Tỷ lệ nhiễm human papilloma virus ở phụ nữ đến khám tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ nhiễm các typ HPV nguy cơ cao ở phụ nữ

khám bệnh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương.

Đối tượng và Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang đã

được thực hiện trên 1212 phụ nữ khám bệnh có tuổi từ 19-68, Tất cả

được làm xét nghiệm HPV phân tử ở Bệnh viện Phụ sản Trung ương.

Thời gian nghiên cứu từ tháng 8 năm 2015 đến tháng 3 năm 2016. Xét

nghiệm định typ HPV bằng hệ thống Cobas ®-4800 thu được các.

Kết quả: Tuổi trung bình của người phụ nữ khi xét nghiệm là 36,65.

Nhóm tuổi được làm xét nghiệm nhiều nhất là 30-39 với 36,55%. Nhóm

tuổi có tỷ lệ nhiễm HPV cao nhất là từ 30-39 (33,34%). Tỷ lệ nhiễm các

typ HPV nguy cơ cao là 19,55%. Tỷ lệ nhiễm typ 16 là 16,46%, typ 18

là 6,75% và tổng cộng 12 typ nguy cơ cao còn lại là 62,44%. Nhiễm 1

typ HPV chiếm đa số các trường hợp là 86%.

Kết luận: Tỷ lệ nhiễm các typ HPV nguy cơ cao ở những phụ nữ được

khám và làm xét nghiệm tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương là 19,55%.

pdf 4 trang phuongnguyen 200
Bạn đang xem tài liệu "Tỷ lệ nhiễm human papilloma virus ở phụ nữ đến khám tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Tỷ lệ nhiễm human papilloma virus ở phụ nữ đến khám tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Tỷ lệ nhiễm human papilloma virus ở phụ nữ đến khám tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 125 - 128, 2016
125
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Phạm Thị Thanh Yên(1), Lê Quang Vinh(1), Lưu Thị Hồng(2), Nguyễn Khánh Dương(1), Lê Hoàng Linh(1), Đào Duy Quân(1), Nguyễn Đình Quyết(1), Nguyễn Thị Thu Hoài(1), Trần Hải Yến(1)
(1) Bệnh viên Phụ Sản Trung ương, (2) Trường Đại học Y Hà Nội
TỶ LỆ NHIỄM HUMAN PAPILLOMA VIRUS Ở PHỤ NỮ 
ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
Tóm tắt
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ nhiễm các typ HPV nguy cơ cao ở phụ nữ 
khám bệnh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. 
Đối tượng và Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang đã 
được thực hiện trên 1212 phụ nữ khám bệnh có tuổi từ 19-68, Tất cả 
được làm xét nghiệm HPV phân tử ở Bệnh viện Phụ sản Trung ương. 
Thời gian nghiên cứu từ tháng 8 năm 2015 đến tháng 3 năm 2016. Xét 
nghiệm định typ HPV bằng hệ thống Cobas ®-4800 thu được các. 
Kết quả: Tuổi trung bình của người phụ nữ khi xét nghiệm là 36,65. 
Nhóm tuổi được làm xét nghiệm nhiều nhất là 30-39 với 36,55%. Nhóm 
tuổi có tỷ lệ nhiễm HPV cao nhất là từ 30-39 (33,34%). Tỷ lệ nhiễm các 
typ HPV nguy cơ cao là 19,55%. Tỷ lệ nhiễm typ 16 là 16,46%, typ 18 
là 6,75% và tổng cộng 12 typ nguy cơ cao còn lại là 62,44%. Nhiễm 1 
typ HPV chiếm đa số các trường hợp là 86%. 
Kết luận: Tỷ lệ nhiễm các typ HPV nguy cơ cao ở những phụ nữ được 
khám và làm xét nghiệm tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương là 19,55%.
Từ khóa: Vi rút sinh u nhú ở người, ung thư cổ tử cung.
Abstract 
RATE OF WOMEN WITH INFECTED HPV IN 
THE NATIONAL HOSPITAL OF OBSTETRICS AND 
GYNECOLOGY
Objectives: Determining rate of hingh-risk HPV types in female 
examined in the National Hospital of Obstetrics and Gynecology.
Materials and Method: Cross-sectional descriptive research conducted 
on 1212 health women aging from 19-68 age old. The research time 
frame was from August 2015 to March 2016 via HPV-DNA test using 
Cobas ® 4800 system.
Results: The mean age was 36,65, age group tested highestly 
was 30-39 (36,55%), age group with highest infection rate was 30-39 
(33,34%). The rate of HPV infection was 19,55%, HPV infection rate 
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Lê Quang Vinh,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 15/03/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
10/04/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted):20/04/2016
Từ khoá: Vi rút sinh u nhú ở 
người, ung thư cổ tử cung. 
Keywords: Human 
papiloomavirus, cervical cancer.
PHẠM THỊ THANH YÊN, LÊ QUANG VINH, LƯU THỊ HỒNG, NGUYỄN KHÁNH DƯƠNG, LÊ HOÀNG LINH, ĐÀO DUY QUÂN, NGUYỄN ĐÌNH QUYẾT,
NGUYỄN THỊ THU HOÀI, TRẦN HẢI YẾN
126
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
typ HPV nguy cơ cao, trong đó định danh 2 typ riêng 
biệt 16,18 và gộp 12 typ nguy cơ cao (31, 33, 35, 
39, 45, 51, 52, 56, 58, 59, 66 và 68) còn lại bằng 
kỹ thuật PCR trên hệ thống tự động Cobas® 4800 
tại Khoa Giải phẫu bệnh, Bệnh viện Phụ sản Trung 
ương. Bệnh phẩm thừa lại sau khi làm xét nghiệm 
định typ HPV đã được dùng xét nghiệm tế bào học 
theo phương pháp Liquid-Prep. Các trường hợp có kết 
quả tế bào học bất thường và/hoặc HPV test dương 
tính đã được soi cổ tử cung, sinh thiết để chẩn đoán 
mô bệnh học. Các trường hợp có kết quả mô bệnh 
học bất thường được điều trị bằng các phương pháp 
thích hợp tùy thuộc vào mức độ tổn thương.
Xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm SPSS 16.0 để 
tính tỷ lệ nhiễm HPV, tần suất nhiễm các typ và số 
lượng typ một người nhiễm.
3. Kết quả nghiên cứu
Tuổi trung bình của 1212 phụ nữ được xét 
nghiệm HPV là 36,55. Trong đó, phụ nữ có tuổi 
trẻ nhất là 19 tuổi và có tuổi cao nhất là 68 tuổi. 
Nhóm tuổi được xét nghiệm cao nhất là 30-39 tuổi 
chiếm 36,55%, tiếp theo là nhóm tuổi 40-49, <30 
và ≥50 lần lượt là 31,10%, 25,66% và 6,69%.
with typ 16 was 16,46%, with typ 18 was 6,75% and with other 12 high risk types was 62,44%. The 
rate of women infected only one type of HPV was the highest (86%). 
Conclusion: Infected rate of high risk HPV types among woman who were examined and tested at 
the National Hospital of Obstetrics and Gynecology was 19,55%.
Key words: Human papiloomavirus, cervical cancer.
1. Đặt vấn đề
Human papillomavirus (HPV) là nguyên nhân 
chính gây ra ung thư cổ tử cung (UTCTC)[1]. Áp 
dụng xét nghiệm phân tử để xác định các typ HPV 
nguy cơ cao đã phát hiện những phụ nữ nhiễm HPV 
trước khi có sự thay đổi bất thường về tế bào ở cổ 
tử cung. Kết hợp với phương pháp sàng lọc bằng tế 
bào âm đạo làm tăng khả năng phát hiện sớm các 
tổn thương tiền ung thư với độ nhạy tăng từ 70% 
lên 91%, từ đó sẽ làm giảm tỷ lệ ung thư và tử vong 
do ung thư cổ tử cung[2][3][4]. Phương pháp xét 
nghiệm HPV phân tử đã được thực hiện tại Bệnh viện 
Phụ sản Trung ương từ năm 2015 như một phương 
pháp sàng lọc ung thư cổ tử cung. Chúng tôi tiến 
hành nghiên cứu này nhằm mục tiêu: Xác định tỷ lệ 
nhiễm các typ human papillomavirus nguy cơ cao ở 
phụ nữ đến khám tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu:
2.1. Đối tượng nghiên cứu
1212 phụ nữ được khám phụ khoa và làm xét 
nghiệm HPV-DNA trong khoảng thời gian từ tháng 
8 năm 2015 đến tháng 3 năm 2016 tại khoa Giải 
phẫu bệnh Bệnh viện Phụ sản Trung ương.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang
- Tiêu chuẩn lựa chọn: tất cả các phụ nữ trong độ 
tuổi sinh sản có nhu cầu xét nghiệm HPV phân tử.
 - Tiêu chuẩn loại trừ: Đã cắt tử cung hoàn toàn, 
đã cắt cụt cổ tử cung vì những bệnh không liên 
quan đến ung thư cổ tử cung, đang có thai hoặc 
đang hành kinh.
- Quy trình nghiên cứu: Những phụ nữ đủ tiêu 
chuẩn đưa vào nghiên cứu được khám phụ khoa, lấy 
bệnh phẩm ở cổ tử cung bằng bàn chải và được cố 
định ngay trong dung dịch bảo quản. Xác định 14 
Nhóm tuổi
Số lượng <30 30-39 40-49 ≥ 50 Tổng
Phụ nữ 311 443 377 81 1212
Tỷ lệ (%) 25,66 36,55 31,10 6,69 100
Bảng 1. Phân bố theo nhóm tuổi được làm xét nghiệm HPV
Týp HPV
Tuổi 16 18 12 týp khác ≥2 týp Tổng
<30 13 4 40 7 64 (27,00%)
30-39 13 4 50 12 79 (33,34%)
40-49 9 6 50 12 77 (32,49%)
≥ 50 4 2 8 3 17 (7,17%)
Tổng (Phụ nữ) 39 16 148 34 237 (100%)
Bảng 2. Phân bố tỷ lệ nhiễm HPV theo nhóm tuổi
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 125 - 128, 2016
127
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Trên 1212 phụ nữ được làm xét nghiệm HPV-
DNA có 237 trường hợp có kết quả dương tính với 
các typ HPV 16,18 và 12 typ HPV nguy cơ cao 
khác chiếm tỷ lệ 19,55%. Trong đó nhóm tuổi< 30 
tuổi có 64 trường hợp (27,00%), nhóm tuổi 30-39 
có số trường hợp dương tính cao nhất là 79 trường 
hợp (33,34%) tiếp theo là nhóm tuổi 40-49 có 77 
trường hợp (32,49%) và ít nhất là nhóm phụ nữ 
>50 tuổi có 17 trường hợp (7,17%).
Biểu đồ 1 cho thấy 148 trường hợp bị nhiễm 
một trong 12 typ HPV nguy cơ cao chiếm tỷ lệ cao 
nhất là 62,44%, tiếp theo là týp 16 HPV có 39 
trường hợp chiếm 16,46%, bị nhiễm trên 2 týp có 
34 trường hợp chiếm 14,35%, týp 18 ít gặp nhất, 
có 16 trường hợp chiếm 6,75%
Biểu đồ trên cho thấy, đa số các trường hợp chỉ 
nhiễm với 1 trong 14 typ HPV nguy cơ cao chiếm 
tới 86,64%, số trường hợp nhiễm hơn 2 typ HPV 
chỉ 14,36%.
4. Bàn Luận
4.1. Về phân bố đối tượng nghiên cứu 
và tình trạng nhiễm HPV theo nhóm tuổi
Trong nghiên cứu của chúng tôi, các đối tượng 
được xét nghiệm HPV trong khoảng tuổi từ 19 - 68, 
với tuổi trung bình là 36,65, người trẻ tuổi nhất là 
Biểu đồ 1. Phân bố nhiễm các typ HPV
Biểu đồ 2. Phân bố theo số lượng typ HPV bị nhiễm ở một phụ nữ
19, người nhiều tuổi nhất là 68. Nhóm tuổi làm xét 
nghiệm nhiều nhất là 30-39 chiếm 36,55%, tiếp đến 
nhóm tuổi 40-49 chiếm 31,10% và <30 tuổi chiếm 
25,66%, nhóm tuổi làm xét nghiệm ít nhất là ≥50 
chiếm 6,69%. Theo khuyến cáo của Tổ chức y tế thế 
giới xét nghiệm HPV-DNA cho phụ nữ nên bắt đầu từ 
tuổi 30 vì lý do kinh tế và ở tuổi trẻ hơn tỷ lệ nhiễm 
HPV thường cao do quan hệ tình dục nhiều hơn đồng 
thời HPV thường bị đào thải tới 80% trong vòng 2 
năm. Khi phụ nữ >30 tuổi có kết quả xét nghiệm HPV 
dương tính, có nghĩa là khả năng người phụ nữ đó đã 
nhiễm và cơ thể không tự đào thải được HPV. Họ ở 
nhóm người có nguy cơ cao bị tổn thương tiền ung thư 
cổ tử cung. Tổng số phụ nữ được làm xét nghiệm HPV-
DNA là 1212 người, tuổi trung bình là 36,65, nhóm 
tuổi <30 chiếm 25,66%, nhóm 30-39 tuổi là 36,55%, 
Nhóm tuổi 40-49 chiếm 31,10% và nhóm tuổi >50 
tuổi chỉ chiếm 6,69%. Theo kết quả nghiên cứu của Lê 
Quang Vinh và cộng sự đã công bố, ở những nhóm 
tuổi trẻ 60 tuổi thì tỷ lệ 
phát hiện các bất thường biểu mô cổ tử cung là tương 
đối thấp, tỷ lệ có nhiễm HPV chủ yếu tập trung ở nhóm 
tuổi 30 - 39 tuổi (30%) nên xu hướng hiện nay là ưu 
tiên xét nghiệm phát hiện nhiễm HPV bằng kỹ thuật 
sinh học phân tử cho các đối tượng từ 30 - 60 tuổi [5]
[6]. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này vẫn có những 
phụ nữ 60 tuổi làm xét nghiệm vì họ 
đến bệnh viện khám và yêu cầu được làm xét nghiệm. 
Kết quả xét nghiệm HPV trong nghiên cứu này cho 
thấy, người trẻ nhất nhiễm HPV là 20 tuổi, người cao 
tuổi nhất có kết quả xét nghiệm HPV dương tính là 66 
tuổi. Nhóm tuổi có tỷ lệ nhiễm HPV cao nhất là 30-39 
chiếm tới 33,34%, tiếp theo là nhóm 40-49 tuổi chiếm 
32,49% và <30 tuổi chiếm 27,00%, nhóm tuổi có tỷ 
lệ nhiễm HPV thấp nhất là ≥50 chiếm 7,17%. Kết quả 
nghiên cứu của chúng tôi không có sự khác biệt nhiều 
so với kết quả nghiên cứu của Vũ Thị Nhung thực hiện 
ở các phụ nữ sống tại thành phố Hồ Chí Minh năm 
2007. Theo tác giả này, tỷ lệ nhiễm HPV cao nhất ở 
độ tuổi <20 tuổi (20%) và khoảng tuổi 35 - 49 tuổi, 
ở nhóm tuổi > 60 vẫn gặp người nhiễm HPV nhưng 
với tần số thấp[7]. Trong khi kết quả nghiên cứu khác 
được Lê Quang Vinh và cộng sự thực hiện ở 3 tỉnh 
Thái Nguyên, Thừa Thiên Huế và Cần Thơ năm 2011 
trên 3000 phụ nữ tuổi từ 20 - 60 cho thấy các phụ nữ 
ở mọi lứa tuổi từ 20 - 60 đều có nhiễm HPV nhưng tỷ 
lệ nhiễm HPV tập trung cao nhất ở nhóm tuổi 30 - 39 
PHẠM THỊ THANH YÊN, LÊ QUANG VINH, LƯU THỊ HỒNG, NGUYỄN KHÁNH DƯƠNG, LÊ HOÀNG LINH, ĐÀO DUY QUÂN, NGUYỄN ĐÌNH QUYẾT,
NGUYỄN THỊ THU HOÀI, TRẦN HẢI YẾN
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
128
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
chiếm 30%, nhóm tuổi 20 - 29 có tỷ lệ nhiễm HPV 
thấp nhất chiếm 14,6%[5].
4.2. Tỷ lệ nhiễm HPV và số lượng typ 
HPV ở một người bị nhiễm
Qua xét nghiệm HPV-DNA cho 1212 phụ nữ 
trong độ tuổi từ 20-66, chúng tôi đã phát hiện được 
237 trường hợp nhiễm 1 trong 14 typ HPV nguy cơ 
cao cho tổn thương tiền ung thư cổ tử cung chiếm 
19,55%. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi thu được 
cao hơn kết quả nghiên cứu tỷ lệ nhiễm HPV ở cán 
bộ viên chức đang làm việc ở Hà Nội năm 2015 của 
Lê Quang Vinh [5] là 9,73% cũng như nghiên cứu ở 
cộng đồng 3 tỉnh Thái Nguyên, Thừa Thiên Huế và 
Cần Thơ của Lê Quang Vinh và cộng sự năm 2012, 
tỷ lệ mắc chung cho cả hai nhóm HPV nguy cơ thấp 
và nguy cơ cao là 9,3%, riêng số phụ nữ có nhiễm các 
typ HPV nguy cơ cao là 8,1%[6]. Cao hơn nhiều công 
bố của Nguyễn Bá Đức (năm 2007) khi nghiên cứu 
trên cộng đồng phụ nữ cư trú tại huyện Sóc Sơn ngoại 
thành Hà Nội chỉ là 1,8%[4], và cũng cao hơn báo 
cáo của Vũ Thị Nhung (năm 2007) khi khảo sát tại 
thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ nhiễm HPV là 12%[7]. 
Theo nhiều tác giả, tỷ lệ nhiễm HPV có thể khác nhau 
giữa các vùng của một quốc gia, giữa các quốc gia 
do chịu ảnh hưởng rất lớn bởi một số yếu tố như môi 
trường, lối sống, hành vi tình dục và tình trạng kinh 
tế xã hội. Nghiên cứu của chúng tôi tiến hành trong 
bệnh viện trên những phụ nữ khám phụ khoa vì các 
lý do liên quan đến bệnh phụ khoa nên tỷ lệ cao hơn 
các nghiên cứu tại cộng đồng trước đó. Nhưng dù với 
lý do gì, tỷ lệ như vậy là quá cao và đáng lo ngại, nếu 
chúng ta không có kế hoạch sàng lọc ung thư cổ tử 
cung toàn diện để phát hiện sớm các tổn thương tiền 
ung thư, điều trị kịp thời thì trong tương lai, tỷ lệ ung 
thư cổ tử cung sẽ tăng đó là gánh nặng cho người 
bệnh cũng như cho ngành y. Với tỷ lệ cao như vậy, 
chúng ta cũng cần chuẩn bị kế hoạch, tài chính để thực 
hiện tiêm phòng vắc xin HPV, gắn với công tác tuyên 
truyền hành vi tình dục an toàn và lối sống lành mạnh, 
chung thuỷ. Trong nghiên cứu này, nhóm 12 typ HPV 
nguy cơ cao bao gồm các typ: 31, 33, 35, 39, 45, 
51, 52, 56, 58, 59, 66 và 68 có tỷ lệ nhiễm cao nhất 
chiếm 62,44%, tiếp theo là typ 16, nhiễm nhiều hơn 
1 týp lần lượt chiếm 16,46% và 14,35%, tỷ lệ nhiễm 
týp 18 thấp nhất chỉ chiếm 6,75%. Vì trong nghiên 
cứu chúng tôi định typ HPV trên hệ thống Cobas ® 
4800 tự động, kết quả cho biết typ 16, typ 18 riêng 
biệt, còn 12 typ nguy cơ cao còn lại được gộp trung 
thành 1 nhóm không định danh riêng biệt từng typ, 
điều này lý giải tại sao 12 typ có tần xuất gặp cao 
nhất. tuy nhiên nếu tính riêng cho từng typ theo chúng 
tôi thì typ 16 và typ 18 là thường gặp nhất. Kết quả 
này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của một số 
tác giả khác trong nước cũng như nước ngoài[1][5]
[7]. Qua kết quả nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy số 
người nhiễm 1 typ HPV chiếm 86%, nhiễm hơn 1 typ 
HPV chiếm 16%. Nhận xét này tương tự báo cáo của 
Lê Quang Vinh và cộng sự (2015), số người nhiễm 1 
typ HPV là 92%, hơn 1 typ HPV là 8%[5].
5. Kết luận
Phân tích kết quả xét nghiệm định typ HPV 
bằng hệ thống Cobas®-4800 cho 1212 phụ nữ có 
tuổi trung bình là 36, 55 đến khám phụ khoa tại 
Bệnh viện Phụ sản Trung ương, chúng tôi rút ra một 
số nhận xét sau:
− Tỷ lệ nhiễm HPV nguy cơ cao tăng nhanh 
trong những năm gần đây đạt tới 19,55%, chủ yếu 
là nhiễm 1 týp HPV chiếm 85,64%.
− Tỷ lệ nhiễm typ 16 là 16,44%, typ 18 là 
6,75% và 12 typ nguy cơ cao còn lại là 62,44%. 
Phối hợp hơn 1 týp là 14,36%.
Tài liệu tham khảo
1. Wright TC, Schiffman M. Adding a test for Human papiloomavirus DNA to 
cervical cancer screening. N Engl J Med 2003 Feb 6;348(6):489-90.
2. Schiffman M, Castle PE, Jeronimo J, Rodriguer AC, Wacholder S. Human 
papillomavirus and cervical cancer. Lancet 2007 Sep 8; 370 (9590):890-907.
3. Kitchener HC, Castle PE, Cox JT. Chapter 7: Achievements and 
limitations of cervical cancer cytology screening. Vaccine 2006 Aug 21; 
24 suppl 3: S63-S70.
4. Nguyễn Bá Đức. Tổng quan về ung thư cổ tử cung, chuyên đề virus sinh 
nhú ở người, mối liên quan với viêm, u đường sinh dục đặc biệt ung thư cổ 
tử cung. Tạp chí y học Việt Nam 2007; số đặc biệt:98-04.
5. Lê Quang Vinh, Vũ Bá Quyết, Phạm Thị Thanh Yên, Nguyễn Khánh 
Dương, Lê Hoàng Linh, Đào Duy Quân, Nguyễn Đình Quyết, Nguyễn Thị Thu 
Hoài, Nguyễn Hải Yến, Đàm Quỳnh Liên. Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm HPV ở cán 
bộ nữ Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Tạp chí Phụ Sản 5-2015;13(2):9-11.
6. Lê Quang Vinh, Lê Trung Thọ. Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm Human 
papillomavirus ở phụ nữ tỉnh Thái Nguyên, Huế và Cần Thơ. Tạp chí Sản 
Phụ khoa 4-2012;10(2):130-6.
7. Vũ Thị Nhung. Khảo sát tình hình nhiễm các typ HPV ở phụ nữ thành phố 
Hồ Chí Minh bằng kỹ thuật sinh học phân tử. Báo cáo tại Hội thảo đánh giá 
nhu cầu xây dựng chương trình phòng chống ung thư cổ tử cung tại Việt 
Nam. Hà Nội tháng 12-2007.

File đính kèm:

  • pdfty_le_nhiem_human_papilloma_virus_o_phu_nu_den_kham_tai_benh.pdf