các 
nhà di truyền học). Tại IVFMD, từ năm 2016 đã 
bắt đầu triển khai kỹ thuật sinh thiết phôi phối 
hợp với trung tâm phân tích di truyền, góp phần 
giảm bớt gánh nặng cho không chỉ các cặp vợ 
chồng mà cho toàn xã hội.
2. Đối tượng và phương pháp
Tại IVFMD, từ tháng 5/2016 đến nay, đã có 
32 chu kỳ được tư vấn và điều trị TTTON kết hợp 
thực hiện kỹ thuật PGD từ 31 cặp vợ chồng ở thể 
mang gen bệnh; trong đó, có 24 cặp vợ chồng 
mang bất thường cấu trúc NST (chuyển đoạn 
tương hỗ, chuyển đoạn Robertson, thêm đoạn và 
đảo đoạn) của 1 trong 2 người sau xét nghiệm 
karyotype với tiền căn sẩy thai liên tiếp hoặc thất 
bại làm tổ nhiều lần và 7 cặp vợ chồng mang 
các đột biến dị hợp tử trên gen lặn cả 2 người 
liên quan đến bệnh lý thalassemia (3 cặp mang 
đột biến dạng -α; 4 cặp mang đột biến dạng 
-β), trong đó có 1 cặp vợ chồng thực hiện 2 chu 
kỳ với mục đích tìm phôi không mang đột biến 
dạng -β và tương hợp HLA với con đầu mắc bệnh 
β-thalassemia thể nặng. 
Trong một quy trình kết hợp IVF và PGD, các 
cặp vợ chồng sẽ bắt đầu với kích thích buồng 
trứng, thu nhận noãn, thụ tinh bằng kỹ thuật tiêm 
tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI) sau khi được 
tư vấn về tất cả các nguy cơ. Noãn thụ tinh được 
nuôi cấy đến giai đoạn phôi nang (ngày 5-6), sau 
đó, DNA tế bào phôi được thu nhận bằng cách 
sinh thiết 3-5 tế bào lá nuôi phôi (TE) và được vận 
chuyển đến công ty phân tích di truyền. Phôi được 
đông lạnh ngay sau khi sinh thiết. Các vật liệu di 
truyền từ tế bào phôi được tách chiết rồi sau đó 
khuếch đại tín hiệu bộ gen (WGA). Ở những chu 
kỳ thực hiện PGD cho chẩn đoán bất thường cấu 
trúc NST thì chỉ thực hiện kỹ thuật NGS để xác định 
bất thường; còn đối với những chu kỳ thực hiện 
PGD cho đột biến thalassemia thì bước đầu thực 
hiện sàng lọc loại bỏ các phôi mang bất thường 
lệch bội hoặc cấu trúc NST bằng kỹ thuật NGS, 
sau khi xác định được các phôi nguyên bội bình 
thường thì WGA của các phôi này sẽ được tiếp tục 
phân tích tìm các vùng đột biến, đột biến điểm α 
hoặc β đã được xác định từ từng dạng đột biến đã 
biết của bố mẹ trước đó bằng cách sử dụng giải 
trình tự gen và các STR marker đặc trưng. Những 
phôi thừa kế các đột biến của cả 2 bố và mẹ sẽ 
không được lựa chọn cho chuyển phôi. Xét nghiệm 
di truyền được tiến hành nhằm tìm ra phôi không 
mang gen bệnh, phôi này sẽ được chuyển lại vào 
tử cung người mẹ. Để xác nhận có được một chu 
LƯU THỊ MINH TÂM, PHẠM THIẾU QUÂN, HUỲNH GIA BẢO
154
Tậ
p 
16
, s
ố 
02
Th
án
g 
08
-2
01
8
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
kỳ điều trị PGD thành công thì các cặp vợ chồng 
này sẽ được theo dõi thai kỳ chặt chẽ qua từng giai 
đoạn và được tư vấn thực hiện các kỹ thuật chẩn 
đoán tiền sản như thường quy.
3. Kết quả
Tổng số 140 phôi nang từ 32 chu kỳ thực hiện 
Đặc điểm nền Bất thường cấu trúc(n=24)
Thalassemia
(n=8)
PGD
(n=32)
Tuổi (năm) 33,17±5,05 28,38±2,26 31,97±4,95
Thời gian vô sinh (năm) 4,65±4,25 2,75±1,67 4,17±3,84
Số chu kỳ IVF (%)
1
2
3
75
4,2
20,8
87,5
12,5
0
78,1
6,2
15,7
Số trứng, n 18,96±13,41 19,62±10,76 19,12±12,64
Số trứng ICSI, n 15,25±11,12 17,12±10,03 15,72±10,73
Tỷ lệ thụ tinh (%) 88,8 95,7 90,5
Tỷ lệ tạo phôi nang (%) 41,5 55,9 45,1
Bảng 1: Đặc điểm nền và thông tin phôi học của nhóm bệnh thực hiện IVF-PGD
Kết quả n=93
Thể nguyên bội (%) 57,0 (53/93)
Thể bất thường cấu trúc (%) 14,0 (13/93)
Thể lệch bội (%) 23,7 (22/93)
- Phức hợp (%) 54,5 (12/22)
- Thể tam bội (%) 18,2 (4/22)
- Thể đơn bội (%) 27,3 (6/22)
Không tín hiệu (%) 2,1 (2/93)
Thể khảm (%) 3,2 (3/93)
Bảng 2: Kết quả phân tích di truyền trên phôi của nhóm bệnh mang bất thường cấu trúc NST
Kết quả phân tích bất thường số lượng NST n=47
Thể nguyên bội (%) 80,9 (38/47)
Thể lệch bội (%) 19,1 (9/47)
- Phức hợp (%) 22,2 (2/9)
- Thể tam bội (%) 44,5 (4/9)
- Cấu trúc (%) 33,3 (3/9)
Kết quả phân tích bất thường đột biến thalassemia n=38
Không đột biến dạng đồng hợp tử trội (%) 15,8 (6/38)
Mang đột biến dạng dị hợp tử lặn (%) 57,9 (22/38)
Có đột biến dạng đồng hợp tử lặn (%) 26,3 (10/38)
Bảng 3: Kết quả phân tích di truyền trên phôi của nhóm bệnh mang đột biến thalassemia
Kết quả Bất thường cấu trúc(n=19)
Thalassemia
(n=5)
PGD
(n=24)
Số phôi chuyển, n 1,32±0,55 1,00±0,00 1,27±0,51
Tỷ lệ Beta dương (%) 57,9 (11/19) 60,0 (3/5) 58,3 (14/24)
Tỷ lệ thai lâm sàng (%) 57,9 (11/19) 60,0 (3/5) 58,3 (14/24)
Tỷ lệ đa thai (%) 5,3 (1/19) 0 (0/5) 4,2 (1/24)
Tỷ lệ sẩy thai (%) 15,8 (3/19) 0 (0/5) 12,5 (3/24)
Tỷ lệ thai diễn tiến (%) 42,1 (8/19) 60,0 (3/5) 45,8 (11/24)
Tỷ lệ làm tổ (%) 48,0 (12/25) 60,0 (3/5) 50,0 (15/30)
Tỷ lệ trẻ sinh sống (%) 42,1 (8/19) 60,0 (3/5) 45,8 (11/24)
Bảng 4: Kết quả lâm sàng ở những chu kỳ PGD chuyển phôi đông lạnh
IVF kết hợp PGD, trong đó có 93 phôi nang thực 
hiện kỹ thuật PGD chẩn đoán bất thường cấu trúc 
NST, 47 phôi nang thực hiện kỹ thuật PGD chẩn 
đoán đột biến thalassemia.
4. Bàn luận
Đến hiện tại, thách thức lớn nhất trong kỹ 
thuật PGD chính là thể khảm và các allele dropout 
(ADO) tại vị trí đột biến cùng với thông tin tư vấn 
cho bệnh nhân về tất cả nguy cơ cũng như hiệu 
quả mà kỹ thuật này mang lại. Phôi mang thể 
khảm được định nghĩa là sự hiện diện của hai 
hoặc nhiều dòng tế bào có kiểu gen khác nhau 
trong một phôi. Thể khảm được biết đến phổ biến 
ở phôi giai đoạn sớm, và được cho là một trong 
những nguyên nhân mà PGD sử dụng phương 
pháp FISH không đưa ra được chẩn đoán tăng 
tỷ lệ thành công của kỹ thuật IVF kết hợp PGD. 
Tuy nhiên, với các kỹ thuật mới hơn vừa ra đời 
thì PGD là một công cụ lý tưởng để nghiên cứu 
mức độ khảm ở các thời điểm khác nhau trong 
quá trình phát triển của phôi. Nó cũng có thể 
được sử dụng để chỉ ra liệu các tế bào được 
cho là khảm chỉ là một lệch bội hay nhiều lệch 
bội. Kết quả cho thấy thể khảm phổ biến trong 
suốt giai đoạn phôi ngày thứ 3 và thứ 4, nhưng 
ngày thứ 5 tỷ lệ khảm sẽ giảm rất nhiều. Lý do 
này bao gồm sự tăng trưởng vượt trội của các tế 
bào nguyên bội, phân bổ các tế bào nguyên bội 
trong ICM, và/hoặc kích hoạt các gen mã hóa 
cho các trạm kiểm soát trong chu kỳ tế bào của 
phôi và cho phép sự chết theo chương trình của 
các tế bào thể lệch bội [11]. Việc báo cáo thêm 
về thể khảm trong phôi đã làm tăng những thách 
thức mới trong việc giải thích kết quả PGD và 
tư vấn bệnh nhân. Trước đây, phôi được chẩn 
đoán là nguyên bội hoặc lệch bội NST (số lượng 
hoặc cấu trúc) và trong hầu hết các trường hợp 
chỉ phôi nguyên bội được xem xét để chuyển, 
nhưng hiện tại phôi mang thể khảm được coi là 
một kết quả thứ ba [12] nên các chiến lược tư 
vấn bệnh nhân bắt buộc phải phát triển theo. 
Bệnh nhân cần được tư vấn kĩ càng về di truyền 
và những nguy cơ tiềm ẩn trong thai kỳ; đặc biệt 
trong những chu kì không có phôi nguyên bội 
để chuyển. Vì một số phôi thể khảm vẫn có khả 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
155
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(02), 150 - 156, 2018
Tập 16, số 02
Tháng 08-2018
năng cho ra đời trẻ khoẻ mạnh [13] nhưng cần 
phải tư vấn bệnh nhân rằng những phôi này tiềm 
năng làm tổ rất thấp và tỉ lệ sẩy thai cao hơn rất 
nhiều so với phôi nguyên bội [14]. 
Đánh giá tỷ lệ ADO là một phần quan trọng 
của việc định giá tiền lâm sàng và nó được biết 
đến như một khó khăn còn tồn động trong kỹ 
thuật di truyền. Tỷ lệ ADO nên được xác định 
bằng cách sử dụng các tế bào mang đột biến cần 
quan tâm trước đó hoặc các phân tích di truyền 
liên kết với các tế bào mang đột biến dị hợp tử đã 
được đánh dấu trước. Tỷ lệ ADO nên càng thấp 
càng tốt, tốt nhất là dưới 10% và cần lưu ý rằng 
tỷ lệ ADO cao hơn ở các bệnh đột biến di truyền 
trên gen lặn so với các bệnh đột biến di truyền 
trên gen trội hoặc dị hợp tử kép/phức hợp. Tỷ lệ 
ADO cũng có thể cao hơn do quy trình kỹ thuật 
WGA, tuy nhiên, trong trường hợp này có thể sử 
dụng số lượng lớn các marker liên kết và/hoặc 
kết hợp sinh thiết nhiều hơn 2 tế bào. Đối với 
các phôi có kết quả giải trình tự không mang đột 
biến hoặc đột biến dạng đồng hợp tử, cần phải 
sử dụng các STR marker để xác nhận kết quả, 
tránh đưa ra kết quả sai lệch do ADO. Trong 
trường hợp có mẫu tham chiếu (anh/chị đã biết 
kiểu gen trước) thì so sánh các STR marker của 
anh/chị đã biết kiểu gen và các STR marker của 
bố/mẹ, từ đó xác định các STR marker mà anh/
chị nhận từ bố/mẹ, qua đó xác định vị trí các 
STR marker nào của bố và/hoặc mẹ gắn với NST 
mang đột biến và ngược lại. Trong trường hợp 
không có mẫu tham chiếu thì từ các phôi mà kết 
quả giải trình tự cho thấy rõ mang đột biến được 
di truyền từ bố/mẹ dạng di hợp tử, so sánh các 
STR marker của các phôi đã biết kiểu gen này 
và các STR marker của bố/mẹ, qua đó xác định 
NST nào của bố và/hoặc mẹ gắn với NST nào 
mang đột biến và ngược lại. Do các STR marker 
được phân tích là các STR marker của sản phẩm 
WGA, do đó các STR marker cũng mang nguy 
cơ bị ADO hoặc không phân tích được. Từ đó, 
chúng ta cần xem xét sử dụng nhiều hơn các STR 
marker cho quá trình phân tích di truyền liên kết 
để đảm quá trình phân tích kết quả chính xác 
nhất có thể. Bên cạnh đó cũng cần ít nhất 1 phôi 
mang tối thiểu 1 đột biến được di truyền từ bố 
và/hoặc mẹ và không bị allele dropout để làm 
nền tảng cho quá trình phân tích di truyền liên 
kết. Tóm lại, PGD là một quy trình tương đối mới 
và nhiều nghiên cứu liên tục đang được thực hiện 
để mở rộng, cải thiện nó và những tồn tại, thách 
thức trong tương lai vẫn còn đối với kỹ thuật này. 
Trong tương lai, mối liên hệ di truyền với các 
bệnh thông thường, ví dụ như tiểu đường, cao 
huyết áp, bệnh tim mạch, lạc nội mạc tử cung, 
ung thư,  có thể được xác định và kỹ thuật 
PGD sẽ có thể dùng để sàng lọc được các bệnh 
di truyền này cho các thế hệ tương lai. Gần đây, 
ngành hỗ trợ sinh sản tại Việt Nam đã có những 
bước tiến vượt bậc trong việc ứng dụng kỹ thuật 
PGD mới này tại hầu hết các trung tâm trên cả 
nước và góp phần nâng cao hiệu quả điều trị, 
góp phần đáp ứng nhu cầu xã hội và phát triển 
các công nghệ y sinh học liên quan.
5. KẾT LUẬN
Đây là những số liệu đầu tiên về kết quả lâm 
sàng thực hiện IVF kết hợp PGD tại trung tâm của 
chúng tôi trên nhóm đối tượng các bệnh nhân 
mang các bất thường cấu trúc trên NST và đột 
biến gen liên quan đến bệnh lý thalassemia. Đã 
có 11 trẻ được sinh ra cho đến nay, tất cả đều 
khỏe mạnh, cho thấy độ tin cậy của NGS cũng 
như sự an toàn của sinh thiết phôi nang và quy 
trình đông lạnh phôi. Điều này cho thấy tương 
lai việc kết hợp các quy trình IVF-PGD-NGS là 
thực sự khả thi và cần thiết áp dụng cho quần thể 
bệnh nhân có nguy cơ cao về bệnh di truyền tại 
Việt Nam, chẳng hạn như chuyển đoạn Robertson 
hoặc các đột biến đơn gen liên quan đến các 
bệnh lý nghiêm trọng truyền cho thế hệ sau. Và 
vấn đề kiểm soát chất lượng điều trị và xây dựng 
theo các tiêu chí hướng dẫn thực hành chuẩn đối 
với một trung tâm IVF kết hợp sinh thiết phôi trong 
chẩn đoán di truyền cần được quan tâm vì đây là 
một bước quan trọng trước khi bắt đầu triển khai 
kỹ thuật PGD vào lĩnh vực IVF.
LƯU THỊ MINH TÂM, PHẠM THIẾU QUÂN, HUỲNH GIA BẢO
156
Tậ
p 
16
, s
ố 
02
Th
án
g 
08
-2
01
8
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
Tài liệu tham khảo
1. M De Rycke, V Goossens, G Kokkali, M Meijer-Hoogeveen, E Coonen, 
C Moutou (2017). ESHRE PGD Consortium data collection XIV–XV: 
cycles from January 2011 to December 2012 with pregnancy follow-up to 
October 2013. Human Reproduction, 1974–1994.
2. Hồ Mạnh Tường, Nguyễn Thị Thu Lan, Bùi Võ Minh Hoàng và cs 
(2009b). Kỹ thuật chẩn đoán di truyền tiền làm tổ - Các trường hợp 
thành công đầu tiên ở Việt Nam. Báo cáo tại Hội nghị Việt Pháp, Hà 
Nội, tháng 5/2009.
3. Scriven, P. N., & Ogilvie, C. M. (2014). PGD for sex determination 
and chromosome rearrangements: FISH and emerging technologies. In 
Preimplantation Genetic Diagnosis in Clinical Practice (pp. 65-81).
4. Harton, G. L., Harper, J. C., Coonen, E., Pehlivan, T., Vesela, K., & 
Wilton, L. (2010). ESHRE PGD consortium best practice guidelines for 
fluorescence in situ hybridization-based PGD. Human Reproduction, 
26(1), 25-32. 
5. Harton, G. L., De Rycke, M., Fiorentino, F., Moutou, C., SenGupta, 
S., Traeger-Synodinos, J., & Harper, J. C. (2011). European Society 
for Human Reproduction and Embryology (ESHRE) PGD Consortium. 
ESHRE PGD consortium best practice guidelines for amplification-based 
PGD. Hum Reprod, 26(1), 33-40.
6. Harper J, Coonen E, De Rycke M, Harton G, Moutou C, Pehlivan T, 
Traeger-Synodinos J, Van Rij M, Goossens V. ESHRE PGD consortium 
data collection X: Cycles from January to December 2007 with pregnancy 
follow-up to October 2008. Hum Reprod 2010.
7. Bouljenkov V (1994) Epidemiology of haemoglobinopathies. In WHO 
Regional Working Group on the Prevention and Control of Thalassemia in 
Asia, Bangkok, Thailand.
8. Goossens V, Traeger-Synodinos J, Coonen E et al. ESHRE PGD 
Consortium data collection XI: cycles from January to December 2008 with 
pregnancy follow-up to October 2009. Hum Reprod 2012; 27: 1887–911. 
9. Schoolcraft WB, Katz-Jaffe MG (2013) Comprehensive chromosome screening 
of trophectoderm with vitrification facilitates elective single-embryo transfer for 
infertile women with advanced maternal age. Fertil Steril, 100(3): 615–619.
10. Maheshwar, A, Pandey S, Shetty A, Hamilton M, Bhattacharya 
S (2012). Obstetric and perinatal outcomes in singleton pregnancies 
resulting from the transfer of frozen thawed versus fresh embryos 
generated through in vitro fertilization treatment: a systematic review and 
meta-analysis. Fertil Steril, 98(2): 368–377.
11. Alfarawati, S., Fragouli, E., Colls, P., Stevens, J., Gutiérrez-Mateo, 
C., Schoolcraft, W. B., ... & Wells, D. (2011). The relationship between 
blastocyst morphology, chromosomal abnormality, and embryo gender. 
Fertility and Sterility, 95(2), 520-524.
12. Munné, S., Grifo, J., & Wells, D. (2016). Mosaicism: “survival of the fittest” 
versus “no embryo left behind”. Fertility and Sterility, 105(5), 1146-1149.
13. Greco, E., Minasi, M. G., & Fiorentino, F. (2015). Healthy babies 
after intrauterine transfer of mosaic aneuploid blastocysts. New England 
Journal of Medicine, 373(21), 2089-2090.
14. Fragouli, E., & Wells, D. (2011). Aneuploidy in the human blastocyst. 
Cytogenetic and genome research, 133(2-4), 149-159.

File đính kèm:

  • pdfung_dung_ky_thuat_chan_doan_di_truyen_tien_lam_to_trong_thu.pdf