Tỷ lệ stress, lo âu, trầm cảm của học sinh trường THPT chuyên vị thanh tỉnh Hậu Giang và các yếu tố liên quan

Đặt vấn đề: Stress, lo âu, trầm cảm là những vấn đề sức khỏe tâm thần thường gặp trong cuộc sống. Các

nghiên cứu trước đây tại Việt Nam và trên thế giới cho thấy tình trạng các rối loạn này ở học sinh đang ở mức

khá cao. Việc xác định tình trạng các rối loạn sức khỏe tâm thần phổ biến hiện nay của học sinh trường trung học

phổ thông (THPT) chuyên Vị Thanh là hết sức cần thiết, để trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp dự phòng phù

hợp nhất. Xác định tỷ lệ stress, lo âu, trầm cảm và các yếu tố liên quan của học sinh trường THPT chuyên Vị

Thanh tỉnh Hậu Giang.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện từ tháng 09/2019 đến

tháng 07/2020 trên 718 học sinh trường THPT chuyên Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang có mặt tại thời điểm nghiên

cứu. Học sinh hoàn thành bộ câu hỏi tự điền và thang đo DASS-21 để xác định tình trạng các rối loạn stress, lo

âu, trầm cảm.

pdf 7 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Tỷ lệ stress, lo âu, trầm cảm của học sinh trường THPT chuyên vị thanh tỉnh Hậu Giang và các yếu tố liên quan", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Tỷ lệ stress, lo âu, trầm cảm của học sinh trường THPT chuyên vị thanh tỉnh Hậu Giang và các yếu tố liên quan

Tỷ lệ stress, lo âu, trầm cảm của học sinh trường THPT chuyên vị thanh tỉnh Hậu Giang và các yếu tố liên quan
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 161 
TỶ LỆ STRESS, LO ÂU, TRẦM CẢM 
CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THPT CHUYÊN VỊ THANH TỈNH HẬU GIANG 
VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN 
Danh Thành Tín1, Lê Minh Thuận1, Huỳnh Ngọc Thanh1 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Stress, lo âu, trầm cảm là những vấn đề sức khỏe tâm thần thường gặp trong cuộc sống. Các 
nghiên cứu trước đây tại Việt Nam và trên thế giới cho thấy tình trạng các rối loạn này ở học sinh đang ở mức 
khá cao. Việc xác định tình trạng các rối loạn sức khỏe tâm thần phổ biến hiện nay của học sinh trường trung học 
phổ thông (THPT) chuyên Vị Thanh là hết sức cần thiết, để trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp dự phòng phù 
hợp nhất. Xác định tỷ lệ stress, lo âu, trầm cảm và các yếu tố liên quan của học sinh trường THPT chuyên Vị 
Thanh tỉnh Hậu Giang. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện từ tháng 09/2019 đến 
tháng 07/2020 trên 718 học sinh trường THPT chuyên Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang có mặt tại thời điểm nghiên 
cứu. Học sinh hoàn thành bộ câu hỏi tự điền và thang đo DASS-21 để xác định tình trạng các rối loạn stress, lo 
âu, trầm cảm. 
Kết quả: Trong 718 học sinh tham gia nghiên cứu, kết quả cho thấy tỷ lệ các rối loạn stress, lo âu, trầm cảm 
lần lượt là: 52,1%; 63,8%; 42,1%. Tỷ lệ mắc một tình trạng là 24%, hai tình trạng là 26% và mắc cả ba tình 
trạng là 27,3%. Stress có liên quan với những học sinh có tôn giáo, khối lớp 12, học sinh thường xuyên chịu áp 
lực bản thân, áp lực trước mỗi kỳ thi và có mâu thuẫn với gia đình (p <0,05). Tỷ lệ lo âu cao ở nhóm học sinh 
thường xuyên gặp áp lực bản thân, áp lực trước mỗi kỳ thi, có mâu thuẫn với gia đình; trong khi đó, học sinh có 
vận động thể lực trên 4 lần/tuần giảm tỷ lệ lo âu (p <0,05). Tỷ lệ trầm cảm là cao hơn ở những học sinh cảm thấy 
thua kém bạn bè; ngược lại, những học sinh có mối quan hệ tốt với giáo viên có tỷ lệ trầm cảm thấp hơn so với học 
sinh có mối quan hệ với giáo viên ở mức bình thường (p <0,05). 
Kết luận: Tỷ lệ các rối loạn stress, lo âu, trầm cảm của học sinh trường THPT chuyên Vị Thanh khá cao. Để 
các giải pháp thực hiện có hiệu quả cần có sự phối hợp từ tất cả mọi phía: từ học sinh, gia đình đến nhà trường và 
các nhà nghiên cứu. 
Từ khoá: lo âu, trầm cảm, học sinh, DASS-21, Hậu Giang 
ABSTRACT 
STRESS, ANXIETY, DEPRESSION, AND RELATED FACTORS AMONG STUDENTS 
AT VI THANH HIGH SCHOOL FOR THE GIFTED IN HAU GIANG PROVINCE 
Danh Thanh Tin, Le Minh Thuan, Huynh Ngoc Thanh 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No. 2 - 2021: 161 - 167 
Background: Stress, anxiety, depression are common mental illnesses in life. Some previous researches in 
Vietnam and around the world showed that those disorders among students are relatively high. Therefore, it is 
essential to determine all students' mental health status at Vi Thanh high school for the gifted. Based on that, we 
can offer the most suitable backup solutions. To determine the prevalence of stress, anxiety, depression, and related 
factors among students at Vi Thanh high school for the gifted in Hau Giang province. 
Methods: A cross-sectional study, was conducted from September 2019 to July 2020 on 718 students of Vi 
1 Khoa Y tế Công cộng – Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
Tác gải liên lạc: BS. Huỳnh Ngọc Thanh ĐT: 0932548322 Email: [email protected] 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 162 
Thanh High School, Hau Giang province, who were presented at the time of the study. All students needed to 
complete a set of structured questions, then using the DASS-21 scale to define the level of those disorders. 
Results: Among 718 students took part in this research, the outcome illustrated that the percentage of 
students suffering from stress, anxiety, and depression were 52.1%, 63.8%, 42.1%, respectively. The rate of 
getting one of those conditions was 24%, getting two of those conditions was 26%, and getting all states was 
27.3%. Stress was associated with students who had religion, were grade 12, students who often subjected with 
self-pressure, felt pressure before examinations and had contradict their families (p <0.05). Anxiety rates were 
higher in students who frequently had self-pressure, pressure before examinations, contradict their families, while 
students who did physical exercised more than four times a week had lower anxiety rate (p <0.05). Depression 
rates were higher in students who felt inferior to their peers and students who had good relationships with 
teachers had lower rates of depression than students with normal relationships (p <0.05). 
Conclusions: For these methods to implement effectively, it requires coordination from many sides: 
students, families to schools, and even researchers. 
Keywords: stress, anxiety, depression, DASS-21, Hau Giang 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Stress, lo âu, trầm cảm là những rối loạn sức 
khoẻ tâm thần phổ biến thường gặp. Theo Tổ 
chức Y tế Thế giới (WHO), trên thế giới có 10 - 
20% trẻ em và thanh thiếu niên bị rối loạn tâm 
thần phổ biến liên quan đến stress, lo âu, trầm 
cảm; chiếm 16% gánh nặng bệnh tật và thương 
tật trên toàn thế giới ở độ tuổi 10 - 19 tuổi. Do đó 
vấn đề này đã và đang nhận được sự quan tâm 
nhiều hơn của các nhà khoa học trên khắp thế 
giới. Theo báo cáo của Quỹ Nhi Đồng Liên Hiệp 
Quốc (UNICEF) khoảng 8 - 29% trẻ em đang 
trong độ tuổi vị thành niên ở Việt Nam có vấn 
đề về sức khỏe tâm thần(1). Qua khảo sát tại một 
số thành phố lớn đều cho thấy tỷ lệ học sinh 
trung học phổ thông mắc các rối loạn khá cao: tỷ 
lệ học sinh mắc trầm cảm tại TP. Hà Nội là 20%(2) 
và tỷ lệ stress là 62,7%(3); tại TP. Đà Nẵng có đến 
71,9% học sinh mắc rối loạn stress(4); tại TP. Hồ 
Chí Minh tỷ lệ các rối loạn stress, trầm cảm và lo 
âu lần lượt là 36,1%, 39,8% và 59,8%(5). Điều này 
làm tăng các hành vi nguy cơ như: lạm dụng 
chất, bao gồm sử dụng ma túy, uống rượu và 
hút thuốc, cũng có thể là nguyên nhân hoặc yếu 
tố nguy cơ dẫn đến bệnh tâm thần và căng thẳng 
tâm lý xã hội(1). Chính vì thế nghiên cứu này 
được thực hiện để xác định tỷ lệ các rối loạn 
stress, lo âu, trầm cảm của học sinh trường 
THPT chuyên Vị Thanh tỉnh Hậu Giang và mối 
liên quan giữa các rối loạn này với các yếu tố: 
đặc tính mẫu, yếu tố học tập, yếu tố lối sống và 
yếu tố tâm lý. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Thực hiện trên 718 học sinh trường THPT 
chuyên Vị Thanh tỉnh Hậu Giang, thời gian từ 
tháng 09/2019 đến tháng 07/2020. 
Tiêu chí chọn mẫu 
Chọn vào tất cả học sinh có mặt tại thời điểm 
nghiên cứu và đồng ý tham gia. Những học sinh 
trả lời không đầy đủ thang đo DASS-21 hoặc trả 
lời thiếu trên 5% số câu trong bộ câu hỏi nghiên 
cứu sẽ bị loại. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu cắt ngang. 
Kỹ thuật chọn mẫu 
Lấy mẫu toàn bộ học sinh trường trung học 
phổ thông (THPT) Vị Thanh. 
Công cụ và phương pháp thu thập số liệu 
Học sinh tự điền vào bộ câu hỏi soạn sẵn có 
cấu trúc bao gồm: 1) Đặc tính mẫu (7 câu); yếu tố 
học tập (7 câu); yếu tố lối sống (6 câu); yếu tố 
tâm lý (11 câu), 2) Thang đo DASS-21 (21 câu). 
Trong đó, thang đo DASS-21 là bộ công cụ tích 
hợp đánh giá được cả 3 rối loạn tâm thần phổ 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 163 
biến stress – lo âu – trầm cảm, của nhóm các nhà 
nghiên cứu tâm lí, khoa Tâm lý của Đại học New 
South Wales (Úc) phát triển và rút gọn từ thang 
đo DASS-42. DASS-21 có 21 câu hỏi chia làm 3 
phần, mỗi phần gồm 07 câu hỏi để đánh giá 3 
vấn đề sức khoẻ stress, lo âu, trầm cảm. Mỗi câu 
hỏi sử dụng 4 thang đo Liker để chỉ ra mức độ 
từng triệu chứng được mô tả mà họ đã trải qua 
trong tuần trước đó với 0 (không đúng với tôi 
chút nào cả) cho đến 3 (Hoàn toàn đúng với tôi, 
hoặc hầu hết thời gian là đúng). Tổng điểm kết 
quả của mỗi nhóm sẽ được nhân 2 và dùng 
chung bảng đánh giá mức độ của DASS-42 (6). 
Thang đo DASS-21 có sự thống nhất nội bộ cao 
trong từng mục cũng như tổng thể, cụ thể điểm 
số Cronbach’s alpha cho từng phần trầm cảm, lo 
âu, stress, lần lượt là 0,83; 0,80; 0,82 và tổng điểm 
cho cả thang đo DASS-21 là 0,92(7). 
Định nghĩa biến số chính 
Stress: là biến số nhị giá theo thang đo 
DASS-21, có stress khi điểm stress ≥15. 
Lo âu: là biến số nhị giá theo thang đo DASS-
21, có stress khi điểm stress ≥8. 
Trầm cảm: là biến số nhị giá theo thang đo 
DASS-21, có stress khi điểm stress ≥10. 
Bảng 1: Phân loại mức độ các rối loạn stress, lo âu, 
trầm cảm theo thang đánh giá DASS-21(8) 
Mức độ Nhẹ Vừa Nặng Rất nặng 
Điểm stress 15-18 19-25 26-33 ≥34 
Điểm lo âu 8-9 10-14 15-19 ≥20 
Điểm trầm cảm 10-13 14-20 21-27 ≥28 
Kiểm soát sai lệch 
Lấy mẫu theo đúng tiêu chí chọn mẫu. Thiết 
kế bộ câu hỏi theo đúng mục tiêu nghiên cứu, 
ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, dễ trả lời. Sử dụng 
thang đo DASS-21 đã được đánh giá cao về giá 
trị và độ tin cậy trên đối tượng học sinh trung 
học phổ thông tại Việt Nam. 
Phân tích và xử lý số liệu 
Dùng phần mềm Epidata 3.1 để nhập liệu 
Phân tích dữ kiện thống kê bằng phần mềm 
Stata 14 và phần mềm R 4.0.2. Tần số và tỷ lệ 
phần trăm được dùng để mô tả biến định tính. 
Kiểm định Chi bình phương dùng để xét mối 
liên quan giữa tỷ lệ tress, lo âu, trầm cảm với 
các yếu tố khác. Những biến số có giá trị p <0,2 
trong phân tích đơn biến sẽ được đưa vào mô 
hình tiên lượng BMA để tìm ra mô hình tối ưu 
nhất, sau khi xác định được mô hình tối ưu 
nhất sẽ được chọn để tiếp tục kiểm định bằng 
mô hình hồi quy đa biến với tùy chọn Robust. 
Y đức 
Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội 
đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại 
học Y Dược TP. HCM số 188/HĐĐĐ, ngày 
6/3/2020. 
KẾT QUẢ 
Trong tổng số 718 sinh viên đưa vào phân 
tích, các khối lớp phân bố đồng đều từ lớp 10 
đến lớp 12. Đa số là nữ giới (57,2%), thuộc dân 
tộc Kinh (93,7%), không theo tôn giáo (87,2%) và 
có học lực khá (63,4%). Đối với vận động thể lực, 
có hơn 70% học sinh dành thời gian vận động ít 
nhất 1 lần/tuần. Về áp lực của học sinh, gần một 
nửa số học sinh thỉnh thoảng tự gây áp lực cho 
bản thân. Hơn 1/2 số học sinh thường xuyên cảm 
thấy áp lực trước mỗi kỳ thi và 78% số học sinh 
cảm thấy thua kém bạn bè. Về các mối quan hệ, 
chỉ có 3,4% số học sinh có mối quan hệ không tốt 
với giáo viên và 18,3% học sinh có mâu thuẫn 
với gia đình (Bảng 2). 
Bảng 2: Phân bố các đặc tính và một số yếu tố liên 
quan đến đối tượng nghiên cứu (n=718) 
Đặc điểm Tần số Tỷ lệ % 
Khối lớp 
Lớp 10 231 32,2 
Lớp 11 264 36,8 
Lớp 12 223 31,0 
Giới tính 
Nam 307 42,8 
Nữ 411 57,2 
Dân tộc 
Kinh 673 93,7 
Khác: Hoa, Khmer, Chăm 45 6,3 
Tôn giáo 
Có 92 12,8 
Không 626 87,2 
Học lực 
Giỏi 238 33,1 
Khá 455 63,4 
Trung bình 25 3,5 
Thời gian vận 
động thể lực 
0 lần / tuần 200 27,9 
1 đến 3 lần / tuần 328 45,7 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 164 
Đặc điểm Tần số Tỷ lệ % 
≥ 4 lần / tuần 190 26,4 
Áp lực bản 
thân 
Thường xuyên 203 28,3 
Thỉnh thoảng 345 48,1 
Hiếm khi 107 14,9 
Không bao giờ 63 8,7 
Áp lực trước 
mỗi kỳ thi 
Thường xuyên 378 52,7 
Thỉnh thoảng 264 36,8 
Hiếm khi 54 7,5 
Không bao giờ 22 3,0 
Thua kém bạn 
bè 
Có 560 78,0 
Không 158 22,0 
Mối quan hệ 
với giáo viên 
Tốt 133 18,5 
Bình thường 561 78,1 
Không tốt 24 3,4 
Mâu thuẫn với 
gia đình 
Có 131 18,3 
Không 578 81,7 
Bảng 3: Tỷ lệ các rối loạn stress, lo âu, trầm cảm theo 
thang đánh giá DASS-21 (n=718) 
Rối loạn 
Stress 
(≥15 điểm) 
Lo âu 
(≥8 điểm) 
Trầm cảm 
(≥10 điểm) 
Có rối loạn 
n % n % n % 
374 52,1 458 63,8 302 42,1 
Mức 
độ 
Nhẹ 143 19,9 77 10,7 128 17,8 
Vừa 168 23,4 224 31,2 146 20,3 
Nặng 60 8,4 81 11,3 21 2,9 
Rất 
nặng 
3 0,4 76 10,6 7 1,1 
Qua Bảng 3 cho thấy tỷ lệ stress là 52,1%, tỷ 
lệ lo âu 63,8% và tỷ lệ trầm cảm là 42,1%. Trong 
đó, mức độ vừa của cả ba rối loạn khá cao dao 
động từ 20,3% đến 31,2%. Tỷ lệ mức độ rất nặng 
của rối loạn stress và trầm cảm thấp nhất là 0,4% 
và 1,1%. Trong khi, mức độ rất nặng của rối loạn 
lo âu khá cao là 10,6% 
Qua Bảng 4 cho thấy có 27,3% có đồng thời 
cả 3 rối loạn bao gồm stress, lo âu, trầm cảm. Số 
học sinh có 2 rối loạn chiếm 26%. Tỷ lệ có 1 rối 
loạn chiếm 24% và thấp nhất là 22,7% học sinh 
không có bất kỳ rối loạn nào. 
Bảng 4: Tỷ lệ các dạng rối loạn kết hợp (n=718) 
Tình trạng Tần số % 
Không có rối loạn 163 22,7 
Có 1 rối loạn 172 24,0 
Có 2 rối loạn 187 26,0 
Có 3 rối loạn 196 27,3 
Tổng 718 100,0 
Những biến số có giá trị p <0,2 trong phân 
tích đơn biến sẽ được đưa vào mô hình tiên 
lượng BMA để tìm ra mô hình tối ưu nhất, sau 
khi xác định được mô hình tối ưu nhất sẽ được 
chọn để tiếp tục kiểm định bằng mô hình hồi 
quy đa biến với tùy chọn Robust có kết quả như 
Bảng 5, 6, 7. 
Bảng 5: Mối liên quan đa biến giữa trầm cảm và các 
yếu tố (n=718) 
Các yếu tố p PR (KTC 95%) 
Thua kém bạn 
bè 
Có 
Không 
0,003 
1,46 (1,13 – 1,88) 
1 
Mối quan hệ 
với giáo viên 
Tốt 
Bình thường 
Không tốt 
0,009 
0,327 
0,69 (0,53 – 0,91) 
1 
1,20 (0,83 – 1,74) 
Những học sinh cảm thấy thua kém bạn bè 
có tỷ lệ trầm cảm cao gấp 1,46 (p=0,003). So với 
những học sinh có mối quan hệ bình thường với 
giáo viên thì những học sinh có mối quan hệ tốt 
có tỷ lệ trầm cảm giảm đi 31% (p=0,003) (Bảng 5). 
Bảng 6: Mối liên quan đa biến giữa lo âu và các yếu tố (n=718) 
Các yếu tố p PR (KTC 95%) 
Thời gian vận động thể lực 
0 lần / tuần 
1 đến 3 lần / tuần 
≥ 4 lần / tuần 
0,666 
0,014 
1 
0,97 (0,87 – 1,10) 
0,82 (0,71 – 0,96) 
Áp lực bản thân 
Thường xuyên 
Thỉnh thoảng 
Hiếm khi 
Không bao giờ 
0,063 
0,012 
0,013 
1 
0,90 (0,80 – 1,01) 
0,77 (0,62 – 0,94) 
0,71 (0,54 – 0,93) 
Áp lực trước mỗi kỳ thi 
Thường xuyên 
Thỉnh thoảng 
Hiếm khi 
Không bao giờ 
<0,001 
0,049 
0,326 
1 
0,77 (0,68 – 0,88) 
0,75 (0,56 – 0,99) 
0,82 (0,55 – 1,22) 
Mâu thuẫn với gia đình 
Có 
Không 
0,005 
1,18 (1,05 – 1,33) 
1 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 165 
Bảng 7: Mối liên quan đa biến giữa stress và các yếu tố (n =718) 
Các yếu tố p PR (KTC 95%) 
Tôn giáo 
Có 
Không 
0,003 
1,29 (1,09 – 1,52) 
1 
Khối lớp 
Lớp 10 
Lớp 11 
Lớp 12 
0,893 
0,008 
1 
1,01 (0,85 – 1,20) 
1,25 (1,06 – 1,48) 
Áp lực bản thân 
Thường xuyên 
Thỉnh thoảng 
Hiếm khi 
Không bao giờ 
0,290 
0,029 
0,007 
1 
0,93 (0,81 – 1,07) 
0,74 (0,56 – 0,97) 
0,61 (0,43 – 0,88) 
Áp lực trước mỗi kỳ thi 
Thường xuyên 
Thỉnh thoảng 
Hiếm khi 
Không bao giờ 
<0,001 
<0,001 
0,954 
1 
0,67 (0,57 – 0,80) 
0,40 (0,24 – 0,66) 
0,99 (0,65 – 1,50) 
Mối quan hệ với giáo viên 
Tốt 
Bình thường 
Không tốt 
0,019 
0,011 
0,79 (0,64 – 0,96) 
1 
1,29 (1,06 – 1,57) 
So với học sinh không vận động thể lực thì 
những học sinh có vận động thể lực trên 4 lần 
trong tuần có tỷ lệ lo âu giảm đi 20%. Những học 
sinh hiếm khi tự gây áp lực có tỷ lệ lo âu giảm đi 
23% (p=0,012) và những học sinh không bao giờ 
tự gây áp lực có tỷ lệ lo âu giảm đi 29% 
(p=0,013). So với những học sinh thường xuyên 
cảm thấy áp lực trước mỗi kỳ thi thì những học 
sinh thỉnh thoảng cảm thấy áp lực có tỷ lệ lo âu 
giảm 23% (p <0,001) và những học sinh hiếm khi 
thấy áp lực trước mỗi kỳ thi có tỷ lệ lo âu giảm 
đi 25% (p=0,049). Những học sinh có mâu thuẫn 
với gia đình có tỷ lệ lo âu cao gấp 1,18 lần học 
sinh không có mâu thuẫn (Bảng 6). 
Theo Bảng 7, những học sinh có tôn giáo có 
tỷ lệ stress cao gấp 1,29 lần so với những học 
sinh không có tôn giáo. So với khối lớp 10 thì học 
sinh khối lớp 12 có tỷ lệ stress cao gấp 1,25 lần. 
Những học sinh hiếm khi tự gây áp lực có tỷ lệ 
stress giảm đi 26% và những học sinh không bao 
giờ tự gây áp lực có tỷ lệ stress giảm đi 39%. 
Những học sinh thỉnh thoảng hoặc hiếm cảm 
thấy áp lực trước mỗi kỳ thi có tỷ lệ stress giảm 
lần lượt là 33% và 60%. So với những học sinh có 
mối quan hệ bình thường với giáo viên thì 
những học sinh có mối quan hệ tốt có tỷ lệ stress 
giảm đi 21% và ngược lại những học sinh có mối 
quan hệ không tốt với giáo viên có tỷ lệ stress 
cao gấp 1,29 lần. 
BÀN LUẬN 
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ học sinh 
có stress là 52,1%, lo âu là 63,8% và trầm cảm là 
42,1%. Tỷ lệ này có phần cao hơn nghiên cứu của 
tác giả Thái Thanh Trúc khảo sát trên đối tượng 
học sinh THPT trên địa bàn TP. HCM năm 
2018(5), và nghiên cứu của tác giả Lê Trần Tuấn 
Anh thực hiện tại một trường THPT ở tỉnh 
Hưng Yên năm 2017(9), trên thang đo DASS-21. 
Có sự khác biệt này do địa điểm thực hiện 
nghiên cứu này là trường chuyên của tỉnh, môi 
trường học tập ở trường chuyên có phần áp lực 
hơn từ chuẩn đầu vào đến đầu ra để đảm bảo 
chất lượng luôn đứng đầu tỉnh; ngoài ra nghiên 
cứu thực hiện trong mùa dịch COVID-19 nên có 
thể ảnh hưởng đến kết quả. Tuy nhiên, so với 
nghiên cứu của tác giả Võ Văn Thương thực 
hiện trên đối tượng học sinh lớp 12 tại một 
trường THPT ở TP. HCM năm 2016 thì có phần 
tương đồng do môi trường học tập ở TP.HCM 
khá áp lực, không những thế đối tượng còn là 
học sinh năm cuối cấp và khảo sát thực hiện vào 
mùa thi nên tỷ lệ các rối loạn khá cao. 
Kết quả phân tích mối liên quan cho thấy 
học sinh có tôn giáo có tỷ lệ stress cao gấp 1,29 
lần so với những học sinh không có (p=0,003). 
Ngoài ra, học sinh khối lớp 12 có tỷ lệ stress cao 
gấp 1,25 lần so với khối lớp 10 (p=0,008), kết quả 
này tương đồng với nghiên cứu của tác giả 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 166 
Nguyễn Thị Phương Thảo(10), vì khối lượng bài 
vở, kiến thức khối lớp 12 rất lớn và hơn nữa do 
ảnh hưởng của dịch bệnh làm thay đổi thời gian 
thi THPT quốc gia điều này dễ gây stress cho các 
em lớp 12 hơn lớp 10. Nghiên cứu cũng tìm thấy 
mối liên quan giữa lo âu và thời gian vận động 
thể lực của học sinh, so với học sinh không vận 
động thể lực thì những học sinh vận động thể 
lực trên 4 lần trong tuần có tỷ lệ lo âu giảm đi 
20% (p=0,014), việc tham gia hoạt động thể chất 
có thể hỗ trợ sự phát triển về mặt xã hội của 
những người trẻ tuổi bằng cách tạo cơ hội thể 
hiện bản thân, xây dựng sự tự tin, tương tác và 
hòa nhập xã hội, giải toả những căng thẳng, tác 
động tích cực đến sức khoẻ tâm thần. Điều này 
tương đồng với kết quả nghiên cứu của tác giả 
Ngô Thị Thu Hà(11). 
Kết quả nghiên cứu cho thấy, so với những 
học sinh thường xuyên tự gây áp lực bản thân 
thì những học sinh hiếm khi tự gây áp lực có tỷ 
lệ stress giảm 26% (p=0,029); tỷ lệ lo âu giảm 23% 
(p=0,012) và những học sinh không bao giờ tự 
gây áp lực có tỷ lệ stress giảm 39% (p=0,007); tỷ 
lệ lo âu giảm 29% (p=0,013). Kết quả này tương 
đồng với nghiên cứu của tác giả Ngô Thị Thu Hà 
và tác giả Lê Đức Anh(12). Cùng với đó, khi so với 
những học sinh thường xuyên cảm thấy áp lực 
trước mỗi kỳ thi thì những học sinh thỉnh thoảng 
cảm thấy áp lực có tỷ lệ stress giảm 33% 
(p <0,001); tỷ lệ lo âu giảm 23% (p <0,001) và 
những học sinh hiếm khi thấy áp lực trước mỗi 
kỳ thi có tỷ lệ stress giảm 60% (p <0,001); tỷ lệ lo 
âu giảm 25% (p=0,049). Môi trường học tập, gia 
đình và xã hội đã tạo nhiều áp lực cho các em, vì 
thế để hoàn thành những chỉ tiêu, mục tiêu được 
đặt ra thì các em đã tự tạo áp lực cho bản thân, 
điều đó vô tình làm cho các em càng thêm căng 
thẳng và lo lắng hơn. Áp lực này có thể do các 
em học sinh tự đặt ra cho bản thân hoặc cũng có 
thể từ gia đình và thành tích mà nhà trường 
mong muốn các em phải thực hiện được, điều 
này khiến các em càng cảm thấy nặng nề hơn 
trong thi cử. 
Ngoài những áp lực từ môi trường học tập 
thì những mối quan hệ của học sinh trong nhà 
trường cũng góp phần ảnh hưởng đến các rối 
loạn sức khoẻ tâm thần của các em. So với 
những học sinh có mối quan hệ bình thường với 
giáo viên thì những học sinh có mối quan hệ tốt 
có tỷ lệ stress giảm 21% (p=0,019); tỷ lệ trầm cảm 
giảm 31% (p=0,003) và ngược lại những học sinh 
có mối quan hệ không tốt với giáo viên có tỷ lệ 
stress cao gấp 1,29 lần (p=0,011), tương đồng với 
nghiên cứu của tác giả Lê Đức Anh(12) và nghiên 
cứu của tác giả Phan Thị Ngọc Thuỳ(13). So với 
những học sinh không thấy thua kém bạn bè thì 
những học sinh có cảm thấy thua kém bạn bè có 
tỷ lệ trầm cảm cao gấp 1,46 lần (p=0,003), việc 
cảm thấy thua kém bạn bè về học tập có thể tạo 
động lực để các em phấn đấu vươn lên, nhưng 
cũng có thể gây ra tâm lý không thoải mái, luôn 
ganh đua, đố kỵ và cảm thấy áp lực hơn, nếu 
việc này xuất hiện trong khoảng thời dài sẽ ảnh 
hưởng đến tâm lý của các em. 
Nghiên cứu này cũng cho thấy lo âu có mối 
liên quan với mâu thuẫn gia đình: so với những 
học sinh không có mâu thuẫn với gia đình thì 
những học sinh có mâu thuẫn với gia đình có tỷ 
lệ lo âu cao gấp 1,18 lần (p=0,005), điều này 
tương đồng với nghiên cứu của tác giả Ngô Thị 
Thu Hà(11) và tác giả Lê Trần Tuấn Anh(12). Trong 
độ tuổi này tâm lý các em đã ổn định hơn tuy 
nhiên vẫn có xu hướng muốn tách rời gia đình, 
cha mẹ, và có những quan điểm riêng của cá 
nhân nên dễ dẫn đến mâu thuẫn, nhưng thực tế 
các em lại rất cần sự chia sẻ, sẵn sàng lắng nghe, 
tâm sự, cảm thông và yêu thương của cha mẹ, vì 
thế cha mẹ nên là chỗ dựa tinh thần, trở thành 
người bạn lớn của con. 
KẾT LUẬN 
Tỷ lệ các rối loạn stress, lo âu, trầm cảm khá 
cao nên cần tổ chức tư vấn tâm lý, khám sàng lọc 
để phát hiện kịp thời và được điều trị bởi các 
chuyên gia, đặc biệt các nhóm có rối loạn ở mức 
nặng trở lên hoặc có từ 2 rối loạn kết hợp. Đồng 
thời phát huy tối đa hiệu quả của phòng tư vấn 
tâm lý tại nhà trường và phối hợp với gia đình 
nhằm theo dõi sức khoẻ tâm thần của các em để 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 167 
kịp thời phát hiện những học sinh có vấn đề về 
tâm lý và có hướng tư vấn. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (2018). Sức khỏe tâm thần và 
tâm lý xã hội của trẻ em và thanh niên tại một số tỉnh và thành 
phố ở Việt Nam. UNICEF, pp.25-113. 
2. Trần Thị Mỵ Lương, Phan Diệu Mai (2019). Thực trạng trầm 
cảm ở học sinh trung học phổ thông: nghiên cứu trên địa bàn 
tỉnh Ninh Bình và thành phố Hà Nội. Giáo Dục, 166:146-150. 
3. Nguyễn Thị Phương Thảo, Nguyễn Thị Thi Thơ, Nguyễn Thái 
Quỳnh Chi, Nguyễn Nhật Cảm, Nguyễn Tùng Lâm (2018). 
Thực trạng stress của học sinh trường trung học phổ thông Đinh 
Tiên Hoàng, Ba Đình, Hà Nội năm 2018. Y Học Dự Phòng, 
28(4):20-28. 
4. Nguyễn Thị Hằng Phương, Đinh Xuân Lâm (2019). Thực trạng 
mức độ căng thẳng trong học tập của học sinh lớp 12 trên địa 
bàn thành phố Đà Nẵng. Giáo Dục, 2:121-127. 
5. Thai TT, Vu TLLN, Bui THH (2020). Mental Health Literacy and 
Help-Seeking Preferences in High School Students in Ho Chi 
Minh City, Vietnam. School Mental Health, 12(2):378-387. 
6. University of New South Wales (2018), Overview of the DASS 
and its uses. URL: 
7. Wang K, Shi HS, Geng FL, Zou LQ, Tan SP, Wang Y, Neumann 
DL, Shum DHK, Chan RCK (2016). Cross-cultural validation of 
the Depression Anxiety Stress Scale–21 in China. Psychological 
Assessment, 28(5):88–100. 
8. Viện sức khỏe tâm thần, Thang đánh giá Lo âu - Trầm cảm - 
Stress (DASS 21). URL: 
au-tram-cam-stress-dass-21/. 
9. Lê Trần Tuấn Anh, Nguyễn Thanh Hải, Nguyễn Quang Đức, 
Phạm Thu Xanh (2017). Thực trạng stress, lo âu, trầm cảm và 
một số yếu tố liên quan ở học sinh THPT Phù Cừ - huyện Phù 
Cừ - tỉnh Hưng Yên năm học 2016-2017. Y Học Dự Phòng, 
27(10):76-82. 
10. Nguyễn Thị Phương Thảo, Nguyễn Thị Thi Thơ, Nguyễn Thái 
Quỳnh Chi, Nguyễn Nhật Cảm, Nguyễn Tùng Lâm (2018). 
Thực trạng stress của học sinh trường trung học phổ thông Đinh 
Tiên Hoàng, Ba Đình, Hà Nội năm 2018. Y Học Dự Phòng, 
28(4):20-28. 
11. Ngô Thị Thu Hà (2015). Tỷ lệ lo âu và các yếu tố liên quan ở học 
sinh lớp 12 trường trung học phổ thông Nguyễn Du, huyện 
Châu Đức, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, năm 2015. Khóa luận tốt nghiệp 
Cử nhân Y tế Công cộng, Đại học Y Dược TP. HCM. 
12. Lê Đức Anh (2019). Tỷ lệ stress và cách phản ứng của học sinh 
THPT chuyên Lương Thế Vinh Đồng Nai, năm 2019. Khóa luận 
tốt nghiệp Bác sĩ Y học Dự phòng, Đại học Y Dược TP. HCM. 
13. Phan Thị Ngọc Thuỳ (2017). Tỷ lệ trầm cảm và các yếu tố liên 
quan theo thang đo DASS-21 của học sinh trường THPT Kiên 
Lương, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang năm 2017. Khóa luận 
Tốt nghiệp Bác sĩ Y học Dự phòng, Đại học Y Dược TP. HCM. 
Ngày nhận bài báo: 16/11/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 01/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021 

File đính kèm:

  • pdfty_le_stress_lo_au_tram_cam_cua_hoc_sinh_truong_thpt_chuyen.pdf