Ứng dụng của chụp cắt lớp vi tính và siêu âm tim trong phẫu thuật tạo hình van động mạch chủ bằng màng ngoài tim theo phương pháp Ozaki

Đặt vấn đề: Chúng tôi muốnnói lên tầm

quan trọng của chụp cắt lớp vi tính và siêu âm tim

trong phẫu thuật Ozaki.

Mục tiêu:Làm rõ ứng dụng của chụp cắt lớp

vi tính và siêu âm tim trong phẫu thuật Ozaki.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:

Chúng tôi mô tả quy trình áp dụng MSCT vàsiêu

âm tim trong các khâu chuẩn bị bệnh nhân trước

phẫu thuật, phối hợp đánh giá trong phẫu thuật và

theo dõi sau phẫu thuật.

Kết quả: Từ tháng 7/2017 đến tháng

5/2019, chúng tôi phẫu thuật 30 trường hợp với

phương pháp Ozaki, trong đó có 3 trường hợp

phải chuyển thay van, đều là 3 trường hợp có van

động mạch chủ được chẩn đoán trước phẫu thuật

là Sievers 0, đã được dự đoán trước phẫu thuật về

khả năng sửa khó sau khi được làm siêu âm tim

và chụp MSCT. Tất cả các khâu từ tiền phẫu,

trong phẫu thuật và hậu phẫu đều cần đến sự hỗ

trợ của siêu âm tim và MSCT.

Kết luận: MSCT và siêu âm tim cung cấp

các thông tin về hình thái van động mạch chủ,

mức độ nặng của bệnh, tiên lượng vềđộ khó khi

thực hiện phẫu thuật, đánh giá sau phẫu thuật và

theo dõi sau xuất viện

pdf 7 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Ứng dụng của chụp cắt lớp vi tính và siêu âm tim trong phẫu thuật tạo hình van động mạch chủ bằng màng ngoài tim theo phương pháp Ozaki", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Ứng dụng của chụp cắt lớp vi tính và siêu âm tim trong phẫu thuật tạo hình van động mạch chủ bằng màng ngoài tim theo phương pháp Ozaki

Ứng dụng của chụp cắt lớp vi tính và siêu âm tim trong phẫu thuật tạo hình van động mạch chủ bằng màng ngoài tim theo phương pháp Ozaki
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 29 - THÁNG 6/2020 
 76 
ỨNG DỤNG CỦA CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH VÀ SIÊU ÂM TIM TRONG 
PHẪU THUẬT TẠO HÌNH VAN ĐỘNG MẠCH CHỦ BẰNG MÀNG NGOÀI 
TIM THEO PHƯƠNG PHÁP OZAKI 
Nguyễn Thị Thu Trang*, Võ Tuấn Anh*, Vũ Trí Thanh**, Nguyễn Hoàng Định*** 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Chúng tôi muốnnói lên tầm 
quan trọng của chụp cắt lớp vi tính và siêu âm tim 
trong phẫu thuật Ozaki. 
Mục tiêu:Làm rõ ứng dụng của chụp cắt lớp 
vi tính và siêu âm tim trong phẫu thuật Ozaki. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 
Chúng tôi mô tả quy trình áp dụng MSCT vàsiêu 
âm tim trong các khâu chuẩn bị bệnh nhân trước 
phẫu thuật, phối hợp đánh giá trong phẫu thuật và 
theo dõi sau phẫu thuật. 
Kết quả: Từ tháng 7/2017 đến tháng 
5/2019, chúng tôi phẫu thuật 30 trường hợp với 
phương pháp Ozaki, trong đó có 3 trường hợp 
phải chuyển thay van, đều là 3 trường hợp có van 
động mạch chủ được chẩn đoán trước phẫu thuật 
là Sievers 0, đã được dự đoán trước phẫu thuật về 
khả năng sửa khó sau khi được làm siêu âm tim 
và chụp MSCT. Tất cả các khâu từ tiền phẫu, 
trong phẫu thuật và hậu phẫu đều cần đến sự hỗ 
trợ của siêu âm tim và MSCT. 
Kết luận: MSCT và siêu âm tim cung cấp 
các thông tin về hình thái van động mạch chủ, 
mức độ nặng của bệnh, tiên lượng vềđộ khó khi 
thực hiện phẫu thuật, đánh giá sau phẫu thuật và 
theo dõi sau xuất viện. 
Từ khóa: MSCT, Siêu âm tim, Ozaki, Ít 
xâm lấn. 
Từ viết tắt: MSCT (Multislice Computed 
Tomography), PLAX (Parasternal Long Axis 
View), PSAX (Parasternal Short Axis View), 
STJ (ST junction), PISA (Proximal Isovelocity 
Surface Area), EROA (Effective Regurgitation 
Orifice Area), RVol (Regurgitation Volume), 
RF (Regurgitation Fraction), TAVR 
(Transcatheter Aortic Valve Replacement), 
ECG (Electrocardiogram). 
APPLICATION OF MULTISLICE 
COMPUTED TOMOGRAPHY AND 
ECHOCARDIOGRAPHY IN AORTIC VALVE 
RECONSTRUCTION SURGERY 
FOLLOWING OZAKI TECHNIQUE 
ABSTRACT 
Introdution: We would like to express the 
important of MSCT and echocardiography in 
Ozaki procedure. 1 
Objective: To declare the application of 
MSCT and echocardiography in aortic valve 
reconstruction surgery following Ozaki technique. 
Materials and Methods: Describe our 
protocol which using MSCT and echocardiography 
in preoperation prepare, intraoperation assessment 
and postoperation patient follow up. 
Results: From 7/2017 to 5/2019, we 
performed 30 Ozaki cases. There were 3 cases 
needed to be convertedto aortic valve 
replacement. All of them were predicted 
preoperation with MSCT and echocardiography. 
Conclusion: MSCT and echocardiography 
help to provide usefull information about aortic 
valve morphology, evaluate surgery indication, 
predict of operative result, intraoperative 
assessment and post operative follow up. 
Keywords:MSCT, echocardiographt, Ozaki, 
minimally invasive. 
* Khoa Phẫu Thuật Tim mạch -Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM 
**Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh - Cơ sở 2. 
*** Bộ môn Phẫu thuật Lồng ngực – Tim mạch – Đại học Y Dược 
TP. Hồ Chí Minh 
Người chịu trách nhiệm khoa học: Nguyễn Thị Thu Trang 
Ngày nhận bài: 01/05/2020 - Ngày Cho Phép Đăng: 15/05/2020 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đoàn Quốc Hưng 
 PGS.TS. Nguyễn Hữu Ước 
ỨNG DỤNG CỦA CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH VÀ SIÊU ÂM TIM TRONG PHẪU THUẬT TẠO HÌNH... 
 77 
Hình 1: Phân loại van động mạch chủ hai mảnh theo Carpentier.[7] 
Theo khuyến cáo 2008 của Hội siêu âm tim 
Hoa kỳ (ASE), hẹp van động mạch chủ được 
phân độ nặng khi: Diện tích mở van động mạch 
chủ nhỏ hơn 1cm2 hoặc nhỏ hơn 0,6cm2/m2 da, 
vận tốc tối đa của dòng máu qua van động mạch 
chủ lớn hơn 4 m/s, chênh áp trung bình qua van 
động mạch chủ trên 40 mmHg.[5] 
Vôi hóa van động mạch chủ được chia làm 
4 mức độ như sau:[8] 
Độ 1: Không vôi hóa. 
Độ 2: Vôi hóa dạng điểm nhỏ đơn độc. 
Độ 3: Những điểm vôi hóa lớn làm ảnh 
hưởng cử động lá van. 
Độ 4: Vôi hóa diện rộng trên toàn bộ các lá 
van gây hạn chế nặng cử động lá van. 
Hở van động mạch chủ: 
Siêu âm tim đánh giá hở van động mạch 
chủ trước phẫu thuật cần trả lời các thông tin sau: 
Cơ chế hở van, mức độ hở van, các thông số về 
kích thước của gốc động mạch chủ. 
Tổn thương van động mạch chủ được phân 
loại theo Carpentier thành 3 type. Theo khuyến 
cáo của Hội siêu âm tim Hoa Kỳ năm 2015, vòng 
van động mạch chủ được đo vào giữa tâm thu, 
xoang Valsalva và STJ được đo vào cuối tâm 
trương, tất cả đều được thực hiện trên mặt cắt 
trục dọc cạnh ức. Hở van động mạch chủ được 
phân là type Ia khi vòng van, xoang Valsalva, 
STJ và động mạch chủ ngực lên phình; type Ib 
khi vòng van, xoang Valsalva và STJ phình, 
động mạch chủ ngực lên không phình; type Ic 
khi vòng van động mạch chủ và xoang Valsalva 
phình, STJ và động mạch chủ ngực lên không 
phình; type Id khi gốc động mạch chủ và động 
mạch chủ ngực lên không phình, van vận động 
bình thường nhưng lá van bị thủng, rách hoặc có 
sùi trên van gây hở van.[4] 
Theo khuyến cáo 2017 của Hội siêu âm 
tim Hoa Kỳ về đánh giá hở van tim tự nhiên, 
van động mạch chủ được gọi là hở nặng khi có 
lớn hơn hoặc bằng 4 trong số 7 đặc điểm sau: 
Đứt dây chằng van hoặc cơ nhú, Vena 
contracta ≥ 0,7cm, PISA radius ≥ 1,0cm ở 
Nyquist 30-40 cm/s, diện tích dòng hở > 50% 
diện tích nhĩ trái trong trường hợp dòng hở 
trung tâm, phổ tĩnh mạch phổi đảo ngược, thất 
trái giãn với cử động trong giới hạn bình 
thường. Trong trường hợp chỉ có 2-3 trong số 
những đặc điểm trên, cần đo EROA, RVol và 
RF, hở van động mạch chủ nặng khi EROA ≥ 
0,4cm2, RVol ≥ 60mL, RF ≥ 50%.[4] 
Khi bệnh nhân được chỉ định phẫu thuật van 
động mạch chủ, chúng tôi chụp MSCT thường quy 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 29 - THÁNG 6/2020 
 78 
để bổ sung thêm thông tin cho siêu âm tim trong 
việc đánh giá độ khó của phẫu thuật Ozaki đồng 
thời giúp lên kế hoạch phẫu thuật.Tại bệnh viện Đại 
học Y Dược, chúng tôi sử dụng máy chụp cắt lớp vi 
tính Siemens 124 lát cắt. Chúng tôi thường sử dụng 
protocol chụp CTA cây động mạch chủ hoặc 
protocol TAVR (luôn có ECG-gated) khi chụp 
MSCT để khảo sát van động mạch chủ với chất 
lượng tốt nhất. Sau đó chúng tôi dùng phần mềm 
chuyên biệt để dựng thành 3 mặt cắt vuông góc 
nhau theo 3 chiều không gian, từ đó thao tác để có 
được mặt cắt cần thiết và đo đạc trên đó[9]. MSCT 
cung cấp các thông số sau: 
 Số lá van động mạch chủ. (hình 3) 
 Kích thước các lá van động mạch chủ đều 
hay không đều. 
 Hình dạng xoang Valsalva. 
 Mức độ vôi hóa lá van và vòng van động 
mạch chủ. 
 Kích thước vòng van động mạch chủ, 
xoang Valsalva, STJ và động mạch chủ ngực lên. 
 Vị trí và tư thế của gốc động mạch chủ 
tương quan với thành ngực bệnh nhân. 
Trong phẫu thuật 
Siêu âm tim qua thực quản luôn được thực 
hiện trong phẫu thuật sau khi tạo hình 3 lá van 
xong, khâu gốc động mạch chủ và cho tim đập 
lại.Mặt cắt thường được sử dụng là mặt cắt trục dọc 
qua giữa thực quản, mặt cắt trục ngang giữa thực 
quản qua van động mạch chủ, mặt cắt 5 buồng qua 
dạ dày. Bên cạnh những chỉ số chung cần đánh giá, 
chúng tôi đánh giá những vấn đề sau: 
- Cử động của 3 lá van động mạch chủ. 
- Diện áp lá van động mạch chủ. 
- Chênh áp trung bình qua van. 
Mức độ hở van động mạch chủ, vị trí luồng 
hở và cơ chế hở van. 
Nếu siêu âm đánh giá mức độ hở van trung bình trở lên, chúng tôi sẽ chuyển sang thay van động 
mạch chủ (hình 2) 
Hình 2: Siêu âm tim qua thực quản tại phòng mổ sau khi tim đập lại một trường hợp tạo hình 
van động mạch chủ bằng phương pháp Ozaki (Bệnh nhân H.Ng.C). Hở van động mạch chủ nhẹ 
gồm 4 dòng hở nhỏ tại trung tâm và chỗ nối 3 mép van. 
Theo dõi sau phẫu thuật 
Trong thời gian nằm viện, chúng tôi siêu âm tim thường quy tại hồi sức, tại hậu phẫu sau rút điện 
cực và trước xuất viện. 
Sau xuất viện, chúng tôi hẹn tái khám sau 1 tuần, 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng và mỗi năm. Siêu âm 
tim qua thành ngực được thực hiện tại mỗi lần tái khám để đánh giá thành quả phẫu thuật, bao gồm: 
ỨNG DỤNG CỦA CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH VÀ SIÊU ÂM TIM TRONG PHẪU THUẬT TẠO HÌNH... 
 79 
 Chức năng thất trái và thất phải. 
 Hoạt động của các cánh van động mạch chủ. 
 Chênh áp qua van động mạch chủ. 
 Mức độ hở van. 
 Các biến chứng (nếu có) như huyết khối trên van, sùi trên van, rách van, sa van,  
 Các thông số khác theo quy trình siêu âm. 
1. KẾT QUẢ 
Từ tháng 7 năm 2017 đến tháng 5 năm 2019, chúng tôi đã phẫu thuật được 30 trường hợp tạo 
hình van động mạch chủ theo phương pháp Ozaki, trong đó tỉ lệ nam:nữ là 1:1, tuổi bệnh nhân từ 16 
đến 68, tuổi trung bình là 46. 
Bảng 1: Đặc điểm van động mạch chủ và gốc động mạch chủ. 
Số lá van động mạch chủ N=30 
4 mảnh 1 (3%) 
3 mảnh 20 (67%) 
2 mảnh Sievers 1 6 (20%) 
 Sievers 0 3 (10%) 
Phình gốc động mạch chủ 0 (0%) 
Bảng 2: Đặc điểm bệnh lý của bệnh nhân trước mổ. 
Bệnh lý N=30 
Hẹp van động mạch chủ 20 (67%) 
Hở van động mạch chủ 5 (17.7%) 
Hẹp hở van động mạch chủ 3 (10%) 
Viêm nội tâm mạc nhiễm trùng 1 (3%) 
Mổ lại 1 (3%) 
Van động mạch chủ 3 mảnh chiếm tỉ lệ cao nhất (67%). Van động mạch chủ 2 mảnh chiếm 30%, 
bao gồm cả van Sievers 0 và 1. Chúng tôi gặp 1 trường hợp van động mạch chủ 4 mảnh (hình 3), không có 
trường hợp van động mạch chủ 1 mảnh và phình gốc động mạch chủ. (Bảng 1). 
Chúng tôi thực hiện phẫu thuật Ozaki trên hầu hết các thể bệnh của van động mạch chủ. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 29 - THÁNG 6/2020 
 80 
Hình 3: Van động mạch chủ 4 mảnh trên MSCT. (Bệnh nhân Tr. S. Ch.) 
Có 3 trường hợp phải chuyển thay van sau 
khi siêu âm tim qua thực quản lúc tim đập lại ghi 
nhận hở van động mạch chủ trung bình – nặng, cả 
3 trường hợp đều là van động mạch chủ 2 mảnh 
Sievers 0 và đã được tiên lượng khả năng chuyển 
thay van trước phẫu thuật. 
Không có trường hợp nào tử vong sau phẫu 
thuật. 1 trường hợp được ghi nhận huyết khối trên 
van động mạch chủ phía mặt động mạch chủ, 
huyết khối tự tiêu sau khi dùng kháng Vitamin K, 
bệnh nhân không có biến chứng tắc mạch do 
huyết khối. Chênh áp qua van động mạch chủ ổn 
định qua các lần siêu âm tim. 
2. BÀN LUẬN: 
Trong khuyến cáo về điều trị bệnh van tim 
của AHA/ACC, siêu âm tim qua thành ngực 
đánh giá bệnh van tim được khuyến cáo ở mức 
độ I[10]. Siêu âm tim qua thành ngực trước 
phẫu thuật cung cấp các thông tin về định dạng 
tổn thương van, đánh giá mức độ nặng, góp 
phần vào chỉ định phẫu thuật cũng như lên kế 
hoạch phẫu thuật. 
MSCT giúp làm rõ hình thái học của van 
động mạch chủ khi siêu âm chưa cung cấp đầy đủ 
và chưa chắc chắn do cửa sổ siêu âm kém hoặc 
van bị vôi hóa nhiều. MSCT không chỉ giúp xác 
định được số mảnh van động mạch chủ, còn giúp 
xác định số xoang Valsalva, vị trí xuất phát của 
hai nhánh mạch vành, các lá van trong trường 
hợp van 3 mảnh có kích thước đều nhau hay 
không. Các thông số trên giúp tiên lượng mức độ 
khó của phẫu thuật. Van động mạch chủ 3 mảnh 
có kích thước 3 lá van đều nhau có tiên lượng 
phẫu thuật tạo hình thành công cao nhất. Kế đến 
là van động mạch chủ 3 mảnh có kích thước 3 lá 
van không đều nhau, trường hợp này, theo tác 
giả, nếu trong mổ số đo hai lá van chênh lệch trên 
2mm thì nên tạo một mép van mới thay vì may 
trên mép van cũ để điều chỉnh số đo các lá van 
chênh lệnh tối thiểu[11]. Van động mạch chủ hai 
mảnh Sievers 1 hoặc 2 có 3 xoang Valsalva tiên 
lượng phẫu thuật thành công sẽ cao hơn van động 
mạch chủ 2 mảnh Sievers 1 hoặc 2 nhưng không 
có 3 xoang Valsalva. Van động mạch chủ 2 mảnh 
Sievers 0 có độ khó cao nhất. Vị trí xuất phát của 
hai lỗ mạch vành cũng ảnh hưởng đến mức độ 
khó của phẫu thuật, hai lỗ mạch vành xuất phát 
tạo với nhau một góc càng gần 180 độ bao nhiêu 
thì độ khó của phẫu thuật càng tăng. 
Thông thường siêu âm sẽ đánh giá mức độ 
vôi hóa van động mạch chủ nặng hơn thực tế do 
ảnh hưởng của xảo ảnh. MSCT giúp xác định 
ỨNG DỤNG CỦA CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH VÀ SIÊU ÂM TIM TRONG PHẪU THUẬT TẠO HÌNH... 
 81 
chính xác hơn mức độ vôi hóa lá van và vòng 
van. Mức độ vôi hóa càng cao, độ khó của phẫu 
thuật càng tăng, đặc biệt khi vôi hóa lan đến vòng 
van, quá trình cắt các lá van và lấy vôi tại vòng 
van có thể gây ra rách vòng van cũng như tăng 
biến chứng block nhĩ thất sau phẫu thuật, hở van 
sau phẫu thuật. 
MSCT là một công cụ quan trọng để đo đạc 
gốc động mạch chủ, động mạch chủ ngực lên 
cũng như xác định tư thế của gốc động mạch chủ. 
MSCT với càng nhiều dãy thì độ phân giải hình 
ảnh càng cao. Tuy nhiên theo kinh nghiệm của 
chúng tôi, MSCT 124 dãy là đủ để cho các thông 
tin cần thiết. Vì vòng van động mạch chủ được đo 
tại giữa tâm thu còn xoang Valsalva, STJ được đo 
vào cuối tâm trương, do đó cần lưu ý bộ phận kỹ 
thuật viên khi chụp gốc động mạch chủ lấy đầy 
đủ cả hai thì tâm thu và tâm trương. Vòng van 
động mạch chủ thật sự không nằm trên một mặt 
phẳng mà có dạng hình vương miện với 3 đỉnh 
chính là 3 mép van. Trên lâm sàng, khi đo vòng 
van động mạch chủ trên MSCT, ta sử dụng vòng 
van tưởng tượng nằm trên mặt phẳng nối 3 điểm 
thấp nhất của van động mạch chủ, vòng van động 
mạch chủ trên MSCT thường có dạng hình ovan, 
chúng tôi đo đường kính trục ngắn và trục dài sau 
đó tính trung bình[9]. Trường hợp van động mạch 
chủ 2 mảnh Sievers 0, sự chênh lệch đường kính 
trục ngắn và trục dài thường nhiều hơn so với các 
trường hợp còn lại, do đó chúng tôi thường mô tả 
đồng thời hai đường kính. Vòng van động mạch 
chủ càng nhỏ, dự đoán chênh áp qua van sau phẫu 
thuật sẽ càng cao. Vòng van động mạch chủ và 
xoang Valsalva càng nhỏ, thao tác phẫu thuật 
cũng sẽ khó khăn hơn so với vòng van và xoang 
Valsalva giãn. 
Khi đo đạc trên MSCT, chúng tôi sử dụng 
phần mềm vi tính để dựng 3 mặt cắt vuông góc 
trong không gian, từ đó phối hợp để có được mặt 
cắt cần thiết cho đo đạc. Giới hạn của siêu âm tim 
2D là chỉ có thể đo đạc các thông số trên những 
mặt phẳng nhất định. Siêu âm tim 3D ngày nay 
có thể dựng được các mặt cắt không gian và tùy 
chỉnh tương tự thao tác trên dữ liệu MSCT nhưng 
kết quả đo đạc lại phụ thuộc khá nhiều vào chất 
lượng hình ảnh siêu âm, nhất là đối với động 
mạch chủ nên vẫn chưa thay thế hoàn toàn được 
vai trò của MSCT. Tuy nhiên khi cần khảo sát 
nhanh, lặp lại và nhất là trường hợp bệnh nhân 
suy giảm chức năng thận cần hạn chế cản quang, 
chúng ta có thể dùng siêu âm tim 3D để đo đạc 
như một phương pháp thay thế MSCT. Ngày nay 
với sự phát triển của siêu âm và MSCT, ngoài 
việc phục vụ cho phẫu thuật, chúng ta có thể tích 
hợp siêu âm tim và MSCT 3D cùng với phần 
mềm biểu diễn hình ảnh DSA trong can thiệp, đặc 
biệt là can thiệp thay van động mạch chủ.[12] 
Chúng tôi thực hiện phẫu thuật Ozaki ít 
xâm lấn bằng cách sử dụng đường mở ngực nửa 
trên xương ức và lấy màng ngoài tim qua đường 
nội soi ngực phải hoặc lấy trực tiếp qua đường 
mở ngực giữa xương ức. Đường mở ngực thường 
kéo dài đến liên sườn 3 trong trường hợp lấy 
màng tim qua nội soi ngực phải và kéo dài đến 
liên sườn 4 nếu lấy màng ngoài tim trực tiếp qua 
đường mở ngực giữa xương ức. Khác với phẫu 
thuật thay van động mạch chủ ít xâm lấn, vị trí 
của gốc động mạch chủ và tư thế của gốc động 
mạch chủ đóng vai trò quan trong trong việc 
quyết định lựa chọn đường mở ngực liên sườn II 
cạnh phải ức hay không. Trong phẫu thuật Ozaki 
ít xâm lấn, đường mở ngực luôn là nửa trên 
xương ức, thông tin về góc nghiêng của gốc động 
mạch chủ không ảnh hưởng nhiều đến việc lựa 
chọn đường mở ngực nửa trên xương ức hay 
không. Thông tin về vị trí của gốc động mạch chủ 
so với xương ức sẽ giúp bác sĩ phẫu thuật lựa 
chọn mở về bên trái hay bên phải xương ức để kết 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 29 - THÁNG 6/2020 
 82 
thúc đường mở ngực ít xâm lấn nửa trên xương 
ức. Tại mặt cắt ngang trên MSCT đi qua thân 
động mạch phổi, nếu van động mạch chủ nằm 
bên phải so với mặt phẳng đứng dọc đi qua giữa 
xương ức, chúng tôi sẽ cưa sang nửa phải xương 
ức, ngược lại chúng tôi sẽ cưa sang nửa trái 
xương ức. 
3. KẾT LUẬN 
MSCT và siêu âm tim đóng vai trò rất quan 
trọng trong việc chỉ định, lên kế hoạch phẫu thuật 
và tiên lượng độ khó của phẫu thuật tạo hình van 
động mạch chủ theo phương pháp Ozaki. Trên 
đây là mô tả kinh nghiệm của chúng tôi trong 
việc ứng dụng siêu âm tim và MSCT vào phẫu 
thuật Ozaki. Trong tương lai, chúng tôi sẽ có 
những nghiên cứu cụ thể hơn để khẳng định chắc 
chắn hơn về nhận định này. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Ozaki, S., et al., Midterm outcomes after 
aortic valve neocuspidization with 
glutaraldehyde-treated autologous pericardium. 
The Journal of Thoracic and Cardiovascular 
Surgery, 2018. 155(6): p. 2379-2387. 
2. Nguyen, D.H., et al., Minimally invasive 
aortic valve reconstruction with autologous 
pericardium: how we do it. Annals of 
Cardiothoracic Surgery, 2019. 8(3): p. 444-446. 
3. Nguyen, D.H., et al., Minimally 
Invasive Ozaki Procedure in Aortic Valve 
Disease:The Preliminary Results. Innovations, 
2018. 13(5): p. 332-337. 
4. Lang, R.M., et al., Recommendations for 
cardiac chamber quantification by 
echocardiography in adults: an update from the 
American Society of Echocardiography and the 
European Association of Cardiovascular Imaging. J 
Am Soc Echocardiogr, 2015. 28(1): p. 1-39 e14. 
5. Baumgartner, H., et al., 
Echocardiographic assessment of valve stenosis: 
EAE/ASE recommendations for clinical practice. 
J Am Soc Echocardiogr, 2009. 22(1): p. 1-23; 
quiz 101-2. 
6. Baumgartner, H.C., et al., 
Recommendations on the echocardiographic 
assessment of aortic valve stenosis: a focused 
update from the European Association of 
Cardiovascular Imaging and the American 
Society of Echocardiography. Eur Heart J 
Cardiovasc Imaging, 2017. 18(3): p. 254-275. 
7. Ridley, C.H., et al., The Sievers 
Classification of the Bicuspid Aortic Valve for the 
Perioperative Echocardiographer: The 
Importance of Valve Phenotype for Aortic Valve 
Repair in the Era of the Functional Aortic 
Annulus. J Cardiothorac Vasc Anesth, 2016. 
30(4): p. 1142-51. 
8. Rosenhek, R., et al., Predictors of 
Outcome in Severe, Asymptomatic Aortic 
Stenosis. New England Journal of Medicine, 
2000. 343(9): p. 611-617. 
9. Litmanovich, D.E., et al., Imaging in 
Transcatheter Aortic Valve Replacement (TAVR): 
role of the radiologist. Insights Imaging, 2014. 
5(1): p. 123-45. 
10. Nishimura, R.A., et al., 2014 AHA/ACC 
Guideline for the Management of Patients With 
Valvular Heart Disease: executive summary: a 
report of the American College of 
Cardiology/American Heart Association Task 
Force on Practice Guidelines. Circulation, 2014. 
129(23): p. 2440-92. 
11. Shigeyuki, O., Ozaki Procedure: 1,100 
patients with up to 12 years of follow-up Turk 
Gogus Kalp Dama, 2019. 27: p. 454. 
12. Bleakley, C. and M.J. Monaghan, The 
Pivotal Role of Imaging in TAVR Procedures. 
Curr Cardiol Rep, 2018. 20(2): p. 9. 

File đính kèm:

  • pdfung_dung_cua_chup_cat_lop_vi_tinh_va_sieu_am_tim_trong_phau.pdf