Ứng dụng kỹ thuật bobs để phát hiện một số hội chứng mất đoạn nhỏ và lệch bội nhiễm sắc thể thai trong chẩn đoán thai nhi có siêu âm bất thường hệ tim mạch

Mục tiêu: Đánh giá giá trị kỹ thuật BoBs trong phát hiện một số hội

chứng mất đoạn nhỏ và lệch bội nhiễm sắc thể của thai có siêu âm bất

thường hệ tim mạch.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 100 mẫu dịch ối của các thai phụ

có thai ≥ 16 tuần và thai có hình ảnh siêu âm bất thường hệ tim mạch

được xét nghiệm bằng kỹ thuật BoBs và xét nghiệm nhiễm sắc thể (NST).

Kết quả: Phát hiện 28/100 thai có bất thường NST trong đó 8 trường

hợp liên quan với vi mất đoạn hoặc nhân đoạn nhỏ NST chỉ được phát

hiện bằng kỹ thuật BoBs (5 DiGeorge, 1 Cri-du-chat, 1 Prader Willi/

Anggelman, 1 trisomy 1phần NST 18 (q22.1q22.2) và 20 trường hợp

lệch bội NST được phát hiện cả bằng BoBs và xét nghiệm NST thường

quy gồm 10 trường hợp Trisomy 21, 9 trisomy 18, 1 trisomy 13. 4/5 thai

DiGeorge có tứ chứng Fallot, còn 1 DiGeorge, 1 Prader Willi/Anggelman

và 1 nhân đoạn nhỏ NST 18 (q22.1q22.2) có thông liên thất, 1 Cri-duchat có bất thường hệ thống mạch máu.

Kết luận: Với các thai có bất thường hệ tim mạch nên sử dụng đồng thời

cả 2 kỹ thuật (karyotype và kỹ thuật BoBs) để tăng tỷ lệ phát hiện các bất

thường NST đặc biệt các vi mất đoạn NST hay nhân đoạn nhỏ NST và giúp

chẩn đoán nhanh, chính xác và tránh bỏ sót nhiều trường hợp bất thường.

pdf 5 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Ứng dụng kỹ thuật bobs để phát hiện một số hội chứng mất đoạn nhỏ và lệch bội nhiễm sắc thể thai trong chẩn đoán thai nhi có siêu âm bất thường hệ tim mạch", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Ứng dụng kỹ thuật bobs để phát hiện một số hội chứng mất đoạn nhỏ và lệch bội nhiễm sắc thể thai trong chẩn đoán thai nhi có siêu âm bất thường hệ tim mạch

Ứng dụng kỹ thuật bobs để phát hiện một số hội chứng mất đoạn nhỏ và lệch bội nhiễm sắc thể thai trong chẩn đoán thai nhi có siêu âm bất thường hệ tim mạch
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 37 - 41, 2018
37
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
Hoàng Thị Ngọc Lan, Trần Danh Cường, Bùi Đức Thắng, Lê Phương Thảo 
Bệnh viện Phụ Sản Trung ương
ỨNG DỤNG KỸ THUẬT BOBS ĐỂ PHÁT HIỆN 
MỘT SỐ HỘI CHỨNG MẤT ĐOẠN NHỎ VÀ LỆCH BỘI 
NHIỄM SẮC THỂ THAI TRONG CHẨN ĐOÁN THAI NHI 
CÓ SIÊU ÂM BẤT THƯỜNG HỆ TIM MẠCH
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Hoàng Thị Ngọc Lan, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 02/04/2018
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
02/04/2018
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 27/04/2018
Từ khóa: BoBs, Bacs-on-Beads, 
mất đoạn nhỏ, nhiễm sắc thể.
Keywords: BoBs, Bacs-
on-Beads, microdiletion, 
microduplications, 
chromosome.
Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá giá trị kỹ thuật BoBs trong phát hiện một số hội 
chứng mất đoạn nhỏ và lệch bội nhiễm sắc thể của thai có siêu âm bất 
thường hệ tim mạch. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 100 mẫu dịch ối của các thai phụ 
có thai ≥ 16 tuần và thai có hình ảnh siêu âm bất thường hệ tim mạch 
được xét nghiệm bằng kỹ thuật BoBs và xét nghiệm nhiễm sắc thể (NST). 
Kết quả: Phát hiện 28/100 thai có bất thường NST trong đó 8 trường 
hợp liên quan với vi mất đoạn hoặc nhân đoạn nhỏ NST chỉ được phát 
hiện bằng kỹ thuật BoBs (5 DiGeorge, 1 Cri-du-chat, 1 Prader Willi/
Anggelman, 1 trisomy 1phần NST 18 (q22.1q22.2) và 20 trường hợp 
lệch bội NST được phát hiện cả bằng BoBs và xét nghiệm NST thường 
quy gồm 10 trường hợp Trisomy 21, 9 trisomy 18, 1 trisomy 13. 4/5 thai 
DiGeorge có tứ chứng Fallot, còn 1 DiGeorge, 1 Prader Willi/Anggelman 
và 1 nhân đoạn nhỏ NST 18 (q22.1q22.2) có thông liên thất, 1 Cri-du-
chat có bất thường hệ thống mạch máu. 
Kết luận: Với các thai có bất thường hệ tim mạch nên sử dụng đồng thời 
cả 2 kỹ thuật (karyotype và kỹ thuật BoBs) để tăng tỷ lệ phát hiện các bất 
thường NST đặc biệt các vi mất đoạn NST hay nhân đoạn nhỏ NST và giúp 
chẩn đoán nhanh, chính xác và tránh bỏ sót nhiều trường hợp bất thường.
Từ khoá: BoBs, Bacs-on-Beads, mất đoạn nhỏ, nhiễm sắc thể.
Abstract 
 APPLICATION OF BOBS TECHNIQUE FOR 
DETECTING CHROMOSOME MICRODELETION 
SYNDROMES AND ANEUPLOIDY OF FETUS WITH 
CARDIOVASCULAR SYSTEM ANOMALIES 
Objective: To assess the effetiveness of BACs-on-Beads (BoBs) 
method for detecting chromosome microdeletion syndromes and 
aneuploidy of fetus with cardiac anomalities. 
Method: For 100 women with singleton pregnancy and their fetus 
HOÀNG THỊ NGỌC LAN, TRẦN DANH CƯỜNG, BÙI ĐỨC THẮNG, LÊ PHƯƠNG THẢO
38
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
with cardiovascular system anomalities were indicated prenatal diagnosis by karyotyping and BoBs 
from their amnionic fluid samples. 
Results: 28/100 pregnancies have chromosomal aberration in which eight cases are associated 
with microdiletion or microduplication syndromes. By BoBs, syndromes of DiGeorge, Cri-du-chat, 
Prader Willi/Anggelman, microduplication 18 (q22.1q22.2) were detected, but karyotyping were not. 
20 cases with aneuploidy were successfully detected by both BoBs and karyotyping, including 10 
cases of trisomy 21, 9 cases of trisomy 18, 1 case of trisomy 13. 
Conclusion: For pregnant women with cardiovascular abnormalities, both techniques (karyotyping 
and BoBs) should be used simultaneously to increase the detection rate of fetal chromosomal 
abnormalities including microdiletion, microduplications and aneuploidy. 
Key words: BoBs, Bacs-on-Beads, microdiletion, microduplications, chromosome.
1. Đặt vấn đề
Sàng lọc và chẩn đoán trước sinh các bất thường 
di truyền của thai là cần thiết để có thể cho ra đời 
những đứa trẻ khỏe mạnh nhằm nâng cao chất 
lượng dân số. Siêu âm là một trong những phương 
pháp sàng lọc để phát hiện những bất thường hình 
thái của thai có thể liên quan tới những bất thường 
di truyền. Đặc biệt, với các thai có bất thường hệ 
tim mạch như tứ chứng Fallot, thông liên thất, hẹp 
van động mạch chủ có liên quan nhiều đến bất 
thường nhiễm sắc thể đặc biệt các vi mất đoạn NST. 
Kỹ thuật BoBs (Bacs-on-Beads) có khả năng phát 
hiện nhanh các bất thường liên quan đến NST 13, 
18, 21, X, Y và 9 hội chứng vi mất đoạn NST có 
tỷ lệ gặp khá phổ biến được chọn trong đó có hội 
chứng DiGeorge với tỷ lệ là 1/4000 [1], hội chứng 
Prader-Willi (PWS) và hội chứng Angelma (AS) với 
tỷ lệ trung bình khoảng 1/10000-1/30000 [2], hội 
chứng Cri du chat tỷ lệ là 1/20000-1/50000 trẻ sơ 
sinh [3]. Hậu quả của các đột biến vi mất đoạn NST 
nói chung vô cùng nặng nề, gây ra bất thường cho 
hầu hết các hệ cơ quan quan trọng như thần kinh, 
tim mạch, xương khớp đặc biệt gây chậm phát triển 
trí tuệ. Với ưu điểm của kỹ thuật BoBs có thể làm 
nhiều mẫu trong một lần xét nghiệm, kỹ thuật hiện 
đại, tính tự động hóa cao, có chứng chỉ IVD, thời 
gian thực hiện kỹ thuật và đọc kết quả từ 24-48h 
[4]. Kỹ thuật này đã được áp dụng phổ biến trên thế 
giới, nhưng ở Việt Nam kỹ thuật BoBs vẫn còn mới 
vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài này với mục tiêu: 
Đánh giá giá trị kỹ thuật Bobs trong phát hiện một 
số vi mất đoạn và lệch bội nhiễm sắc thể của thai có 
siêu âm bất thường hệ tim mạch. 
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu gồm 100 mẫu dịch ối của 
thai phụ có thai ≥ 16 tuần, có hình ảnh siêu âm thai 
bất thường ở hệ thống tim mạch. Xét nghiệm được 
tiến hành tại Trung tâm chẩn đoán trước sinh Bệnh 
viện phụ sản Trung Uơng từ 08/2016 – 12/2017. 
Phương pháp nghiên cứu ngang mô tả với mẫu 
nghiên cứu được chọn có chủ đích là những mẫu 
có nguy cơ cao cho vi mất đoạn NST. Mỗi mỗi xét 
nghiệm được thực hiện theo 2 phương pháp (nuôi 
cấy tế bào ối để phân tích NST và kỹ thuật BoBs). 
Phân tích NST dựa theo tiêu chuẩn quốc tế ISCN 
2015. Phân tích kết quả của kỹ thuật BoBs sẽ được 
phân tích bởi phần mềm chuyên dụng BoBsoft, kết 
quả cuối cùng thể hiện dưới dạng tỷ lệ giữa số lượng 
tín hiệu huỳnh quang của ADN mẫu trên số lượng 
tín hiệu huỳnh quang của ADN chứng. Kết quả bình 
thường khi tỷ lệ tín hiệu huỳnh quang từ 0,8-1,3; mất 
đoạn NST khi tỷ lệ 1,3.
Xử lý và phân tích số liệu theo phần mềm 
SPSS 16.0.
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 37 - 41, 2018
39
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
3. Kết quả
3.1. Đối chiếu kết quả của di truyền 
với kết quả siêu âm thai
Nhận xét: Bảng 1 cho thấy, trong 100 thai có 
dị tật tim mạch thì bất thường di truyền là 28 trường 
hợp (28%). BoBs đã phát hiện cả 28 trường hợp 
bất thường, nhưng nuôi cấy TB ối phân tích NST chỉ 
phát hiện được 20/28 trường hợp bất thường NST. 
Tỷ lệ bất thường NST nói chung được BoBs phát 
hiện là 28%, trong đó liên quan với vi đoạn NST 
tỷ lệ là 8%.
So sánh với siêu âm thai thấy có 17/52 thai 
thông liên thất, 7/27 thai tứ chứng Fallot, 6/22dị 
dạng mạch, 2/16 dị dạng khác của tim và 16/19 
thai có thêm các dị dạng khác phối hợp (như teo dò 
thực quản, tăng KSSG, dị dạng chi, bàn tay không 
mở) có bất thường di truyền ở mức NST thông 
thường hay mất hoặc thêm đoạn nhỏ NST.
3.2. Đối chiếu kết quả của siêu âm 
thai với kết quả của BoBs 
Nhận xét. Nhìn vào bảng thì thấy 
- Dựa vào dấu hiệu thông liên thất với 52 trường 
hợp có 18/52 thai đột biến NST trong đó có 4/18 
thai liên quan vi đoạn NST (3 mất đoạn nhỏ, 1 
nhân đoạn nhỏ NST).
Kết quả siêu âm thai
Kết quả BoBs Kết quả NST
Bình thường 
(72)
Bất thường 
(28)
Bình thường 
(80)
Bất thường 
(20)
Thông liên thất 35 17 38 14
Tứ chứng Fallot 20 7 24 3
Dị dạng hệ thống mạch 16 6 20 2
Dị dạng khác của tim 14 2 14 2
Các bất thường khác kết hợp 
với bất thường hệ tim mạch 3 16 5 14
Tổng 88*/72 48*/28 101*/80 35*/20
* Một số trường hợp có từ 2 bất thường trở lên
Bảng 1. Đối chiếu kết quả của BoBs, kết quả NST với hình ảnh siêu âm thai
STT Hình ảnh siêu âm thai Lệch bội NST Vi mất đoạn NST Nhân đoạn nhỏ NST
1 Thông liên thất (52) 14 3 1
2 Tứ chứng Fallot (27) 3 4
3 Dị dạng hệ thống mạch (22) 2 2 1
4 Dị dạng khác của tim (16) 2
5
Các bất thường khác kết hợp 
với bất thường hệ tim mạch 
(19)
14 1
Tổng 35*/20 9*/7 3*/1
* Có những trường hợp có nhiều bất thường trên cùng một thai.
Bảng 2. Tóm tắt các dạng bất thường siêu âm thai với kết quả BoBs
- Với 27 trường hợp tứ chứng Fallot thì có 7/27 
thai đột biến NST trong đó có 4/7 thai liên quan 
đến vi mất đoạn NST.
- 16 trường hợp dị dạng hệ thống mạch thì có 
5/16 thai đột biến NST trong đó có 2/5 thai liên 
quan đến vi mất đoạn NSTvà 1/5 liên quan với 
nhân đoạn nhỏ NST.
Nhận xét: 28/100 trường hợp có kết quả BoBs 
bất thường có siêu âm thai bất thường, liên quan 
đến di tật tim mạch. Trong 7 trường hợp vi mất 
đoạn NST có 5 trường hợp thai mắc hội chứng 
DiGeorge trong đó 4/5 thai có tứ chứng Fallot. 
2/7 thai vi mất đoạn (1 thai Digeogre,1 thai mắc 
hội chứng Prader Willi/Angelman) và 1 thai có 
nhân đoạn nhỏ NST số 18 (vùng 18q22.1q22.2) 
có thông liên thất và dị dạng mạch. 1 thai mắc hội 
chứng Cri du chat có dị dạng mạch máu lớn là hẹp 
đường ra thất trái, hẹp van động mạch phổi.
STT Siêu âm thai BoBs
1 Thông liên thất, viêm phúc mạc phân su Trisomy 21
2 Tứ chứng Fallot Trisomy 21
3 Thông liên thất, đa ối, tăng khoảng sáng sau gáy (KSSG) Trisomy 21
4 Thông liên thất, HC Dandy Walker Trisomy18
5 Tứ chứng Fallot, tắc tá tràng bẩm sinh Trisomy 21
6 Bệnh ống nhĩ thất hoàn toàn Trisomy 21
7 Thông liên thất, xương đùi ngắn Trisomy 21
8 Thông liên thất, đa ối Trisomy 21
9 Thông liên thất, HC Dandy Walker Trisomy 21
10 Hẹp động mạch phổi Trisomy 21
11 Thiểu sản thất trái Trisomy 21
12 Thông liên thất Trisomy18
13 Thông liên thất, đa ối Trisomy 18
14 Thông liên thất, nang ĐRMM Trisomy 18
15 Thông liên thất, thất phải 2 đường ra, bất sản thể chai hoàn toàn Trisomy 18
16 Thông liên thất, ko thấy dấu hiệu bàn tay mở, đa ối Trisomy 18
17 Thông liên thất, bất thường tư thế các chi Trisomy 18
18 Thông liên thất, không thấy dấu hiệu bàn tay mở, đa ối, dạ dày nhỏ, HC Dandy Walker Trisomy 18
19 Thông liên thất, đa ối Trisomy 18
20 Tứ chứng Fallot, khe hở môi 1 bên Trisomy 13
21 Thông liên thất, Nang bạch huyết vùng cổ Prader–Willi/ Angelman
22 Thông liên thất, theo dõi đứt quai ĐMC Digeogre
23 Tứ chứng Fallot Digeogre
24 Tứ chứng Fallot Digeogre
25 Tứ chứng Fallot Digeogre
26 Tứ chứng Fallot Digeogre
27 Hẹp đường ra thất trái, hẹp van động mạch phổi Cri du chat
28 Thông liên thất, ĐMC chờm lên vách liên thất, tăng khoảng sáng sau gáy (KSSG)
Nhân đoạn nhỏ NST 
18 vùng (q22.1 
q22.2)
Bảng 3. Chi tiết kết quả siêu âm thai của những trường hợp có kết quả BoBs bất thường
HOÀNG THỊ NGỌC LAN, TRẦN DANH CƯỜNG, BÙI ĐỨC THẮNG, LÊ PHƯƠNG THẢO
40
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
4. Bàn luận
Nghiên cứu gồm 100 mẫu dịch ối của thai phụ 
có tuổi thai ≥ 16 tuần, siêu âm thai có bất thường dị 
tật ở hệ thống tim mạch. BoBs đã phát hiện 28/100 
mẫu có bất thường NST bao gồm 8 trường hợp đột 
biến ở mức vi đoạn NST (5 DiGeorge, 1 Cri-du-chat, 
1 Prader Willi/Anggelman và 1 nhân đoạn nhỏ 
NST 18) và 20 trường hợp lệch bội NST (10 trường 
hợp Trisomy 21, 9 trisomy 18, 1 trisomy 13). Tỷ lệ 
bất thường di truyền liên quan với bất thường tim 
mạch chiếm 28%. Kỹ thuật di truyền tế bào chỉ phát 
hiện 20/28 thai có lệch bội NST. Như vậy, Bobs có 
kết quả tương đồng với kỹ thuật di truyền tế bào với 
độ chính xác 100% ở tất cả các trường hợp trisomy 
21, trisomy 18 và trisomy 13 phù hợp với nghiên 
cứu của Choy và cộng sự (2014), khi so sánh kỹ 
thuật BoBs với hai phương pháp lập karyotype và 
QF- PCR ở 2153 mẫu chẩn đoán trước sinh cho thấy 
tất cả trường hợp lệch bội của NST 13, 18, 21, X và 
Y đều được phát hiện [5]. Ngoài ra BoBs còn phát 
hiện thêm được 7 trường hợp có đột biến vi mất 
đoạn đó là 5 trường hợp thai hội chứng Digeogre, 1 
trường hợp Cri-du-chat, 1 trường hợp Prader Willi/
Anggelman và 1 trường hợp nhân đoạn 1 phần 
NST số 18 mà không được phát hiện bằng phương 
pháp phân tích nhiễm sắc thể thông thường, tương 
tự với nghiên cứu của Garcia-Herrero S và cs (2014) 
[6], ứng dụng kỹ thuật BoBs để phát hiện lệch bội 
và vi mất đoạn NST. Đây là những hội chứng vi mất 
đoạn với đoạn mất có kích thước dưới 5 Mb, trong 
khi phương pháp di truyền tế bào chỉ phát hiện được 
mất đoạn với kích thước lớn hơn 10Mb [7]. 
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy những tổn 
thương ở tim thì tỷ lệ các đột biến NST liên quan với 
dấu hiệu thông liên thất chiếm hầu như toàn bộ các 
trường hợp có bất thường NST, tỷ lệ bất thường NST 
(lệch bội và vi mất đoạn) gặp trong thông liên thất là 
18/52, trong đó gặp chủ yếu các bất thường lệch bội 
NST chiếm 14/18, mất đoạn nhỏ hoặc nhân đoạn 
nhỏ gặp 4/18. Với tổn thương cả tim mạch như tứ 
chứng Fallot (gồm 4 dấu hiệu: thông liên thất, hẹp 
đường ra thất phải lên phổi, động mạch chủ nằm giữa 
lỗ thông giữa 2 tâm thất (cưỡi ngựa) và dầy thất phải) 
thì tỷ lệ gặp đột biến NST là 7/27 nhưng trong đó tỷ 
lệ gặp hội chứng vi mất đoạn lại là 4/7. 16 trường 
hợp dị dạng hệ thống mạch thì có 5/16 thai đột biến 
NST trong đó có 2/5 thai liên quan đến vi mất đoạn 
NSTvà 1/5 liên quan với nhân đoạn nhỏ NST.
 Điều này cho chúng ta thấy với dị dạng cả tim 
và mạch thì liên quan nhiều đến các hội chứng vi 
mất đoạn. Ngày nay, các bất thường tim mạch như 
vậy có thể sửa chữa tốt nhưng những bất thường 
liên quan với chậm trí tuệ thì khó có thể thay đổi 
được mà tất cả các trường hợp vi mất đoạn NST 
này đều liên quan với chậm phát triển trí tuệ, vì 
vậy việc sử dụng kỹ thuật BoBs để phát hiện được 
những vi mất đoạn từ 100 kb đến vài MB là cần 
thiết vì kỹ thuật phân tích NST thông thường chỉ có 
khả năng phát hiện các đột biến liên quan tới mất 
hoặc thêm từ > 7-10 MB.
Về mối liên hệ giữa kết quả kỹ thuật BoBs và 
hình ảnh siêu âm bất thường. Có 28/100 trường 
hợp trên siêu âm phát hiện dị tật hệ tim mạch (thông 
liên thất, tứ chứng Fallot, theo dõi đứt quai động 
mạch chủ, các dị dạng khác của tim...) thì 18/28 
trường hợp có bất thường NST có thông liên thất 
với trong đó có 14/18 trường hợp liên quan đến 
các bất thường lệch bội là trisomy 21, trisomy 18, 
trisomy 13 và 4/18 liên quan với vi đoạn NST. Có 
7/28 trường hợp có bất thường NST có tứ chứng 
Fallot trong đó có 4/7 trường hợp liên quan với vi 
mất đoạn. Trong dị dạng mạch có 5/28 thai có bất 
thường NST thì có 3/5 thai liên quan với vi NST 
(2 thai vi mất đoạn, 1 thai nhân đoạn nhỏ). Còn 
những trường hợp dị dạng khác của tim thì chỉ thấy 
liên quan các đột biến lệch bội NST, không phát 
hiện thấy liên quan đến vi mất đoạn NST.
Ở bảng 3 cho chúng ta thấy chi tiết hơn mối liên 
quan giữa các bất thường thai được phát hiện bằng 
siêu âm với các dạng đột biến NST. Trong 5 thai 
DiGeorge thì cả 5 trường hợp đều liên quan đến bất 
thường tim và mạch, kết quả này có thể giải thích vì 
hội chứng DiGeorge gây tổn thương nhiều cơ quan 
bộ phận trong đó bất thường hệ tim mạch chiếm 75% 
[8]. Trong nghiên cứu này thì 4/5 thai DiGeorge siêu 
âm là tứ chứng Fallot, đây là những bất thường lớn 
của cả hệ tim mạch gồm 4 dấu hiệu: thông liên thất, 
hẹp đường ra thất phải lên phổi, động mạch chủ nằm 
giữa lỗ thông giữa 2 tâm thất (cưỡi ngựa) và dầy thất 
phải điều này cũng phù hợp với các dấu hiệu lâm 
sàng của hội chứng Digeogre là hội chứng đa dị tật 
bẩm sinh với những dị tật ở tim mạch, bất thường ở 
vòm miệng, thiếu hụt miễn dịch và đặc biệt là gây ra 
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 37 - 41, 2018
41
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
chậm phát triển trí tuệ và tinh thần [9],[10]. 4 trường 
hợp còn lại (3 trường hợp vi mất đoạn: 1 Digeogre, 
1 Prader–Willi/Angelman và 1 nhân đoạn nhỏ NST 
18 (q22.1 q22.2) đều có thông liên thất và 1 Cri 
du chat có dấu hiệu hẹp đường ra thất trái, hẹp van 
động mạch phổi. Như vậy tất cả những trường hợp vi 
mất đoạn nhỏ NST hoặc nhân đoạn nhỏ NST thì bất 
thường hệ tim mạch gặp chủ yếu, tỷ lệ bất thường hệ 
tim mạch có bất thường vi đoạn NST là 8/100. Hội 
chứng DiGeorge (vi mất đoạn NST) chiếm 5% trong 
100 thai có bất thường tim mạch và chiếm 5/8 trường 
hợp vi mất đoạn (62,5%), chiếm 5/28 (17,8%) trong 
số các bất thường NST. Điều này cũng cho thấy hội 
chứng DiGeorge gặp khá phổ biến, trong cộng đồng, 
nghiên cứu ở Thuỵ điển cũng gặp với tỷ lệ 1/4000 
[11], nó gây ra hậu quả rất nghiêm trọng, siêu âm có 
những dấu hiệu chỉ điểm như bất thường hệ tim mạch, 
bất thường về vòm miệng. Tuy nhiên, các dấu hiệu 
này cũng gặp trong một số bất thường NST khác vì 
vậy nên trong nghiên cứu này chúng tôi còn phát hiện 
ra các hội chứng bất thường NST khác như hội chứng 
Down (trisomy21), hội chứng Patau (trisomy 13), hội 
chứng Edwards (trisomy 18), Cri du chat. Dị tật tim 
gặp trong hội chứng Down là khoảng 46% [12]. Hơn 
nữa, một số hội chứng vi mất đoạn rất khó được phát 
hiện trên siêu âm và ngay cả khi trẻ được sinh ra như 
hội chứng Prader – Willi/Angelma vì vậy việc đưa kỹ 
thuật BoBs vào chẩn đoán trước sinh là cần thiết. Như 
chúng ta đã biết hầu hết các hội chứng vi mất đoạn 
nhỏ NST đều gây ra chậm phát triển trí tuệ vì vậy việc 
phát hiện trước sinh những dạng đột biến này là rất 
cần thiết. Sử dụng prenatal BoBs cho chẩn đoán trước 
sinh là nên được phổ biến rộng rãi vì nó đã phát hiện 
được những lệch bội NST thông thường hay gặp với 
tần số cao như hội chứng Down, hội chứng Edwards, 
Patau, hay những lệch bội liên quan với cặp NST giới 
tính. Ngoài ra, kỹ thuật BoBs đã phát hiện được những 
trường hợp vi mất đoạn NST liên quan với 9 hội chứng 
đã chọn mà xét nghiệm NST thông thường không phát 
hiện được. Kỹ thuật BoBs với một ưu điểm nữa là có 
thể đánh giá nhiều mẫu bệnh phẩm trong một lần 
xét nghiệm, thời gian thực hiện nhanh, chính xác, có 
chứng chỉ IVD, thích hợp cho chẩn đoán trước sinh. Vì 
vậy, việc phối kết hợp phương pháp di truyền tế bào 
và kỹ thuật BoBs trong chẩn đoán trước sinh giúp chẩn 
đoán nhanh, chính xác và tránh bỏ sót nhiều trường 
hợp bất thường, giúp thai phụ và gia đình có hướng 
xử trí kịp thời [6],[13].
5. Kết luận
Qua nghiên cứu 100 mẫu ối của thai có siêu 
âm thai dị dạng hệ tim mạch. Với kỹ thuật BoBs 
và phân tích NST đã phát hiện 28/100 (28%) 
thai có bất thường NST trong đó có 8 trường hợp 
liên quan với mất đoạn nhỏ hay nhân đoạn nhỏ 
NST chiếm 8% được phát hiện chỉ bằng kỹ thuật 
BoBs (5 DiGeorge, 1 Cri-du-chat, 1 Prader Willi/
Anggelman và 1 nhân đoạn nhỏ NST18) và 20 
bất thường NST được phát hiện bằng cả 2 kỹ thuật 
BoBs và di truyền NST bao gồm: 10 trường hợp 
Trisomy 21, 9 trisomy 18, 1 Trisomy13. Cần đưa 
kỹ thuật BoBs để chẩn đoán trước sinh để phát hiện 
các vi mất đoạn hoặc các nhân đoạn nhỏ NST.
Tài liệu tham khảo
1. Chromosome 22q11.2 Deletion Syndrome - NORD (National Organization 
for Rare Disorders) . NORD (National Organization for Rare Disorders). 2017.
2. Prader-Willi Syndrome (PWS): Other FAQs. NICHD. 2014-01-14. Retrieved 
2016-08-19
3. Chen H. Cri-du-chat Syndrome. Medscape. 2015.
4. Vialard F, Simoni G, Aboura A, De Toffol S, Molina Gomes D, Marcato L. 
Prenatal BACs-on-Beads™. A new technology for rapid detection of aneuploidies 
and microdeletions in prenatal diagnosis. Prenat Diagn; 2011. 31(5), 500-8.
5. Choy KW et. al. Diagnostic accuracy of the BACs-on-Beads™ assay 
versus karyotyping for prenatal detection of chromosomal abnormalities: a 
retrospective consecutive case series. BJOG; 2014. 121 (10): 1245–52.
6. Garcia-Herrero S., Campos-Galindo I., Martinez-Conejero J. A et al. BACs-
on-Beads technology: a reliable test for rapid detection of aneuploidies and 
microdeletions in prenatal diagnosis. Biomed Res Int; 2014, 590298
7. Cirigliano V, Ejarque M, Canãdas MP, et al. Clinical application of multiplex 
quantitative fluorescent polymerase chain reaction (QF-PCR) for the rapid prenatal 
detection of common chromosome aneuploidies. Mol Hum Reprod;2001. 7:1001-6
8. Swillen, A; Vogels, A; Devriendt, K; Fryns, JP. Chromosome 22q11 deletion 
syndrome: update and review of the clinical features, cognitive-behavioral spectrum, and 
psychiatric complications. American Journal of Medical Genetics; 1999. 97 (2), 128–35
9. Bassett AS, Chow EW, AbdelMalik P, Gheorghiu M, Husted J, Weksberg 
R. The schizophrenia phenotype in 22q11 deletion syndrome. Am J Psychiatry; 
2003. 160 (9), 1580-6.
10. Debbané M, Glaser B, David MK, Feinstein C, Eliez . Psychotic symptoms in 
children and adolescents with 22q11.2 deletion syndrome: Neuropsychological and 
behavioral implications. Schizophr. Res; 2006. 84 (2–3), 187–93.
11. Oskarsdóttir S, Vujic M, Fasth A. Incidence and prevalence of the 22q11 
deletion syndrome: a population-based study in Western Sweden. Arch. Dis. 
Child; 2004. 89(2), 148–51.
12. Holland A.J., Oliver C. Down’s syndrome and the links with Alzheimer’s 
disease, J Neural Neurosurg Psychiatry; 1995. 59: pp. 111-4.
13. Vialard F, Simoni G, Gomes DM, et al.. Prenatal BACs-on-BeadsTM: the 
prospective experience of five prenatal diagnosis laboratories. Prenat Diagn; 
2012. 32, 329-35.

File đính kèm:

  • pdfung_dung_ky_thuat_bobs_de_phat_hien_mot_so_hoi_chung_mat_doa.pdf