Ứng dụng của chụp cộng hưởng từ (MRI) tuyến vú trong bệnh lý ung thư vú

Phương pháp nhũ ảnh đã được sử dụng từ nhiều thập kỷ qua để tầm soát và phát hiện

sớm ung thư vú, với độ nhạy đến 69- 90% và độ đặc hiệu từ 10- 40%. Nếu sử dụng đơn

thuần nhũ ảnh thì có thể bỏ sót khoảng 10- 30% tất cả các trường hợp ung thư vú. Phương

pháp cộng hưởng từ có sử dụng chất cản từ trong chẩn đoán hình ảnh tuyến vú đạt được

một độ nhạy cao với ung thư vú xâm lấn, khả năng tạo hình 3 chiều và hình ảnh thu được

không bị ảnh hưởng bởi nhu mô vú dày hay mỏng, giúp phát hiện được những thương tổn

ung thư mà trước đây chụp nhũ ảnh đã bị bỏ sót. Hơn 20.000 bệnh nhân đã được nghiên

cứu tại châu Âu và Mỹ đã cho thấy rằng MRI là phương pháp nhạy nhất trong phát hiện

ung thư vú xâm lấn, và nó có thể phát hiện được đến 37% các tổn thương trên những bệnh

nhân đã chụp nhũ ảnh âm tính. Chụp cộng hưởng từ vú giúp (1) Đánh giá kích thước và

độ xâm lấn của khối u; (2) Đánh giá giai đoạn của bệnh; (3) Tìm kiếm bệnh lý đa ổ, đa

vùng, các khối u vệ tinh; (4) và có thể có giá trị tầm soát ung thư vú cho những bệnh nhân có

nguy cơ cao. Tại Việt Nam, mặc dù lĩnh vực này còn khá mới mẻ nhưng những kết quả bước

đầu tai Bệnh viện chúng tôi cũng đã cho thấy đây là một phương pháp có nhiều triển vọng

pdf 15 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Ứng dụng của chụp cộng hưởng từ (MRI) tuyến vú trong bệnh lý ung thư vú", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Ứng dụng của chụp cộng hưởng từ (MRI) tuyến vú trong bệnh lý ung thư vú

Ứng dụng của chụp cộng hưởng từ (MRI) tuyến vú trong bệnh lý ung thư vú
Phan Gia Anh Bảo l 59
ỨNG DỤNG CỦA CHỤP CỘNG HƯỞNG TỪ (MRI) 
TUYẾN VÚ TRONG BỆNH LÝ UNG THƯ VÚ
 Phan Gia Anh Bảo
TẠP CHÍ PHỤ SẢN - 10(3), 59-73, 2012
Tóm tắt
Phương pháp nhũ ảnh đã được sử dụng từ nhiều thập kỷ qua để tầm soát và phát hiện 
sớm ung thư vú, với độ nhạy đến 69- 90% và độ đặc hiệu từ 10- 40%. Nếu sử dụng đơn 
thuần nhũ ảnh thì có thể bỏ sót khoảng 10- 30% tất cả các trường hợp ung thư vú. Phương 
pháp cộng hưởng từ có sử dụng chất cản từ trong chẩn đoán hình ảnh tuyến vú đạt được 
một độ nhạy cao với ung thư vú xâm lấn, khả năng tạo hình 3 chiều và hình ảnh thu được 
không bị ảnh hưởng bởi nhu mô vú dày hay mỏng, giúp phát hiện được những thương tổn 
ung thư mà trước đây chụp nhũ ảnh đã bị bỏ sót. Hơn 20.000 bệnh nhân đã được nghiên 
cứu tại châu Âu và Mỹ đã cho thấy rằng MRI là phương pháp nhạy nhất trong phát hiện 
ung thư vú xâm lấn, và nó có thể phát hiện được đến 37% các tổn thương trên những bệnh 
nhân đã chụp nhũ ảnh âm tính. Chụp cộng hưởng từ vú giúp (1) Đánh giá kích thước và 
độ xâm lấn của khối u; (2) Đánh giá giai đoạn của bệnh; (3) Tìm kiếm bệnh lý đa ổ, đa 
vùng, các khối u vệ tinh; (4) và có thể có giá trị tầm soát ung thư vú cho những bệnh nhân có 
nguy cơ cao. Tại Việt Nam, mặc dù lĩnh vực này còn khá mới mẻ nhưng những kết quả bước 
đầu tai Bệnh viện chúng tôi cũng đã cho thấy đây là một phương pháp có nhiều triển vọng.
Summary
Application of Magnetic Resonance Imaging (MRI) from the breast in Breast Cancer
Mammography has been used in decades for screening and early detection of breast cancer, 
with sensitivity up to 69-90% and specificity from 10-40%. Using mammography alone may 
miss about 10-30% of all cases with breast cancer. Using MRI with magnetic contrast from 
the breast can achieve a high sensitivity for invasive breast cancer, the ability to create 3-D 
image and images obtained are not affected by thick or thin breast parenchyma, to help 
detect cancer lesions that mammography had previously overlooked. More than 20,000 
patients have been studied in Europe and America have shown that MRI is the most sensitive 
method in detecting invasive breast cancer, and it can detect up to 37% of lesions in patients 
who have negative mammogram. Breast MRI help (1) Evaluate the size and degree of tumor 
invasion, (2) Evaluation the phase of the disease, (3) Search multifocal disease, multi-regional 
satellite tumors; (4) and may have value for breast cancer screening for patients at high 
risk. In Vietnam, although this area is quite new, but the initial results of our Hospital has 
revealed that this is a promising method.
Bệnh viện Phụ nữ Thành phố Đà Nẵng (TS. BS)
60 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
Giới thiệu:
Phương pháp nhũ ảnh (Mammography) 
đã được sử dụng từ nhiều thập kỷ qua để tầm 
soát và phát hiện sớm ung thư vú. Trong các 
điều kiện tối ưu về kỹ thuật và sự cộng tác của 
bệnh nhân, nhũ ảnh đã đạt được độ nhạy đến 
69- 90% và độ đặc hiệu từ 10- 40%. Hầu hết các 
tác giả đều cho rằng chỉ sử dụng nhũ ảnh thì 
chúng ta sẽ bỏ sót khoảng 10- 30% tất cả các 
trường hợp ung thư vú. Các nguyên nhân có 
thể là nhu mô vú dày, hay gặp ở phụ nữ trẻ; vú 
có sẹo phẫu thuật cũ hoặc vú có đặt túi độn; 
kỹ thuật chụp và tư thế bệnh nhân không 
đúng, bác sỹ chẩn đoán hình ảnh đã bỏ sót, 
và ung thư vú thể tiến triển chậm. Cho dù 
người ta đã áp dụng một số chiến lược như 
quy định hai người đọc phim độc lập, và/ 
hoặc sử dụng công cụ máy tính hỗ trợ phát 
hiện (computer- aided detection- CAD), 
tác động của chúng trên thành công chung 
cũng rất thay đổi [1,2] Siêu âm tuyến vú 
được sử dụng như là một phương pháp bổ 
sung cho nhũ ảnh trong chẩn đoán bệnh vú, 
có giá trị đặc hiệu nhất là để phân biệt một 
tổn thương dạng nang hay một tổn thương 
dạng đặc, và đồng thời cũng rất có giá trị 
trong hướng dẫn sinh thiết các tổn thương 
nghi ngờ. Tuy nhiên, siêu âm cũng có những 
hạn chế lớn như không thể phát hiện được 
các tổn thương vi vôi hóa- là một hình ảnh 
quan trọng để chẩn đoán ung thư vú trong 
biểu mô thể ống (DCIS), hay không thể ghi 
nhận được hình ảnh của toàn bộ tuyến vú 
trên một nhát cắt [3].
Phương pháp cộng hưởng từ có sử dụng 
chất cản từ trong chẩn đoán hình ảnh tuyến 
vú đã được khởi đầu từ thập niên 80 của 
thế kỷ trước và cho thấy rằng nó đạt được 
một độ nhạy cao với ung thư vú xâm lấn. 
Phương pháp này còn có ưu điểm nữa là 
khả năng tạo hình 3 chiều và hình ảnh thu 
được không bị ảnh hưởng bởi nhu mô vú 
dày hay mỏng. Người ta cũng lưu ý thấy 
rằng phương pháp cộng hưởng từ này có 
thể phát hiện được những thương tổn ung 
thư mà trước đây chụp nhũ ảnh đã bị bỏ sót. 
Từ những kết quả ban đầu này, rất nhiều 
nghiên cứu thử nghiệm đã được tiến hành 
trong những năm 1990, và rồi từ đó, người 
ta đã mở rộng phạm vi ứng dụng của cộng 
hưởng từ trong chấn đoán hình ảnh tuyến 
vú, bao gồm cả những hứa hẹn rất khả quan 
về việc ứng dụng trong tầm soát ung thư vú 
cho phụ nữ có nguy cơ cao [4]. Hơn 20.000 
bệnh nhân đã được nghiên cứu tại châu Âu 
và Mỹ, và qua đó người ta tin tưởng rằng MRI 
là phương pháp nhậy nhất trong phát hiện 
ung thư vú xâm lấn, và nó có thể phát hiện 
được đến 37% các tổn thương trên những 
bệnh nhân đã chụp nhũ ảnh âm tính [5,6].
Cơ chế hoạt động:
Hình ảnh chụp T1 và T2 tuyến vú đơn 
thuần không đủ hữu ích để tầm soát hay 
chẩn đoán ung thu vú. Mặc dù các tổn 
thương vú đếu có thể nhìn thấy trên MRI 
nhưng những khác biệt trên T1 hay T2 về 
phương diện phân biệt lành tính hay ác tính 
lại không có ý nghĩa. Trong khi đó, chụp 
cộng hưởng từ có dùng chất đối quang từ 
đã cho thấy có thể giúp chẩn đoán phân biệt 
các tổn thương lành tính hay ác tính dựa 
trên cơ sở hiện tượng tăng sinh mạch máu 
do khối u [3]. Loại thuốc đối quang từ được 
sử dụng là Gadolinium chelates.
Một cách tổng quát, các khối u có kích 
thước lớn hơn 2-3 cm thường phải tiết ra các 
yếu tố tiền tăng sinh mạch (proangiogeneic 
factors). Các khối u nghi ngờ ác tính cao 
thường đi kèm với tình trạng tăng sinh mạch 
máu nhiều hơn. Hầu hết ung thư vú đều có 
hiện tượng tăng bắt thuốc (tăng tín hiệu đến 
70% hoặc nhiều hơn) trong vòng 5 phút sau 
khi tiêm tĩnh mạch gadolinium. Người ta cho 
rằng sự tăng bắt thuốc tỷ lệ thuận với tình 
trạng tăng sinh mạch và qua đó phản ánh 
được tính chất ác tính của khối u [1,5].
Tuy nhiên, các khối u lành tính cũng có 
thể tăng bắt thuốc. Khi đánh giá tính chất 
bắt thuốc như là một hàm số biến thiên theo 
Phan Gia Anh Bảo l 61
thời gian, trong nhiều trường hợp người 
ta có thể phân biệt được đâu là tổn thương 
lành tính hay ác tính. Mạng lưới vi mạch của 
các tổn thương ác tính thường có xu hướng 
dày đặc và rối rắm hơn, kèm theo đó là tăng 
tính thấm mao mạch và các đường nối tắt 
giữa tĩnh mạch và động mạch- bỏ qua hệ 
mao mạch (tức là các shunt động tĩnh mạch). 
Điều này dẫn đến hiện tượng khối u không 
chỉ bắt thuốc nhanh hơn mà còn thải thuốc 
(washout) nhanh hơn [7].
Có 3 loại hình ảnh đường biểu diễn bắt 
thuốc- tức đường biến thiên đậm độ của 
thuốc tại khối u theo thời gian, biểu hiện 
của 3 kiểu bắt thuốc khác nhau. Đường cong 
bắt thuốc kiểu I được đặc trưng bởi đường 
biểu diễn tăng đậm độ thuốc dần dần theo 
thời gian. Hình ảnh này gợi ý cho một tổn 
thương lành tính. Kiểu II được đặc trưng bởi 
một đường biểu diễn tăng đậm độ bắt thuốc, 
sau đó là một đường biểu diễn nằm ngang. 
Kiểu này gợi ý một tổn thương có thể lành 
hoặc ác tính. Kiểu III là những đường biểu 
diễn có hiện tượng thải thuốc điển hình; có 
một pha bắt thuốc tăng nhanh, theo sau đó 
là giảm đậm độ bắt thuốc, thường đây là 
biểu hiện của khối u ác tính [8] (Hình 1)
Hình 1: Các kiểu đường cong biến thiên đậm độ 
của thuốc theo thời gian
(website:http//imaging.consult.com/image/
topic/procedure/Breast?title=Breast%20
Tumors,%20Magnetic%20Resonance%20
Imaging%20of&image=fig11&locator=gr11&pi
i=S1933-0332(07)71248-X)
Chất lượng của kết quả chụp:
Dưới góc độ thầy thuốc chuyên khoa Sản 
phụ khoa và Bệnh vú, chúng ta lưu ý đến 
một số yếu tố ảnh hưởng đến tính chính 
xác và chất lượng của hình ảnh chụp cộng 
hưởng từ tuyến vú như sau:
Thời điểm chụp MRI vú:
Thời gian lý tưởng cho chụp MRI vú là 
từ ngày thứ 5 đến ngày thứ 15 của chu kỳ 
kinh nguyệt, bởi vì trong pha hoàng thể, 
dưới tác động đồng thời của nồng độ cao 
estrogen và progesteron, mô đệm tuyến vú 
sẽ có hiện tượng phù nề cùng với sự trương 
nở của các tiểu thùy vú. Điều này dẫn đến 
sự gia tăng bắt thuốc của nhu mô vú trong 
pha hoàng thể và đạt đến mức tối đa vào 
khoảng 7 ngày trước khi hành kinh chu kỳ 
tiếp theo [3]. Do đó, không nên chụp MRI 
vú vào thời điểm này mà tốt nhất là chụp 
vào pha I của chu kỳ.
Các yếu tố cơ bản về kỹ thuật:
Một yêu cầu quan trọng của MRI vú là 
phải đo được những tổn thương >= 5mm 
đường kính, do đó, độ dày lát cắt phải nhỏ 
hơn khoảng cách này, nếu không thì chỉ 
thấy được một phần tổn thương mà thôi. 
Muốn quan sát được đầy đủ những tổn 
thương nhỏ như thế, độ dày lát cắt phải 
chỉ từ 2 đến 4 mm và không có khoảng hở 
nào ở giữa các lát cắt. Độ dày lát cắt cũng 
ảnh hưởng đến độ phân giải của hình ảnh, 
nếu độ dày lát cắt đạt từ <2 đến 3mm thì 
độ phân giải sẽ tăng lên nhiều và tần suất 
phát hiện bệnh cũng tăng theo, đặc biệt là 
đối với những ung thư vú sớm, phát triển 
dọc theo các ống sữa với đường kính chỉ từ 
1- 2mm [3,5].
Cần thiết phải chụp được những hình 
ảnh chỉ trong vòng 1- 4 phút sau tiêm thuốc 
đối quang từ để đánh giá tính chất bắt thuốc 
của các thương tổn và từ đó phân biệt các 
tổn thương bắt thuốc nhanh- gợi ý ác tính 
cao, so với các tổn thương bắt thuốc chậm- 
gợi ý khả năng lành tính, hoặc vùng nhu 
mô vú bình thường. Sở dĩ như vậy là vì nhu 
62 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
mô vú bình thường bắt thuốc trong khoảng 
hơn 10 phút, do đó, nếu bắt hình ảnh tại thời 
điểm 10 phút, chúng ta sẽ khó phân biệt đâu 
là nhu mô vú bình thường và đâu là tổn 
thương ác tính [7]. 
Xóa mỡ là một khía cạnh quan trọng 
khác trong chụp MRI vú, ngay cả khi chụp 
cho phụ nữ trẻ, có thành phần mô mỡ trong 
cấu trúc tuyến vú thấp (phụ nữ tuổi càng 
lớn thì mô đệm sẽ thay thế bằng mô mỡ) 
[9]. Mô mỡ dày có thể che khuất những tổn 
thương bắt thuốc đối quang từ. Có nhiều kỹ 
thuật chụp xóa mỡ khác nhau được sử dụng 
trong các máy hiện đại.
Hình 2: Máy chụp MRI và cuộn thu chuyên biệt cho chụp vú tại 
Bệnh viện Phụ nữ TP Đà Nẵng
Hướng dẫn cách đọc kết quả:
Ngày nay, khi đọc và phân tích một hình 
ảnh chụp MRI vú, chúng ta phải chú ý đến 
các yếu tố sau đây:
- Mô tả hình dạng của tổn thương: Tương 
tự như đọc kết quả chụp nhũ ảnh, việc mô 
tả hình dạng tổn thương MRI vú bao gồm 
việc mô tả hình thái của tổn thương và bờ 
của tổn thương. Tổn thương có thể được mô 
tả dưới dạng hình tròn, hình bầu dục, hình 
nhiều thùy, hình không đều (irregular) hay 
hình sao. Bờ tổn thương được mô tả dưới 
dạng nhẵn, gồ ghề, không đều hoặc bờ gai 
nhọn (spiculated) [8].
- Mô tả hình thái tổn thương sau khi bắt thuốc 
cản từ: Hình thái bắt thuốc cản từ của một tổn 
thương có thể là đều hay đồng nhất; không 
đồng nhất; bắt thuốc dạng viền (tức hình 
ảnh tổn thương chỉ bắt thuốc ở vùng chu 
vi); hoặc tổn thương có các vách bên trong 
không bắt thuốc (Hình 3). Ngoài ra còn có 
một hình thái bắt thuốc khác của thương tổn 
là một vùng gồm nhiều điểm bắt thuốc nhỏ 
(foci of enhancement) mà không có một khối 
hay một tổn thương chiếm chỗ nào rõ ràng. 
Hình thái này còn gọi là hình thái bắt thuốc 
không tạo khối, có thể là biểu hiện của một 
vùng tổn thương ác tính, ví dụ trong DCIS 
[8]. Hình thái bắt thuốc dạng đường thẳng có 
thể gợi ý một DCIS. Những tổn thương khối 
không bắt thuốc hoặc những tổn thương có 
vách bên trong không bắt thuốc thường gợi ý 
những thương tổn lành tính.
- Mô tả kiểu đường cong bắt và thải thuốc 
theo thời gian: Như đã nói trên, đây là một 
tính chất quan trọng cần đánh giá trong 
chẩn đoán MRI vú. Những tổn thương ác 
tính thường có xu hướng bắt thuốc nhanh và 
thải thuốc nhanh, (Hình 3), trong khi đó, tổn 
Phan Gia Anh Bảo l 63
thương lành tính thường bắt thuốc chậm và 
tăng dần. Việc phân tích cường độ bắt thuốc 
và thải thuốc theo thời gian này còn được gọi 
là phân tích động học.
Hình 3: Hình ảnh điển hình của một khối ung 
thư vú sau khi bắt thuốc và xóa mỡ. Phân tích 
động học cho thấy kiểu bắt thuốc điển hình của 
khối u ác tính: pha bắt thuốc nhanh và sau đó 
cũng thải thuốc nhanh. 
(Bệnh nhân Đỗ Thị K., Quảng Nam- Chẩn 
đoán Ung thư vú Trái T3 N3 M1).
Năm 2003, dựa trên nền tảng các nghiên 
cứu cập nhật trong lĩnh vực này, Hiệp hội 
chẩn đoán hình ảnh Hoa Kỳ American 
College of Radiology (ACR) ban hành 
Hướng dẫn phân tích chẩn đoán hình ảnh 
tuyến vú theo hệ thống BI-RADS (Breast 
Imaging and Reporting Data System) phiên 
bản thứ IV, trong đó lần đầu tiên đưa ra hệ 
thống danh pháp và cách thức phân tích 
chẩn đoán hình ảnh MRI tuyến vú. Ngày 
nay, Bảng phân loại ACR BI-RADS phiên 
bản IV này đã được ứng dụng rất có hiệu 
quả, thống nhất và trên phạm vi rộng rãi ở 
các nước phát triển [12]
Ứng dụng hiện nay của MRI trong chẩn 
đoán hình ảnh vú:
Kể từ khi MRI được đưa vào sử dụng 
chụp hình tuyến vú đến nay, người ta đã 
nhận thấy MRI có rất nhiều ứng dụng rất 
tốt trong chẩn đoán và hướng dẫn điều trị 
ung thư vú.
Đánh giá giai đoạn của ung thư vú:
Tài liệu chuẩn hướng dẫn của ASCO hay 
của UICC về phân giai đoạn ung thư vú 
phiên bản 2003 đã công nhận vai trò đánh 
giá tình trạng khối u trước mổ của MRI. Với 
phương tiện MRI có sử dụng thuốc cản từ, 
kích thước khối u và mức độ lan rộng của 
khối u được đo có tính chính xác cao hơn 
[11]. Ngoài ra chúng ta còn có thể chẩn đoán 
được mức độ xâm lấn vào cơ ngực lớn và các 
lớp khác của thành ngực. MRI còn cho phép 
đánh giá tốt tình trạng núm vú bị thâm 
nhiễm hay không, giúp quyết định chọn lựa 
phẫu thuật bảo tồn vú hay cắt tuyến vú dưới 
da (subcutaneous mastectomy).
MRI vú còn cho phép chẩn đoán được 
những đặc điểm khác của bệnh như: có hay 
không có khối u thứ hai trên cùng một vú 
hay ung thư ở cả hai vú, ung thư vú đa ổ 
(multifocal) hay đa vùng (multicentric). 
Điều này có một ảnh hưởng rất quan trọng 
đến chiến lược điều trị cho bệnh nhân, 
hay gặp nhất là tình huống bệnh nhân 
phải được phẫu thuật cắt vú rộng rãi thay 
vì phẫu thuật lấy u bảo tồn vú. Ứng dụng 
này đặc biệt quan trọng trong trường hợp 
ung thư vú thuộc thể thùy (lobular), thể 
bệnh thường gặp khối u có nhiều ổ hoặc 
nhiều vùng. Nếu bệnh hiện diện ở nhiều ổ 
64 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
hay nhiều vùng, hay thậm chí ở cả hai vú, 
kế hoạch điều trị phải được thiết lập theo 
hướng khác. Chính vì vậy mà hiện nay ở 
các nước phát triển, hầu như tất cả các bệnh 
nhân ung thư vú đều được chụp MRI trước 
khi tiến hành điều trị để đánh giá giai đoạn 
của bệnh được tốt hơn.
Độ nhạy của MRI trong việc phát hiện 
bệnh lý đa ổ, đa vùng đạt được từ 89%- 
100% khi ... m kiếm 
khối u vú nguyên phát trong trường hợp có 
hạch nách di căn không rõ nguồn gốc.
- Nhóm 5: Khảo sát bệnh lý tồn lưu hay 
tái phát sau mổ hoặc sau điều trị hoá chất 
tân bổ trợ.
Bảng 3: Kết quả chụp MRI tại Bệnh viện Phụ nữ TP Đà Nẵng
STT Chỉ định
Số bệnh 
nhân
Số BN 
Ung thư
Ghi chú
1 Nhóm 1 29 27
MRI đã giúp thay đổi hướng điều trị cho 
2 BN 
MRI phát hiện bệnh lý đa ổ, đa vùng trên 
4 BN
2 Nhóm 2 31 4
BN đã mổ bóc u “lành” ở BV khác, đến 
khám vì nghi còn sót u, cho chụp MRI nghi 
ngờ K, đã điều trị K vú 
3 Nhóm 3 25 1
BN hoàn toàn không có nguy cơ cao đã 
được phát hiện K vú
4 Nhóm 4 1 1
BN có hạch nách di căn lớn, MRI không 
phát hiện khối u nguyên phát
5 Nhóm 5 14 14 (cũ)
Tất cả đều đã được điều trị tại các cơ sở 
khác. MRI chưa phát hiện tái phát 
Tổng số: 100 47
Phân tích sơ bộ kết quả của 100 trường hợp chụp MRI vú tại Bệnh viện Phụ nữ TP 
Đà Nẵng, chúng tôi nhận thấy:
Phan Gia Anh Bảo l 69
- Trong 27 bệnh nhân ung thư thuộc chỉ 
định nhóm 1, có đến 2 bệnh nhân trong đó 
chụp MRI đã làm thay đổi chế độ điều trị 
(phẫu thuật), tỷ lệ này cũng tương đương 
với kết quả của tác giả Martinez-Cecilia 
năm 2008. Bệnh nhân thứ nhất có bệnh cảnh 
Paget trên lâm sàng, siêu âm và nhũ ảnh 
không phát hiện khối u vú nào khác, nhưng 
chụp MRI đã phát hiện một khối u ác tính 
kích thước 4mm. Bệnh nhân đã được cắt vú 
và nạo hạch nách (lấy được 14 hạch di căn!) 
thay vì chỉ cắt vú đơn thuần (Hình 4). Bệnh 
nhân thứ hai là một trường hợp ung thư vú 
Trái đã được điều trị phẫu thuật kèm tia 
xạ (không hóa trị), đến khám với một hạch 
nách trái lớn nghi tái phát. Siêu âm và nhũ 
ảnh không phát hiện gì. Chụp MRI kết hợp 
sinh thiết định vị đã phát hiện thêm hai khối 
ung thư nhỏ ở vú phải. Trường hợp này đã 
được phẫu thuật cắt vú phải và nạo hạch hai 
bên. Giải phẫu bệnh lý kết quả ung thư vú 
thể thùy (ILC).
Hình 4: Bệnh nhân có bệnh Paget vú Phải, chụp MRI cho thấy ngoài tổn thương bắt thuốc ở vùng 
quần vú và núm vú điển hình, vú Phải còn có một tổn thương bắt thuốc khác nằm dưới quầng vú 
mà không thấy được qua siêu âm và nhũ ảnh. (BN Nguyễn Thị S., TP Đà Nẵng- 
Chẩn đoán: Bệnh Paget Núm vú Phải, Ung thư vú Phải T1pN3M0)
- Trong nhóm chỉ định (nhóm 1) này nếu 
tính luôn cả 4 trường hợp MRI phát hiện 
thêm các khối u khác trên cùng một vú 
(bệnh lý đa ổ, đa vùng) thì con số này sẽ là 
6/ 27, tức 22,2%. Tỷ lệ phát hiện được khối 
u thứ hai trong nhóm này cũng là 4/27, tức 
14,8%, tỷ lệ này gần tương đương với kết 
luận chung của Hội Ung thư Hoa Kỳ nói 
trên (16%). Kết quả này cho thấy nếu chúng 
ta có điều kiện chụp MRI tiền phẫu một 
cách rộng rãi, chúng ta chắc chắn có thể có 
chỉ định phẫu thuật điều trị tốt hơn, mang 
lại kết quả điều trị tốt hơn cho bệnh nhân.
- Trong 31 bệnh nhân thuộc chỉ định 
nhóm 2 có 3 bệnh nhân đã được phẫu 
thuật bóc/ cắt u vú với chẩn đoán u vú 
lành (có giải phẫu bệnh lý) tại các Bệnh 
viện khác, sau mổ một thời gian bệnh 
nhân tái khám kiểm tra thì lâm sàng phát 
hiện khối u “còn sót” tại vùng mổ. Do tổn 
thương nằm ngay tại sẹo cũ nên khó phân 
biệt với tổn thương ác tính trên siêu âm 
và nhũ ảnh. Chỉ định chụp MRI có hình 
ảnh rất gợi ý ung thư, làm sinh thiết kết 
luận ung thư và bệnh nhân đã được điều 
trị ung thư. Một bệnh nhân ung thư khác 
trong nhóm này có một khối u hỗn hợp, 
chủ yếu dạng nang, tồn tại đã 12 năm nay, 
được chẩn đoán lành tính bằng chọc hút tế 
bào, tuy nhiên mỗi năm phải đi chọc hút 
tháo dịch 1- 2 lần. Chụp MRI và sinh thiết 
định vị cho thấy bản chất khối u là một 
70 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
ung thư vú thể đỉnh tiết (Hình 5). Như vậy 
đối với nhóm chỉ định này, chụp MRI rất 
quan trọng vì nó đã giúp chúng tôi chẩn 
đoán ác tính trên những khối u đã được 
chẩn đoán lành tính bằng tế bào học và 
giải phẫu bệnh lý! Điều này hết sức có ý 
nghĩa, bởi vì nếu không có MRI, những 
khối u còn lại này sẽ bị “lãng quên” thêm 
một thời gian dài nữa, ảnh hưởng xấu đến 
tính mạng bệnh nhân.
Hình 5: Bệnh nhân ung thư vú thể đỉnh tiết. Chụp MRI cho thấy tổn thương gồm 1 nang lớn 
và nhiều nang nhỏ tiết dịch, bên cạnh đó có những tổn thương dạng đặc bắt thuốc mạnh với 
kiểu bắt thuốc type III điển hình. (BN Trần Thị L., TP Đà Nẵng- Chẩn đoán: Ung thư vú Phải 
thể đỉnh tiết T2pN1M0)
- Trong tình hình thực tiễn ở Việt Nam, 
việc chẩn đoán di truyền học tìm kiếm các 
đột biến gen BRCA và việc đánh giá nguy cơ 
ung thư vú cho từng cá thể áp dụng theo các 
mô hình chuẩn như mô hình Gail, mô hình 
BRCAPRO.còn chưa được áp dụng, do đó, 
đa số bệnh nhân đến khám tầm soát ung thư 
vú bằng MRI tại bệnh viện chúng tôi chủ yếu 
là tự nguyện, và bệnh nhân tự chi trả. Trong 
nghiên cứu của chúng tôi, cả 25 bệnh nhân 
đến chụp MRI tầm soát đều không có triệu 
chứng lâm sàng và cũng không hề có yếu tố 
nguy cơ nào cụ thể. Tuy nhiên, chúng tôi đã 
phát hiện 1 trường hợp ung thư vú DCIS. 
(Hình 6). Bệnh nhân đã được phẫu thuật cắt 
vú và phẫu tích hạch gác. Mặc dù chỉ mới 
thực hiện tầm soát cho 25 bệnh nhân, một 
con số còn rất khiêm tốn nhưng đã phát hiện 
được 1 trường hợp K vú (tỷ lệ phát hiện 4%- 
cao hơn các tỷ lệ phát hiện ung thư vú bằng 
phương pháp nhũ ảnh đã được báo cáo). 
Điều này cho thấy đây là một phương pháp 
rất hứa hẹn để tầm soát trong tương lai.
Hình 6: Chụp MRI vú tầm soát phát hiện được 1 
tổn thương nghi bắt thuốc mạnh ở phía trên núm 
vú, kích thước chỉ 4mm. Sinh thiết định vị 
chẩn đoán được ung thư vú DCIS (Bệnh nhân 
Lê Thị P., TP Đà Nẵng - Chẩn đoán: Ung thư vú 
Phải thể ống nội biểu mô- DCIS)
Phan Gia Anh Bảo l 71
- Hiện tại chúng tôi Bệnh viện chúng tôi 
áp dụng khuyến cáo chụp MRI tầm soát với 
những đối tượng như sau: (1) Những bệnh 
nhân có nguy cơ cao như: người đã từng bị 
ung thư vú hoặc ung thư buồng trứng, có 
người họ hàng cấp I hoặc II bị ung thư vú 
hoặc ung thư buồng trứng; (2) Những người 
đã chụp Mammography và/ hoặc siêu âm 
để tầm soát ung thư nhưng kết quả không 
rõ ràng, làm cho người bệnh lẫn thầy thuốc 
thường không yên tâm; và (3) Những người 
tầm soát bằng nhũ ảnh nhưng có hình ảnh 
nhu mô vú dày, thuộc nhóm III hoặc IV, 
thậm chí cả nhóm II theo phân loại của ACR. 
- Có một bệnh nhân 54 tuổi, không 
có khối u vú ở cả hai bên, siêu âm vú và 
mammography không phát hiện khối u, 
đến khám vì có một hạch nách Phải lớn 3 x 
4cm nghi ngờ hạch di căn của ung thư vú 
không rõ khối u nguyên phát. Chụp MRI 
vú cũng không phát hiện gì bất thường. 
Sau khi chọc hạch xét nghiệm tế bào và 
phẫu thuật lấy toàn bộ hạch nách chúng 
tôi lấy được 10 hạch trong đó có 8 hạch có 
tế bào ung thư di căn, nghi từ ung thư vú. 
Xét nghiệm hóa mô miễn dịch xác định tế 
bào ung thư có biểu hiện thụ thể ER và PR 
dương tính, HER/2-neu dương tính. Bệnh 
nhân đã được điều trị hóa chất 6 đợt với 
phác đồ FEC. Hiện tại bệnh nhân đang ở 
trong tình trạng ổn định. Khám kiểm tra 
sau điều trị chưa phát hiện gì bất thường 
khác. Đây là một trường hợp hiếm gặp 
nhưng đã được báo cáo trong y văn thế 
giới với tên gọi “Bệnh lý ung thư vú ẩn”, 
và việc tìm kiếm khối u nguyên phát ở vú 
là hết sức khó khăn. Nếu không có MRI, các 
bác sỹ rất khó khăn trong việc quyết định 
có nên cắt vú (cùng bên) hay không. Ngày 
nay, đa số các tác giả đồng thuận rằng (1) 
nhờ có MRI mà khả năng tìm kiếm khối u 
nguyên phát tốt hơn và (2) Nếu MRI vẫn 
không tìm thấy khối u nguyên phát thì coi 
như không có, và khi đó bệnh nhân sẽ được 
điều trị như một ung thư vú di căn, không 
cần thiết phải phẫu thuật cắt vú.
- Với những kinh nghiệm bước đầu trong 
lĩnh vực này, Bệnh viện Phụ nữ TP Đà Nẵng 
đang áp dụng chụp MRI vú rộng rãi cho 5 
nhóm chỉ định nói trên, với những kết quả 
rất hứa hẹn. Chúng tôi tin rằng trong tương 
lai, song hành với những bước tiến bộ mới 
trong chẩn đoán và điều trị ung thư vú, MRI 
vú sẽ dần dần trở thành một phương tiện 
đắc dụng, phục vụ cho công tác điều trị có 
hiệu quả thiết thực.
Hạn chế của MRI trong chẩn đoán hình 
ảnh học vú:
Với những nghiên cứu cho đến thời điểm 
này, người ta nhận thấy rằng ứng dụng của 
MRI trong chẩn đoán hình ảnh tuyến vú có 
những nhược điểm sau đây:
- Trong pha hoàng thể, nhu mô vú thường 
có xu hướng tăng bắt thuốc, điều này làm 
khó cho việc phát hiện các tổn thương nghi 
ngờ, nhất là trong trường hợp các tổn thương 
có hình thái bắt thuốc không tạo khối.
- Việc dùng thuốc hormone thay thế 
trong thời kỳ mãn kinh cũng có thể gây ra 
tình trạng tăng bắt thuốc ở vú, có thể dưới 
dạng khu trú hoặc lan tỏa. Trong những 
trường hợp này, thường chúng ta phải 
khuyên bệnh nhân chụp MRI vú lập lại sau 
2-3 tháng ngưng dùng thuốc [3,5].
- Một hạn chế khác của MRI là trong một 
số trường hợp bệnh lý lành tính như các biến 
đổi xơ nang vú, tăng sản không điển hình, 
các u nhú và một số khối u lành tính khác 
cũng có kiểu bắt thuốc cản từ tương tự như 
khối u ác tính. Do đó, các tác giả ngại rằng 
việc chụp MRI vú sẽ làm tăng các can thiệp 
phẫu thuật (sinh thiết) một cách không cần 
thiết. Các tổn thương viêm, abscess cũng có 
thể có hình ảnh và tính chất bắt thuốc cản từ 
tương tự như khối u ác tính. 
- Trong những năm 2003- 2004, một số 
tác giả đã ghi nhận rằng MRI cũng có khả 
năng bỏ sót một số trường hợp ung thư vú 
như ung thư thể ống trong biểu mô (DCIS) 
hay ung thư thể thùy xâm lấn (ILC) [3, 10]. 
Nhiều nghiên cứu khác nhau trong giai 
72 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
đọan này cũng cho thấy, với việc tích lũy 
kinh nghiệm theo thời gian, hạn chế này sẽ 
được khắc phục.
- Việc sử dụng MRI vú cho những bệnh 
nhân sau phẫu thuật cũng có những hạn 
chế nhất định. Người ta thấy rằng quá trình 
viêm và những diễn biến theo sau đó như 
quá trình tạo mô hạt, sự liền vết thương 
làm cho mô sẹo có thể có những hình ảnh và 
kiểu bắt thuốc tương tự tổn thương ác tính. 
Do đó, một số tác giả khuyên nếu cần phải 
chụp MRI để đánh giá khối ung thư còn sót 
hoặc tái phát tại chỗ, chúng ta cần phải chụp 
ít nhất sau 1-3 tháng kể từ lúc mổ. Tại Bệnh 
viện Phụ nữ, chúng tôi áp dụng khuyến cáo 
của các chuyên gia của CHLB Đức là chỉ 
chụp sau mổ từ 6 tháng trở lên.
Kết luận:
Chụp cộng hưởng từ tuyến vú đã được 
đưa vào ứng dụng trong thực hành y khoa 
trên thế giới trong những năm gần đây đã 
cho thấy đây là một phương tiện hiệu quả 
và có nhiều hứa hẹn trong cuộc chiến chống 
lại ung thư vú. Nhiều nghiên cứu lớn, có giá 
trị ở nhiều quốc gia trên thế giới đã cho thấy 
MRI vú có hiệu quả trong các vấn đề như: 
(1) Đánh giá kích thước và độ xâm lấn của 
khối u; (2) Đánh giá giai đoạn của bệnh; (3) 
Tìm kiếm bệnh lý đa ổ, đa vùng, các khối 
u vệ tinh; (4) và có thể có giá trị tầm soát 
ung thư vú cho những bệnh nhân có nguy 
cơ cao. Mặc dù theo quan điểm của Y học 
chứng cứ, người ta vẫn còn cần thiết phải có 
những nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng 
trên phạm vi rộng nhưng trong thời điểm 
hiện nay, có thể nói rằng MRI vú đang ngày 
càng có vai trò không thể thiếu được trong 
chẩn đoán và hướng dẫn điều trị ung thư vú 
trên thế giới. Tại Việt Nam, mặc dù lĩnh vực 
này còn khá mới mẻ nhưng những kết quả 
bước đầu tai Bệnh viện chúng tôi cũng đã 
cho thấy đây là một phương pháp có nhiều 
triển vọng. Cùng với những bước phát triển 
mới trong cuộc chiến chống ung thư vú, 
chúng tôi hy vọng rằng phương pháp này 
sẽ nhanh chóng được triển khai trên phạm 
vi toàn quốc.
1. Majid AS, de Paredes ES, Doherty RD, et 
al. Missed breast carcinoma: pitfalls and 
pearls. Radiographics,2003;23:881-95.
2. Doi K, MacMahon H, Katsuragawa 
S. et al. Computer- aided diagnosis in 
Radiology: potential and pitfalls. Eur J 
Radiol 1997;31:97-109.
3. Rankin SC. MRI of the breast. Br J 
Radiol 2007;73:806-18. 
4. Plevritis SK, Ikeda DM. Ethical issues in 
contrast-enhanced magnetic resonance 
imaging screening for breast cancer. Top 
Magn Reson Imaging 2002; 13: 79–84.
5. Heywang-Kobrunner SH, Viehweg 
P, Heinig A, Kuchler C. Contrast-
enhanced MRI of the breast: accuracy, 
value, controversies, solutions. Eur J 
Radiol 1997; 24: 94–108.
6. Bluemke DA, Gatsonis CA, Chen MH, 
et al. Magnetic resonance imaging of 
the breast prior to biopsy. JAMA 2004; 
292: 2375–742.
7. Shah SK, Shah SK, Greatrex KV Current 
role of magnetic resonance imaging 
in breast imaging: a primer for the 
primary care physician. J Am Board 
Fam Pract. 2005 Nov-Dec;18(6):478-90.
8. Morris EA. Breast cancer imaging with 
MRI. Radiol Clin North Am 2002; 40: 
443–66.
9. Iglehart DJ, Kaelin CM. Diseases of the 
breast. In: Townsend CM, Beauchamp 
RD, Evers BM, Mattox KL, editors. 
Sabiston Textbook of Surgery 17th ed. 
Philadelphia (PA): Elsevier; 2004. p. 867.
10. Kinkel K, Hylton N. Challenges to 
interpretation of breast MRI. J Magn 
Reson Imaging 2001; 13: 821–9.
11. Kinkel K, Vlastos G. MR imaging: 
breast cancer staging and screening. 
Semin Surg Oncol 2001; 20: 187–96.
12. American College of Radiology. ACR 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phan Gia Anh Bảo l 73
BI-RADS 2003 (Fourth Edition). ISBN: 
3131369728.
13. Martinez-Cecilia D.: Preoperative 
MRI Can Change Surgical Approach 
to Breast Cancer; 6th European Breast 
Cancer Conference (EBCC): Abstracts 
61 and 42. Presented April 16, 2008.
14. Houssami N, Hayes DF. Review of 
Preoperative Magnetic Resonance 
Imaging (MRI) in Breast Cancer: Should 
MRI Be Performed on All Women with 
Newly Diagnosed, Early Stage Breast 
Cancer? CA Cancer J Clin 2009; 59:290-302.
15. Yeh E, Slanetz P, Kopans DB, et 
al. Prospective comparison of 
mammography, sonography, and MRI 
in patients undergoing neoadjuvant 
chemotherapy for palpable breast 
cancer. AJR 2005; 184: 868–77.
16. Denis F, Desbiez-Bourcier AV, Chapiron 
C, et al. Contrast enhanced magnetic 
resonance image underestimates residual 
disease following neoadjuvant docetaxel 
based chemotherapy for breast cancer. 
Eur J Surg Oncol 2004; 30: 1069–76.
17. Kawashima H, Tawara M, Suzuki M, 
et al. Effectiveness of dynamic MRI 
for diagnosing pericicatricial minimal 
residual breast cancer following excisional 
biopsy. Eur J Radiol 2001; 40: 2–9.
18. Frei KA, Kinkel K, Boenl HM, et al. MR 
imaging of the breast in patients with 
positive margins after lumpectomy: 
influence of the time interval between 
lumpectomy and MR imaging. AJR 
2000; 175: 1577–84.
19. Soderstrom CE, Harms SE, Farrell RS, 
et al. Detection with MR imaging of 
residual tumor in the breast soon after 
surgery. AJR 1997; 168: 485–8.
20. Saslow D, Boetes C, Burke W, Harms 
S, Leach MO, Lehman CD, Morris E, 
Pisano E, Schnall M, Sener S, Smith RA, 
Warner E, Yaffe M, Andrews KS, Russell 
CA, on behalf of for the American 
Cancer Society Breast Cancer Advisory 
Group. American Cancer Society 
Guidelines for Breast Screening with 
MRI as an Adjunct to Mammography. 
CA Cancer J Clin 2007; 57:75-89
21. Smith RA, Saslow D, Sawyer KA, et al. 
American Cancer Society guidelines for 
breast cancer screening: update 2003. 
CA Cancer J Clin 2003;53:141–169.

File đính kèm:

  • pdfung_dung_cua_chup_cong_huong_tu_mri_tuyen_vu_trong_benh_ly_u.pdf