Tỷ suất mắc mới ung thư vú và thời gian sống thêm ở phụ nữ trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2014-2016

Ung thư vú (UTV) không những là một bệnh ung thư

hay gặp nhất ở phụ nữ mà còn là một trong những nguyên

nhân chính gây tử vong đối với phụ nữ. Mục tiêu: Mô tả tỷ

suất mắc mới chuẩn hoá theo tuổi của ung thư vú ở phụ nữ

trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2014-2016. Phương pháp:

Nghiên cứu sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả theo dõi dọc

theo phương pháp ghi nhận ung thư theo các nguyên tắc

của Tổ chức ghi nhận ung thư quần thể do Viện Nghiên

cứu Ung thư quốc tế khuyến cáo. Kết quả: Tỷ suất mắc

mới ung thư vú chuẩn theo tuổi tại Hà Nội giai đoạn 2014-

2016 là 29,4/100.000 nữ. Tỷ suất mắc chuẩn theo tuổi ở nội

thành (38,9/100.000 nữ) cao hơn ngoại thành (21,7/100.000

nữ). Thời gian sống thêm toàn bộ trung bình là 52,7 ± 0,29

(tháng). Tỷ lệ sống thêm 2 năm, 3 năm, và ước tính cho 5

năm lần lượt là 92,3%; 90,9% và 86,2%. Nhóm ung thư vú

trẻ tuổi (< 40="" tuổi)="" tỷ="" lệ="" sống="" thêm="" 3="" năm="" (90,1%)="" thấp="">

nhóm tuổi ≥ 40 tuổi (93,4%) với p<0,016. giai="" đoạn="">

kích thước u và tình trạng di căn hạch nách là 3 yếu tố ảnh

hưởng đến sống thêm toàn bộ bệnh nhân ung thư vú.

pdf 7 trang phuongnguyen 580
Bạn đang xem tài liệu "Tỷ suất mắc mới ung thư vú và thời gian sống thêm ở phụ nữ trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2014-2016", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Tỷ suất mắc mới ung thư vú và thời gian sống thêm ở phụ nữ trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2014-2016

Tỷ suất mắc mới ung thư vú và thời gian sống thêm ở phụ nữ trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2014-2016
SỐ 6 (53) - Tháng 11-12/2019
Website: yhoccongdong.vn20
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2019
TỶ SUẤT MẮC MỚI UNG THƯ VÚ VÀ THỜI GIAN SỐNG THÊM 
Ở PHỤ NỮ TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2014-2016 
Nguyễn Thị Mai Lan1, Bùi Diệu2 
TÓM TẮT
Ung thư vú (UTV) không những là một bệnh ung thư 
hay gặp nhất ở phụ nữ mà còn là một trong những nguyên 
nhân chính gây tử vong đối với phụ nữ. Mục tiêu: Mô tả tỷ 
suất mắc mới chuẩn hoá theo tuổi của ung thư vú ở phụ nữ 
trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2014-2016. Phương pháp: 
Nghiên cứu sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả theo dõi dọc 
theo phương pháp ghi nhận ung thư theo các nguyên tắc 
của Tổ chức ghi nhận ung thư quần thể do Viện Nghiên 
cứu Ung thư quốc tế khuyến cáo. Kết quả: Tỷ suất mắc 
mới ung thư vú chuẩn theo tuổi tại Hà Nội giai đoạn 2014-
2016 là 29,4/100.000 nữ. Tỷ suất mắc chuẩn theo tuổi ở nội 
thành (38,9/100.000 nữ) cao hơn ngoại thành (21,7/100.000 
nữ). Thời gian sống thêm toàn bộ trung bình là 52,7 ± 0,29 
(tháng). Tỷ lệ sống thêm 2 năm, 3 năm, và ước tính cho 5 
năm lần lượt là 92,3%; 90,9% và 86,2%. Nhóm ung thư vú 
trẻ tuổi (< 40 tuổi) tỷ lệ sống thêm 3 năm (90,1%) thấp hơn 
nhóm tuổi ≥ 40 tuổi (93,4%) với p<0,016. Giai đoạn bệnh, 
kích thước u và tình trạng di căn hạch nách là 3 yếu tố ảnh 
hưởng đến sống thêm toàn bộ bệnh nhân ung thư vú. Kết 
luận: Ung thư vú trên địa bàn Hà Nội là loại ung thư phổ 
biến ở nữ và thời gian sống thêm khá dài. Các kết quả của 
nghiên cứu này sẽ góp phần giúp cho các nhà lập chính sách 
có kế hoạch can thiệp nhằm nâng cao sức khoẻ người phụ 
nữ của thành phố Hà Nội.
Từ khoá: Tỷ suất mới mắc, thời gian sống thêm, ung 
thư vú, Hà Nội.
SUMMARY:
AGE-SPECIFIC INCIDENT RATE AND 
SURVIVAL OF BREAST CANCER AMONG 
WOMEN LIVING IN HANOI CITY, 2014-2016 
Breast cancer is one of common diseases and main 
cause of death among women. OBjectives: To describe 
the age standardised incident rate of breast cancer and 
additional survival among women in Hanoi in 2014-
2016. Methods: A desriptive longitudinal study was 
applied. Data was collected by using cancer registry and 
questionnaire of World Health Organization/International 
Cancer Research Institute. Results: The age standardised 
incident rate of breast cancer was highest as compared 
to other cancers, in period of 2014-2016 (29.4/100.000). 
The age standardised incident rate of BC in urban was 
higher in urban as compared to sub-urban (38.9/100.000 
and 21.7/100.000 respectively). Mean total survival time 
was 52.7 ± 0.29 moth. Survival time of 2 years, 3 years 
and 5 years were 92.3%; 90.9% and 86.2%. For younger 
women with breast cancer (< 40 years old) rate of survival 
time for 3 yeasr was (90.1%) lower than that of older 
women ( ≥ 40 years old) with p<0.016. Conclusions: 
Breast cancer was the most common and total survival 
time long among women in Hanoi. Results will contribute 
to the advocacy and behaviour change communication to 
impeove woman’s health. 
Keywords: Age-standardized incident rate, survival 
time, breast cancer, Hanoi.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư vú (UTV) không những là một bệnh ung 
thư hay gặp nhất ở phụ nữ mà còn là một trong những 
nguyên nhân chính gây tử vong đối với phụ nữ trên thế 
giới cũng như tại Việt Nam. Theo Tổ chức Ung thư Thế 
giới (GLOBOCAN 2018), trên thế giới có 2.089.000 bệnh 
nhân ung thư vú mới được chẩn đoán, chiếm 11,6% trong 
tất cả các loại ung thư và số trường hợp tử vong do ung 
thư vú là 881.000 trường hợp [1]. Chương trình quốc gia 
về phòng chống ung thư (PCUT) đều hướng đến công tác 
phòng bệnh; sàng lọc và phát hiện sớm; nâng cao chất 
lượng chẩn đoán và điều trị bệnh và cải thiện chất lượng 
sống cho người bệnh ung thư [2], [3], [4].
Tại Việt Nam, tỷ suất thô mắc ung thư vú năm 2010 
là 13,8/100.000 phụ nữ và tỷ suất chuẩn hóa theo tuổi mắc 
Ngày nhận bài: 19/09/2019 Ngày phản biện: 27/09/2019 Ngày duyệt đăng: 03/10/2019
1. Bệnh viện Ung bướu Hà Nội;
2. Bệnh viện K
SỐ 6 (53) - Tháng 11-12/2019
Website: yhoccongdong.vn 21
VI
N
S
C K
H E
C NG
NG 
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ung thư vú là 17,4/100.000 phụ nữ; năm 2010, các tỷ suất 
tương ứng là 28,1 và 29,9/100.000 phụ nữ [5]. Công tác 
ghi nhận ung thư đã được thực hiện từ năm 1987, tại Hà 
Nội, sau đó mở rộng thành hệ thống ghi nhận ung thư quốc 
gia từ năm 2008 và hiện nay đã có nhiều tỉnh/thành phố đã 
có hệ thống ghi nhận ung thư. Các dữ liệu dịch tễ học về 
ung thư như gánh nặng bệnh tật, các đặc điểm phân bố về 
tuổi, kinh tế xã hội, khu vực địa lý, xu hướng mắc bệnh 
có ý nghĩa quyết định trong việc xác định các hướng ưu 
tiên cho chương trình PCUT ở mỗi quốc gia [5]. Trong đó, 
tỷ suất mới mắc và tỷ suất tử vong là hai chỉ số quan trọng 
giúp đánh giá tình hình bệnh ung thư. Tỷ suất mới mắc 
ung thư chỉ có được từ những ghi nhận ung thư quần thể. 
Tỷ suất tử vong do ung thư ở các quốc gia đều dựa vào các 
thống kê tử vong theo nguyên nhân bệnh tật. 
Theo khuyến cáo của hội đồng các chuyên gia tại Hội 
nghị quốc tế St Gallen, phân loại ung thư vú ngoài các yếu 
tố kích thước u, tình trạng di căn hạch nách, tình trạng di 
căn xa còn có thêm yếu tố về độ mô học của khối u, dấu 
ấn sinh học khối u (Her-2/neu, Ki-67, ER,PR) giúp việc 
lựa chọn phương pháp điều trị cũng như tiên lượng bệnh 
phù hợp hơn. Điều trị ung thư vú là điều trị đa mô thức tùy 
thuộc vào giai đoạn bệnh, bao gồm: phẫu thuật, xạ trị, nội 
khoa (hóa trị, nội tiết, sinh học) và chăm sóc giảm nhẹ. Xu 
hướng điều trị toàn thân hiện nay là điều trị sinh học, mang 
lại nhiều kết quả khả quan giúp cải thiện thời gian sống 
thêm cũng như chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung 
thư vú. Tuy nhiên, tại các quốc gia đang phát triển trong 
đó có Việt Nam, số liệu ghi nhận về ung thư vú còn bị hạn 
chế cả về số lượng và chất lượng. Do vậy, nghiên cứu tỷ 
suất mắc mới và thời gian sống thêm toàn bộ của các bệnh 
nhân ung thư vú trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2014-2016 
sẽ góp phần giúp cho công tác lập kế hoạch can thiệp dự 
phòng, điều trị cũng như phục vụ cho công tác nghiên cứu 
khoa học về ung thư vú. Nghiên cứu được thực hiện nhằm 
mô tả tỷ suất mắc mới ung thư vú ở phụ nữ và thời gian 
sống thêm của bệnh nhân ung thư vú trên địa bàn Hà Nội 
giai đoạn 2014-2016.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1. Đối tượng và thời gian nghiên cứu: Là những 
bệnh nhân ung thư vú được chẩn đoán xác định lần đầu, 
dựa trên lâm sàng, kết quả xét nghiệm tế bào học và hoặc 
mô bệnh học và có địa chỉ thường trú tại thành phố Hà Nội 
trong giai đoạn 2014-2016. Loại trừ các trường hợp còn 
nghi ngờ về chẩn đoán: u chưa rõ bản chất, ranh giới giữa 
u lành và u ác không được đưa vào ghi nhận; các trường 
hợp chẩn đoán lần đầu ung thư vú không trong khoảng thời 
gian 01/01/2014 đến 31/12/2016 và không có đủ hồ sơ về 
chẩn đoán xác định là ung thư vú. 
2.2. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu sử dụng 
thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang và theo dõi dọc nhằm 
ghi nhận các trường hợp mới mắc và thời gian sống thêm 
của các bệnh nhân ung thư vú theo các nguyên tắc ghi 
nhận ung thư của Tổ chức ghi nhận ung thư quần thể do 
Viện Nghiên cứu Ung thư quốc tế khuyến cáo. Số liệu về 
các trường hợp mắc ung thư vú được thu thập từ các cơ 
sở y tế công lập, tư nhân có khám và điều trị ung thư vú 
trên địa bàn Hà Nội. Tổng số dân số nữ Hà Nội và dân số 
nữ theo từng quận huyện các năm 2014, 2015, 2016 lấy 
từ Sách Niên giám thống kê thành phố Hà Nội 2016, xuất 
bản năm 2017 của Cục Thống kê thành phố Hà Nội. Quần 
thể dân số tham chiếu phân bố dân số theo từng nhóm tuổi 
được lấy từ phân bố dân số chuẩn của Thế giới. Quá trình 
nhập số liệu đều tuân theo khuyến cáo của Mc Lenan: Các 
trường hợp có địa chỉ không rõ hoặc không ghi địa chỉ 
cũng đều được thu thập, sau đó tiến hành một quá trình tìm 
kiếm địa chỉ tích cực thông qua danh sách bệnh nhân nằm 
viện của phòng kế hoạch tổng hợp, kho hồ sơ... nếu là bệnh 
nhân ngoài Hà Nội thì loại bỏ, các bệnh nhân không tìm 
thấy địa chỉ được giữ riêng, sau đó đối chiếu tìm địa chỉ từ 
các nguồn khác. Các chỉ số nghiên cứu bao gồm: Tỷ suất 
mới mắc ung thư vú thô, theo năm (2014-2016) và khu 
vực địa lý (khu vực nội thành/ngoại thành và quận/huyện); 
thời gian sống thêm toàn bộ của các bệnh nhân ung thư vú.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1. Tỷ suất mắc mới ung thư vú chuẩn hóa theo tuổi /100.000 nữ
Năm Số ca mới mắc Dân số Hà Nội ASR/100.000 nữ
Năm 2014 1.191 3.703.000 30,9
Năm 2015 1.074 3.773.000 27,0
Năm 2016 1.237 3.834.000 30,3
Giai đoạn 2014-2016 3.502 11.310.000 29,4
SỐ 6 (53) - Tháng 11-12/2019
Website: yhoccongdong.vn22
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2019
Bảng 2. Tỷ suất mắc mới ung thư vú chuẩn theo tuổi theo khu vực/100.000 nữ
Khu vực Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016
Nội thành 40,2 37,2 38,2
Ngoại thành 21,4 18,8 23,9
P <0,001 <0,001 <0,001
Biểu đồ 1. Thời gian sống thêm toàn bộ (tháng)
Biểu đồ 2. Liên quan sống thêm toàn bộ và giai đoạn bệnh
Tỷ suất mắc mới chuẩn theo tuổi ở khu vực nội thành cao hơn so với khu vực ngoại thành. Sự khác biệt là có ý 
nghĩa thống kê với p<0,001.
Thời gian sống thêm toàn bộ trung bình là: 52,69 ± 0,29 (tháng), min: 1,0; max: 57,0). Tỷ lệ sống thêm toàn bộ 3 
năm là: 92,3%; 5 năm: 86,2%
Tỷ lệ sống thêm toàn bộ 3 năm giảm dần theo giai 
đoạn. Tỷ lệ sống thêm 3 năm giữa giai đoạn 0 và I là 
100%, giảm dần ở giai đoạn II, III, IV, rất khác biệt so 
với giai đoạn III và IV (P<0,001). Tại thời điểm 3 năm, tỷ 
lệ sống thêm toàn bộ cho các giai đoạn I - IV lần lượt là 
100%; 97,2%; 86,8% và 76,6%.
Tỷ suất mắc mới ung thư vú chuẩn theo tuổi cao 
nhất ở năm 2016 là 30,2/100.000 nữ. Tỷ suất mắc mới 
ung thư vú chuẩn theo tuổi giai đoạn 2014-2016 là 
29,4/100.000 nữ. 
SỐ 6 (53) - Tháng 11-12/2019
Website: yhoccongdong.vn 23
VI
N
S
C K
H E
C NG
NG 
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Biểu đồ 3. Liên quan sống thêm toàn bộ và tuổi
Nhóm ung thư vú trẻ tuổi (<40) có tỷ lệ sống thêm toàn bộ 3 năm thấp hơn so với nhóm ≥ 40 tuổi, Sự khác biệt là 
có ý nghĩa với p=0,016.
Biểu đồ 4. Thời gian sống thêm toàn bộ theo T
100% bệnh nhân ở giai đoạn tại chỗ Tis sống sau 3 
năm. Giai đoạn T4 có thời gian sống thêm thấp nhất, sự 
khác biệt là có ý nghĩa so với nhóm còn lại với p <0,001. 
Tỷ lệ sống thêm 3 năm giai đoạn T4 là 84,9%.
Biểu đồ 5. Liên quan giữa thời gian sống thêm toàn bộ với di căn hạch nách
Tỷ lệ sống thêm toàn bộ 3 năm giai đoạn N0 và N1 là 
không có sự khác biệt. Giai đoạn N2 và N3 có tỷ lệ sống 
thêm toàn bộ 3 năm thấp hơn so với giai đoạn N0,N1. Sự 
khác biệt là có ý nghĩa thống kê với p< 0,001.
SỐ 6 (53) - Tháng 11-12/2019
Website: yhoccongdong.vn24
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2019
Biểu đồ 6. Liên quan sống thêm toàn bộ và tình trạng di căn hạch nách 
Biểu đồ 7. Liên quan sống thêm toàn bộ và kết quả mô bệnh học 
Bệnh nhân ở giai đoạn có di căn hạch N (+) có tỷ lệ sống thêm toàn bộ 3 năm thấp hơn so với bệnh nhân chưa có 
di căn hạch N (-) 
Không có sự khác biệt về tỷ lệ sống thêm toàn bộ 3 
năm ung thư biểu mô thể ống xâm nhập với kết quả mô 
bệnh học khác. Sự khác biệt là không có ý nghĩa thống kê 
với p=0,508.
IV. BÀN LUẬN
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, tỷ suất 
mắc ung thư vú bắt đầu tăng nhanh từ lứa tuổi 40. Dưới 40 
tuổi, tỷ suất mắc là 47,6/100.000, nhưng đã tăng gần gấp 3 
lần, 130,6/100.000 nữ, khi ở tuổi 40 đến 49. Nhóm tuổi có 
tỷ suất mắc ung thư vú cao nhất là 50-59 tuổi, sau đó đến 
lứa tuổi 80 giảm xuống 21,5/100.000 nữ. Kết quả nghiên 
cứu này cũng phù hợp với ghi nhận y văn cũng như so với 
các nước trên thế giới [1]. Các nghiên cứu trên thế giới đều 
ghi nhận phụ nữ tăng nguy cơ mắc ung thư vú từ 40 tuổi. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 480 ca ung thư 
vú mới mắc ở độ tuổi dưới 40 chiếm 13,5%. Đây cũng là 
con số ghi nhận đáng lo ngại rằng, liệu ung thư vú ở tuổi 
trẻ càng ngày càng tăng. Theo báo cáo của tác giả Phạm 
Xuân Dũng (2017), tại thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận 
ung thư vú dưới 40 tuổi tăng dần theo từng năm. Năm 
1995-1999, ghi nhận 303 ca; đến năm 2010-2014 ghi nhận 
760 ca chiếm 14,7% [6]. Độ tuổi của bệnh nhân Việt Nam 
ngày càng trẻ, phần lớn là từ 45-55 tuổi, trong khi độ tuổi 
thường gặp ở các bệnh nhân Úc là từ 65-69 tuổi [7]. 
Con số này cao hơn so với các nghiên cứu trên thế 
giới, tại các nước phát triển châu Âu và châu Mỹ, tỷ lệ 
bệnh nhân ung thư vú dưới 40 chỉ vào khoảng 4-6% [1]. 
Trong khi đó tại các nước châu Á, con số này là trên 10% 
và xu hướng càng ngày càng tăng [1]. Đối với nhóm ung 
thư vú trẻ tuổi dưới 40 thường mang các đặc điểm tiên 
lượng xấu, với mức độ ác tính hơn [1].
Ung thư vú ở phụ nữ trẻ thường biểu hiện ở giai đoạn 
muộn hơn, một phần vì họ không được sàng lọc như phụ 
nữ lớn tuổi. Theo Hiệp hội Y khoa Mỹ khuyến cáo chụp 
vú sàng lọc hàng năm bắt đầu từ tuổi 40, thăm khám lâm 
sàng mỗi 3 năm và tự khám vú hàng tháng với phụ nữ từ 
20-30 tuổi. Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho rằng việc tự 
SỐ 6 (53) - Tháng 11-12/2019
Website: yhoccongdong.vn 25
VI
N
S
C K
H E
C NG
NG 
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
khám vú không làm giảm tỉ lệ tử vong do UTV. Gần đây 
phụ nữ có có tiền sử gia đình mắc UTV ở tuổi chưa mãn 
kinh được khuyến cáo nên chụp vú sàng lọc sớm 10 năm 
trước lứa tuổi đó.
Bệnh nhân UTV tại Việt Nam cũng như các nước 
đang phát triển khu vực Đông Nam Á không những được 
chẩn đoán ở giai đoạn tiến xa di căn chiếm tỉ lệ cao mà tuổi 
trung bình mắc cũng trẻ hơn so với tỉ chung của thế giới 
cũng như các khu vực khác của châu Á. Theo thống kê, 
chỉ khoảng 30% số phụ nữ mắc UTV trên toàn cầu có tuổi 
< 50 tuổi, tỉ lệ này ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương là 
42% và ở khu vực Đông Nam Á lên tới 47% [7]. Trong số 
các các nước khu vực Đông Nam Á, chỉ có Singapore là 
nước duy nhất có tuổi trung bình mắc UTV tương tự với 
các nước phát triển có tỉ suất mắc UTV cao như Australia 
với trên 60% số người mắc UTV có tuổi > 50 tuổi và tuổi 
mắc UTV trung bình là 50-69 tuổi [8] cao hơn so với tuổi 
mắc UTV trung bình chung ở khu vực Đông Nam Á (44-
69 tuổi) [7]. Tuổi trung bình mắc càng trẻ (độ tuổi lao 
động) cùng với tỉ lệ chẩn đoán sớm còn thấp càng làm tăng 
gánh nặng do UTV ở Việt Nam cũng như các nước đang 
phát triển khu vực Đông Nam Á khác.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, tỷ suất 
mới mắc ở các quận thuộc khu vực nội thành là cao hơn 
so với các quận ngoại thành (36,7/100.000 nữ so với 
24,8/100.0000 nữ). Sự khác biệt này cũng tương đồng với 
các nghiên cứu dịch tễ học ung thư vú. Có thể nhận thấy, 
tỷ suất mắc bệnh ở các nước mức độ đô thị hóa cao như 
châu Âu, Mỹ, Úc là cao hơn so với các nước đang và kém 
phát triển, nơi có mật độ đô thị hóa thấp hơn. Sự khác biệt 
về tỷ suất mắc mới ung thư vú giữa khu vực nội thành 
(thành thị) và khu vực ngoại thành (chủ yếu là nông thôn) 
tại thành phố Hà Nội cũng giống như sự khác biệt về tỷ 
lệ này giữa Việt Nam so với các nước phát triển. Kết quả 
nghiên cứu này có thể phản ánh sự khác biệt về nguy cơ 
mắc ung thư vú giữa hai khu vực, nhưng cũng có thể phản 
ánh khả năng tiếp cận dịch vụ y tế trong việc chẩn đoán, 
phát hiện và ghi nhận ca bệnh.
Ung thư vú là một trong những bệnh có tiên lượng tốt. 
Tiên lượng bệnh phụ thuộc rất nhiều vào giai đoạn bệnh, 
giai đoạn càng sớm tiên lượng càng tốt. Trong nghiên cứu 
của chúng tôi, tỷ lệ sống thêm toàn bộ sau 2 năm, 3 năm, 
và ước tính cho 5 năm tương ứng là 93,8%, 92,4% và 
86,2%. Giai đoạn I và II có tỷ lệ sống thêm toàn bộ tương 
đương nhau (96,7% và 94,5%). Tỷ lệ sống thêm toàn bộ ở 
giai đoạn III là 87,6% và giai đoạn IV là 66,2% (p<0,05). 
Theo Phùng Thị Huyền (2017), nghiên cứu trên 63 bệnh 
nhân ung thư vú giai đoạn II, III cho thấy tỷ lệ sống thêm 
toàn bộ trong 3 năm đầu là 100%, sang năm thứ 4 và 5 là 
98,4%. Một nghiên cứu khác của tác giả khác (2008) tiến 
hành trên 54 bệnh nhân ng thư vú giai đoạn II, III cho kết 
quả tỷ lệ sống thêm toàn bộ sau 1 năm, 2 năm, 3 năm, 4 
năm tương ứng là 98,1%, 94,3%, 87,8% và 84,1%.
Giai đoạn UTV là yếu tố tiên lượng quan trọng liên 
quan tới tỷ lệ sống thêm và phương pháp điều trị. Giai 
đoạn sớm thì tiên lượng sống thêm tốt. Điều này đã được 
chứng minh trên rất nhiều nghiên cứu trước đây. Ví dụ: 
Nghiên cứu của Trần Văn Thuấn (2005), tỷ lệ sống thêm 
không bệnh và toàn bộ 5 năm cũng giảm từ 92,3 % và 
96,1% ở giai đoạn II xuống còn 65,8% và 78,2% ở nhóm 
giai đoạn III [9]. Hay nghiên cứu của nhóm tác giả trường 
ĐH Taxas - Hoa Kỳ đã chứng minh ảnh hưởng của giai 
đoạn bệnh lên thời gian sống còn toàn bộ với thời gian theo 
dõi 10 năm cho thấy, giai đoạn IIA có tỷ lệ sống thêm toàn 
bộ đạt 76%, IIB thấp hơn: 70% và IIIA là 59% [10].
Tỷ lệ sống còn toàn bộ sau 3 năm ở nhóm không di 
căn hạch của chúng tôi và 94,4%; giảm còn 92,6 nhóm 
N1, 85,3% N2 và 77,2% ở nhóm N3. Nghiên cứu của 
Tạ Văn Tờ năm 2004 cũng cho thấy khác biệt rất lớn về 
tỷ lệ sống thêm không bệnh 5 năm giữa nhóm không di 
căn hạch (91,96%) và nhóm có di căn hạch (53,03%) 
[11]. Nghiên cứu của Vũ Hồng Thăng năm 2015 cho 
kết quả sống thêm không bệnh của nhóm UTV I-IIA là 
95,1% và của nhóm không di căn hạch là 73,3% [12]. 
Theo một nghiên cứu trên 24.740 bệnh nhân UTV của 
chương trình SEER (Surveillance, Epidemiology and 
End Results) thuộc Viện Ung thư quốc gia Hoa Kỳ cho 
kết luận 2 trong số các yếu tố tiên lượng quan trọng nhất 
của UTV là kích thước khối u và sự di căn hạch. Theo 
nghiên cứu này thì nếu không có di căn hạch thì tỷ lệ 
sống thêm 5 năm đạt 99%, và tỷ lệ này giảm xuống còn 
81% đối với các BN có di căn hạch (tỷ lệ này tính chung 
cho các giai đoạn I - III và không phân biệt tình trạng 
nội tiết và Her2) [13].
V. KẾT LUẬN
Tỷ suất mắc mới ung thư vú chuẩn theo tuổi tại Hà 
Nội giai đoạn 2014-2016 là 29,4/100.000 nữ. Tỷ suất mắc 
chuẩn theo tuổi ở nội thành (38,9/100.000 nữ) cao hơn 
ngoại thành (21,7/100.000 nữ).
Thời gian sống thêm toàn bộ trung bình là 52,7 ± 0,29 
(tháng). Tỷ lệ sống thêm toàn bộ 2 năm, 3 năm, và ước 
tính cho 5 năm lần lượt là 92,3%; 90,9% và 86,2%. Nhóm 
ung thư vú trẻ tuổi (< 40 tuổi) tỷ lệ sống thêm toàn bộ 3 
năm (90,1%) thấp hơn nhóm tuổi ≥ 40 tuổi (93,4%) với 
p<0,016. Giai đoạn bệnh, kích thước u và tình trạng di căn 
hạch nách là 3 yếu tố ảnh hưởng đến sống thêm toàn bộ 
bệnh nhân ung thư vú.
SỐ 6 (53) - Tháng 11-12/2019
Website: yhoccongdong.vn26
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2019
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bùi Diệu, Nguyễn Bá Đức, Trần Văn Thuấn và CS (2012), Gánh nặng bệnh ung thư và chiến lược phòng chống 
ung thư quốc gia đến năm 2020, Tạp chí Ung thư học Việt Nam. 1-2012, 12.
2. Phạm Xuân Dũng, Đặng Huy Quốc Thịnh, Bùi Đức Tùng và CS (2017), Một số nhận định về tuổi và bệnh ung 
thư tại thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Ung thư học Việt Nam. 1-2017, 25.
3. Tạ Văn Tờ (2004), Nghiên cứu hình thái học, hóa mô miễn dịch và giá trị tiên lượng của chúng trong ung thư 
biểu mô tuyến vú, Luận án tiến sỹ, Trường ĐH Y Hà Nội.
4. Vũ Hồng Thăng (2015), Thời gian sống thêm bệnh nhân ung thư vú có điều trị bổ trợ nội tiết bổ trợ tại Bệnh viện 
K giai đoạn 2006-2012, Tạp chí Nghiên cứu Y học. 93(1), 125 - 134.
5. Trần Văn Thuấn (2005), Đánh giá kết quả điều trị bổ trợ hóa chất phác đồ AC kết hợp với liệu pháp nội tiết trên 
bệnh nhân ung thư vú giai đoạn II-III có thụ thể oestrogen dương tính, Luận án tiến sỹ, Trường ĐH Y Hà Nội.
6. International Agency for Research on Cancer World Health Organization (2018), GLOBOCAN 2018: Estimated 
Cancer Incidence, Mortality and Prevalence Worldwide in 2018. Breast Cancer, truy cập ngày 20/11/2018-2018, tại 
trang web 
7. Rezhake R., Xu X. Q., Montigny S. et al (2018), Training Future Leaders: Experience from China-ASEAN 
Cancer Control Training Program, J Cancer Educ.
8. Underwood J. M., Lakhani N., Finifrock D. et al (2015), Evidence-Based Cancer Survivorship Activities for 
Comprehensive Cancer Control, Am J Prev Med. 49(6 Suppl 5), S536-42.
9. White M. C., Babcock F., Hayes N. S. et al (2017), The history and use of cancer registry data by public health 
cancer control programs in the United States, Cancer. 123 Suppl 24, 4969-4976.
10. Trieu P. D., Mello-Thoms C. andBrennan P. C. (2015), Female breast cancer in Vietnam: a comparison across 
Asian specific regions, Cancer Biol Med. 12(3), 238-45.
11. Bray F., Ferlay J., Laversanne M. et al (2015), Cancer Incidence in Five Continents: Inclusion criteria, highlights 
from Volume X and the global status of cancer registration, Int J Cancer. 137(9), 2060-71.
12. WA Woodward, EA Strom, SL Tucker et al (2003), Changes in the 2003 American Joint Committee on Cancer 
staging for breast cancer dramatically affect stage-specific survival., Journal Clinical of Oncology. 21(17), 3244-3248.
13. Rack Brigitte, Janni Wolfgang, Gerber Bernd et al (2003), Patients with Recurrent Breast Cancer: Does the 
Primary Axillary Lymph node Status Predict more Aggressive Tumor Progression?, Breast Cancer Research and 
Treatment. 82(3), 83-92.13. 

File đính kèm:

  • pdfty_suat_mac_moi_ung_thu_vu_va_thoi_gian_song_them_o_phu_nu_t.pdf