Ứng dụng kỹ thuật BoBs để phát hiện một số hội chứng lệch bội và mất đoạn nhỏ nhiễm sắc thể thai trong chẩn đoán trước sinh

Mục tiêu: Đánh giá giá trị kỹ thuật BoBs trong phát hiện một số lệch

bội và mất đoạn nhỏ nhiễm sắc thể của thai.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 30 mẫu dịch ối của các thai phụ

có nguy cơ cao cho bất thường nhiễm sắc thể (NST) với tuổi thai ≥ 16

tuần được xét nghiệm đồng thời kỹ thuật BoBs và kỹ thuật nuôi cấy tế

bào ối để phân tích NST lập karyotype.

Kết quả: có 6/30 mẫu ối có bất thường NST, trong đó kỹ thuật BoBs phát

hiện 6/6 mẫu bất thường NST bao gồm: 2 trường hợp Trisomy 21, 1 trisomy

18, 2 hội chứng DiGeorge, 1 hội chứng Cri-du-chat còn phân tích NST lập

karyotype phát hiện 3/6 trường hợp bất thường (2 Trisomy 21;1 trisomy 18).

Kết luận: ứng dụng kỹ thuật BoBs đã phát hiện được 3 trường hợp

mất đoạn nhỏ NST (2 hội chứng DiGeorge, 1 hội chứng Cri-du-chat) mà

phương pháp lập karyotype không phát hiện được vì vậy cần kết hợp kỹ

thuật BoBs với di truyền tế bào trong chẩn đoán trước sinh.

pdf 4 trang phuongnguyen 80
Bạn đang xem tài liệu "Ứng dụng kỹ thuật BoBs để phát hiện một số hội chứng lệch bội và mất đoạn nhỏ nhiễm sắc thể thai trong chẩn đoán trước sinh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Ứng dụng kỹ thuật BoBs để phát hiện một số hội chứng lệch bội và mất đoạn nhỏ nhiễm sắc thể thai trong chẩn đoán trước sinh

Ứng dụng kỹ thuật BoBs để phát hiện một số hội chứng lệch bội và mất đoạn nhỏ nhiễm sắc thể thai trong chẩn đoán trước sinh
PHAN THỊ THU GIANG, HOÀNG THỊ NGỌC LAN, TRẦN DANH CƯỜNG, BÙI ĐỨC THẮNG, NGUYỄN THỊ HOA
08
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
Phan Thị Thu Giang(1), Hoàng Thị Ngọc Lan(2), Trần Danh Cường(2), Bùi Đức Thắng(2), Nguyễn Thị Hoa(2) 
(1) Trường Đại học Y Hà Nội, (2) Bệnh viện Phụ Sản Trung ương
ỨNG DỤNG KỸ THUẬT BOBS
ĐỂ PHÁT HIỆN MỘT SỐ HỘI CHỨNG LỆCH BỘI
VÀ MẤT ĐOẠN NHỎ NHIỄM SẮC THỂ THAI
TRONG CHẨN ĐOÁN TRƯỚC SINH
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Hoàng Thị Ngọc Lan, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 01/03/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
15/03/2017
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 28/04/2017
Từ khóa: BoBs, chẩn đoán 
trước sinh, Hội chứng 
DiGeorge.
Keywords: BoBs, prenatal 
diagnosis, DiGeorge 
Syndrome.
Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá giá trị kỹ thuật BoBs trong phát hiện một số lệch 
bội và mất đoạn nhỏ nhiễm sắc thể của thai. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 30 mẫu dịch ối của các thai phụ 
có nguy cơ cao cho bất thường nhiễm sắc thể (NST) với tuổi thai ≥ 16 
tuần được xét nghiệm đồng thời kỹ thuật BoBs và kỹ thuật nuôi cấy tế 
bào ối để phân tích NST lập karyotype. 
Kết quả: có 6/30 mẫu ối có bất thường NST, trong đó kỹ thuật BoBs phát 
hiện 6/6 mẫu bất thường NST bao gồm: 2 trường hợp Trisomy 21, 1 trisomy 
18, 2 hội chứng DiGeorge, 1 hội chứng Cri-du-chat còn phân tích NST lập 
karyotype phát hiện 3/6 trường hợp bất thường (2 Trisomy 21;1 trisomy 18). 
Kết luận: ứng dụng kỹ thuật BoBs đã phát hiện được 3 trường hợp 
mất đoạn nhỏ NST (2 hội chứng DiGeorge, 1 hội chứng Cri-du-chat) mà 
phương pháp lập karyotype không phát hiện được vì vậy cần kết hợp kỹ 
thuật BoBs với di truyền tế bào trong chẩn đoán trước sinh.
Từ khóa: BoBs, chẩn đoán trước sinh, Hội chứng DiGeorge.
Abstract 
APPLICATIONS BOBS TECHNICQUE FOR DETECTION 
SOME COMMON CHROMOSOME ANEUPLOIDY AND 
MICRODELETION IN PRENATAL DIAGNOSIS
Objective: To evaluate the value of the BoBs assay for prenatal 
detection of chromosomal aneuploidies and microdeletions. 
Objects and Methods Study: amniotic fluid samples of 30 women 
with gestational age ≥ 16 weeks in the Center of Prenatal Diagnosis, 
National Hospital of Obsterics and Gynecology. Each specimen was 
tested by BoBs and cytogenetics. 
Results: abnormal chromosome were detected in 6 samples by BoBs 
and cytogenetics. 2 Trisomy 21; 1 trisomy 18 were found by both BoBs and 
cytogenetics method. Bobs technique detected 2 cases DiGeorge syndrome, 
1 case Cri-du-chat syndrome which missed by cytogenetic method. 
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 08 - 11, 2017
09
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
1. Đặt vấn đề
Chẩn đoán và phát hiện sớm các bệnh lý di 
truyền ở thời kỳ phôi thai là cần thiết để có thể đảm 
bảo cho ra đời những đứa trẻ khỏe mạnh nhằm 
nâng cao chất lượng dân số. Hiện nay, phương 
pháp phân tích NST và QF-PCR (Quantitative 
fluororescen) là hai kỹ thuật đang được sử dụng 
thường xuyên nhất. Lập karyotype là tiêu chuẩn 
vàng được sử dụng để chẩn đoán các bất thường 
nhiễm sắc thể (NST) với khả năng đánh giá được 
toàn bộ NST với độ chính xác cao [1]. Tuy nhiên, 
hai phương pháp này không xác định được các 
mất đoạn nhỏ NST, nhất là các trường hợp vi mất 
đoạn NST. Kỹ thuật BoBs (Bacs-on-Beads) ra đời 
đã khắc phục được những hạn chế của các kỹ 
thuật này. BoBs có khả năng phát hiện nhanh bất 
thường liên quan đến NST 13, 18, 21, X, Y và 
9 hội chứng vi mất đoạn NST được chọn mà các 
hội chứng vi mất đoạn này có thể bị bỏ sót khi 
xét nghiệm bằng kỹ thuật di truyền tế bào hay QF 
- PCR. Kỹ thuật này chính xác với tỷ lệ thất bại 
khoảng 4%. Hơn nữa, hậu quả của các đột biến vi 
mất đoạn NST vô cùng nặng nề, gây ra bất thường 
cho hầu hết các hệ cơ quan quan trọng như thần 
kinh, tim mạch, xương khớp đặc biệt gây chậm 
phát triển trí tuệ. Với ưu điểm của kỹ thuật BoBs là 
có thể đánh giá nhiều mẫu bệnh phẩm trong một 
lần xét nghiệm, kỹ thuật hiện đại, tính tự động hóa 
cao, thời gian thực hiện kỹ thuật và có kết quả từ 
24-48h [2], xét nghiệm này đã được chứng chỉ IVD 
và giá thành xét nghiệm được chấp nhận.
Kỹ thuật này đã được áp dụng phổ biến trên thế 
giới, ở Việt Nam kỹ thuật BoBs vẫn còn mới vì vậy 
chúng tôi tiến hành đề tài này với hai mục tiêu: (1) Mô 
tả một số lệch bội và vi mất đoạn NST thai trong chẩn 
đoán trước sinh bằng kỹ thuật Bobs và (2) Nhận xét 
kết quả của kỹ thuật Bobs trong chẩn đoán trước sinh 
một số hội chứng lệch bội và vi mất đoạn NST thai.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu gồm 30 mẫu dịch ối của 
thai phụ có 1 thai ≥ 16 tuần đã được chọc hút ối, 
có kết quả sàng lọc thuộc nhóm nguy cơ cao cho 
bất thường di truyền đặc biệt là các thai phụ có 
hình ảnh siêu âm thai bất thường như dị tật ở hệ 
thống tim mạch Xét nghiệm được tiến hành tại 
Trung tâm Chẩn đoán trước sinh Bệnh viện Phụ Sản 
Trung ương từ 08/2016 – 11/2016. Với phương 
pháp nghiên cứu ngang mô tả chọn mẫu có chủ 
đích là những mẫu có nguy cơ cao cho vi mất đoạn 
NST. Mỗi mẫu ối được được xét nghiệm đồng thời 
kỹ thuật BoBs và kỹ thuật nuôi cấy tế bào ối để 
phân tích NST lập karyotype. 
Phân tích kết quả lập karyotpe theo tiêu chuẩn 
quốc tế 2015 còn kết quả của BoBs sẽ được phân 
tích bởi phần mềm chuyên dụng BoBsoft, kết quả 
cuối cùng thể hiện dưới dạng tỷ lệ giữa số lượng 
tín hiệu huỳnh quang của ADN mẫu trên số lượng 
tín hiệu huỳnh quang của ADN chứng kết quả bình 
thường khi tỷ lệ tín hiệu huỳnh quang từ 0,8-1,3; 
là mất đoạn NST khi tỷ lệ < 0,8, là thêm đoạn khi 
tỷ lệ >1,3.
Xử lý và phân tích số liệu theo phần mềm 
SPSS 16.0.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Kết quả phân tích nhiễm sắc thể và 
kết quả BoBs
Có 24/30 trường hợp có kết quả di truyền 
bình thường (cả 2 phương pháp). Trong số 6/30 
Conclusion: Bobs asay detected 2 cases DiGeorge syndrome, 1 case Cri-du-chat syndrome that 
cytogenetic methods did not detect. Our data suggested that prenatal diagnosis should be combined 
both cytogenetic and Bobs assay.
Keywords: BoBs, prenatal diagnosis, DiGeorge Syndrome.
PHAN THỊ THU GIANG, HOÀNG THỊ NGỌC LAN, TRẦN DANH CƯỜNG, BÙI ĐỨC THẮNG, NGUYỄN THỊ HOA
10
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
mẫu bất thường, kỹ thuật Bobs phát hiện được 6/6 
trường hợp chiếm 100% còn di truyền tế bào chỉ 
phát hiện được 3/6 trường hợp chiếm 50%.
3.2. Đối chiếu kết quả di truyền với két 
quả sàng lọc trước sinh
6/6 mẫu bất thường đều có siêu âm thai bất 
thường, trong đó có 5/6 trường hợp liên quan với 
dị tật tim, mạch. Trong 3 trường hợp vi mất đoạn 
NST có 2 trường hợp thai mắc hội chứng DiGeorge 
đều có dị tật ở tim, mạch và 1 trường hợp thai mắc 
hội chứng Cri du chat có dị tật ở ống thần kinh.
4. Bàn luận
Nghiên cứu tiến hành trên 30 thai phụ tham gia 
chọc ối có tuổi thai > 16 tuần. Mỗi mẫu ối được xét 
nghiệm bằng kỹ thuật BoBs và kỹ thuật phân tích 
NST lập karyotype. Bằng kỹ thuật BoBs đã phát 
hiện được 6/30 mẫu có bất thường NST và 24/30 
mẫu có kết quả bình thường. Trong số bất thường 
NST thì 3 trường hợp lệch bội (2 hội chứng Down, 
1 hội chứng Edwards), 3 trường hợp vi mất đoạn 
NST (2 Digeogre, 1 Cri-du-chat).
Đánh giá giá trị kỹ thuật BoBs trong chẩn đoán 
trước sinh một số hội chứng mất đoạn nhỏ và bất 
thường nhiếm sắc thể. Phương pháp phân tích NST 
lập karyotype từ lâu đã được xem là tiêu chuẩn vàng 
trong việc đánh giá bộ NST người. Vì vậy, chúng 
tôi lựa chọn phương pháp này làm cơ sở để đánh 
giá kỹ thuật BoBs. Theo bảng 1, kết quả của BoBs 
và phân tích NST lập karyotype phù hợp 24/30 
Kiểu NST
Kết quả Bobs Kết quả karyotype
Số mẫu Tỷ lệ (%) Số mẫu Tỷ lệ (%)
Bình thường 24 80 27 90
Trisomy 18 1 3,33 1 3,33
Trisomy 21 2 6,67 2 6,67
Mất đoạn nhỏ NST 3 10 0 0
Tổng 30 100 30 100
Bảng 1. So sánh kết quả của BoBs với kết quả karyotype
TT Siêu âm thai Sàng lọc HTM Kết quả BoBs Karyotype
1 Thông liên thất Không XN 47,XX, + 21 47,XX, + 21
2 Thông liên thất, đa ối Không XN 47,XX, + 18 47,XX, + 18
3 Tứ chứng Fallot Không XN HC** Digeogre 46,XY
4 Thông liên thất, theo dõi đứt quai ĐMC Không XN HC Digeogre 46,XY
5 TKSSG*, thông liên thất Không XN 47,XY, + 21 47,XY, + 21
6 Hở ống thần kinh Nguy cơ HC Down 1/26 HC Cri-du Chat 46,XX
*TKSSG: tăng khoảng sáng sau gáy, **HC: Hội chứng
Bảng 2. Đối chiếu kết quả di truyền tế bào và kỹ thuật BoBs với kết quả sàng lọc 
ở những trường hợp có bất thường di truyền
trường hợp. Sử dụng kỹ thuật BoBs đã chẩn đoán 
được 6/6 (chiếm tỷ lệ 100%) trường hợp bất thường 
NST, trong khi với phương pháp lập karyotype chỉ 
phát hiện được 3/6 mẫu chiếm 50%. Kỹ thuật BoBs 
cho kết quả giống với kỹ thuật di truyền tế bào với 
độ chính xác 100% ở tất cả các trường hợp trisomy 
21 và trisomy 18, phù hợp với nghiên cứu của Choy 
và cộng sự (2014), khi so sánh kỹ thuật BoBs với 
hai phương pháp lập karyotype và QF- PCR ở 2153 
mẫu chẩn đoán trước sinh cho thấy tất cả trường hợp 
lệch bội của NST 13, 18, 21, X và Y đều được phát 
hiện [3]. Ngoài ra BoBs còn phát hiện thêm được 3 
trường hợp có đột biến vi mất đoạn NST mà không 
được phát hiện bằng phương pháp phân tích NST 
thông thường cũng như phương pháp QF-PCR, đó là 
2 trường hợp thai hội chứng Digeogre và 1 trường 
hợp Cri-du-chat. Đây là những hội chứng vi mất 
đoạn có kích thước < 5 Mb, trong khi phương pháp 
di truyền tế bào chỉ phát hiện được mất đoạn với 
kích thước lớn hơn 10Mb [4]. Hội chứng DiGeogre 
là hội chứng đa dị tật bẩm sinh với những dị tật ở 
tim mạch, bất thường ở vòm miệng, thiếu hụt miễn 
dịch và đặc biệt là gây ra chậm phát triển tâm thần 
[5],[6]. Chẩn đoán sớm sẽ giúp giảm đáng kể chi 
phí chăm sóc y tế và có thể giúp cho sự phát triển 
lâu dài của trẻ.
Về mối liên hệ giữa kết quả di truyền tế bào, 
kỹ thuật BoBs và sàng lọc trước sinh. Qua bảng 2, 
thấy rằng một trường hợp có dấu hiệu tăng khoảng 
sáng sau gáy và thông liên thất phát hiện trên siêu 
âm thì kết quả chẩn đoán của cả hai kỹ thuật đều 
là thai mắc hội chứng trisomy 21, điều này cũng 
được thể hiện trong nghiên cứu của tác giả Hoàng 
Thị Ngọc Lan và cộng sự (2006) [7], khi sử dụng 
dấu hiệu tăng khoảng sáng sau gáy để phát hiện 
thai mắc hội chứng Down có tỷ lệ phát hiện cao. 
Như vậy có 5/6 trường hợp trên siêu âm phát hiện 
dị tật hệ tim mạch (thông liên thất, tứ chứng Fallot, 
theo dõi đứt quai động mạch chủ), trong đó có 3 
loại đột biến khác nhau: trisomy 21, trisomy 18 và 
2 trường hợp hội chứng DiGeorge. Như vậy, mặc 
dù kết quả sàng lọc trước sinh đều hướng tới hội 
chứng Down, nhưng trên thực tế còn gặp một số đột 
biến NST khác nữa. Kết quả này có thể giải thích vì 
hội chứng DiGeorge gây tổn thương nhiều cơ quan 
bộ phận trong đó bất thường hệ tim mạch chiếm 
75% [8]. Mặt khác, hội chứng Down là hội chứng 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 08 - 11, 2017
11
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
được chẩn đoán bằng phương pháp di truyền tế 
bào, do vậy nếu chúng ta chỉ căn cứ vào kết quả 
sàng lọc trước sinh mà chỉ định nuôi cấy tế bào hay 
QF-PCR thì sẽ bỏ sót rất nhiều trường hợp liên quan 
với vi mất đoạn NST. Trong những hội chứng vi mất 
đoạn là thì hội chứng DiGeorge hay gặp (1/4000) 
[9], nó gây ra hậu quả rất nghiêm trọng, siêu âm 
có những dấu hiệu chỉ điểm như bất thường hệ tim 
mạch, bất thường về vòm miệng. Tuy nhiên, các 
dấu hiệu này cũng gặp trong một số bất thường 
NST khác. Hơn nữa, một số hội chứng vi mất đoạn 
rất khó được phát hiện trên siêu âm và ngay cả 
khi trẻ được sinh ra như hội chứng Prader – Willi/
Angelman vì vậy việc đưa kỹ thuật BoBs vào chẩn 
đoán trước sinh là cần thiết. Trong nghiên cứu có 
1 trường hợp vừa có kết quả siêu âm bất thường 
vừa có sàng lọc huyết thanh mẹ thuộc nguy cơ cao 
với hội chứng Down, thai được chẩn đoán 46,XX, 
nhưng lại được chẩn đoán là hội chứng Cri-du-
chat bằng kỹ thuật BoBs. Kết quả này cho chúng ta 
thấy sàng lọc huyết thanh mẹ không chỉ sàng cho 
hội chứng Down, hội chứng Edwards mà còn sàng 
lọc các dạng bất thường NST khác. Hầu hết các 
hội chứng vi mất đoạn nhỏ NST đều gây ra chậm 
phát triển trí tuệ vì vậy việc phát hiện trước sinh 
những dạng đột biến này là rất cần thiết. Ngoài 
ra, kỹ thuật BoBs có thể đánh giá nhiều mẫu bệnh 
phẩm trong một lần xét nghiệm, thời gian thực hiện 
nhanh, chính xác, giá thành phù hợp cho cộng 
đồng. Vì vậy, việc phối kết hợp phương pháp di 
truyền tế bào và kỹ thuật BoBs trong chẩn đoán 
trước sinh giúp chẩn đoán nhanh, chính xác và 
tránh bỏ sót các trường hợp vi mất đoạn NST, giúp 
thai phụ và gia đình có hướng xử trí kịp thời [10].
5. Kết luận
Qua nghiên cứu 30 mẫu ối được thực hiện 
kỹ thuật BoBs và kỹ thuật di truyền tế bào (lập 
karyotype) tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương 
đã phát hiện 6 mẫu bất thường NST. Trong đó 
bằng kỹ thuật di truyền tế bào chỉ phát hiện được 
3/6 trường hợp bất thường NST (2 Trisomy 21; 
1 trisomy 18) còn bằng kỹ thuật BoBs phát hiện 
được 6/6 (thêm 3 trường hợp vi mất đoạn NST 
so với di truyền tê bào). Kỹ thuật BoBs phát hiện 
được 2 trường hợp HC DiGeorge, 1 trường hợp hội 
chứng Cri-du-chat mà phương pháp di truyền tế 
bào không phát hiện được.
Tài liệu tham khảo
1. Choy RK, Chen Y, Sun XF, Kwok YK, Leung TY. BACs-on-beads: a 
new robust and rapid detection method for prenatal diagnosis. Expert Rev 
Mol Diagn. 2014; 14(3):273-80.
2. Vialard F, Simoni G, Aboura A, De Toffol S, Molina Gomes D, Marcato 
L. Prenatal BACs-on-Beads™. A new technology for rapid detection of 
aneuploidies and microdeletions in prenatal diagnosis. Prenat Diagn. 
2011; 31(5), 500-8.
3. Choy KW et. al. Diagnostic accuracy of the BACs-on-Beads™ assay 
versus karyotyping for prenatal detection of chromosomal abnormalities: 
a retrospective consecutive case series. BJOG. 2014; 121 (10): 1245–52.
4. Cirigliano V, Ejarque M, Canãdas MP, et al. Clinical application of 
multiplex quantitative fluorescent polymerase chain reaction (QF-PCR) for 
the rapid prenatal detection of common chromosome aneuploidies. Mol 
Hum Reprod. 2001; 7:1001-6
5. Bassett AS, Chow EW, AbdelMalik P, Gheorghiu M, Husted J, 
Weksberg R. The schizophrenia phenotype in 22q11 deletion syndrome. 
Am J Psychiatry. 2003; 160 (9), 1580–6.
6. Debbané M, Glaser B, David MK, Feinstein C, Eliez S. Psychotic 
symptoms in children and adolescents with 22q11.2 deletion syndrome: 
Neuropsychological and behavioral implications. Schizophr. Res. 2006; 
84 (2–3), 187–93.
7. Hoàng Thị Ngọc Lan, Nguyễn Việt Hùng, Trần Danh Cường, Trịnh 
Văn Bảo, Trần Thị Thanh Hương. Phân tích nhiễm sắc thể của tế bào 
ối nuôi cấy có đối chiếu với kết quả của siêu âm thai và test sàng lọc 
trước sinh. Tạp chí Nghiên cứu Y học. Đại học Y Hà Nội. 2006; Phụ 
trương 40 (1). Tr 47-53.
8. Swillen, A; Vogels, A; Devriendt, K; Fryns, JP. Chromosome 22q11 
deletion syndrome: update and review of the clinical features, cognitive-
behavioral spectrum, and psychiatric complications. American Journal of 
Medical Genetics. 1999; 97 (2), 128–35.
9. Oskarsdóttir S, Vujic M, Fasth A. Incidence and prevalence of the 
22q11 deletion syndrome: a population-based study in Western Sweden. 
Arch. Dis. Child. 2004; 89(2), 148–51.
10. Vialard F, Simoni G, Gomes DM, et al. Prenatal BACs-on-BeadsTM: 
the prospective experience of five prenatal diagnosis laboratories. Prenat 
Diagn. 2012; 32, 329-35.

File đính kèm:

  • pdfung_dung_ky_thuat_bobs_de_phat_hien_mot_so_hoi_chung_lech_bo.pdf