Tỷ lệ nhân viên y tế thực hiện tư vấn ngắn cai thuốc lá 5A tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định

Đặt vấn đề: Nhân viên y tế giữ vai trò then chốt giảm nhẹ gánh nặng hút thuốc lá. Tư vấn ngắn cai thuốc

lá 5A được chứng minh là khả thi có hiệu quả. Tỷ lệ nhân viên y tế tham gia tư vấn cai thuốc lá 5A tại Việt Nam

chưa từng được nghiên cứu.

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ nhân viên y tế thực hiện tư vấn ngắn cai thuốc lá 5A cho bệnh nhân tại bệnh viện

Nhân Dân Gia Định.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang trên 324 nhân viên y tế tại các khoa lâm

sàng khảo sát tỷ lệ nhân viên y tế tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định tư vấn cai thuốc lá 5A.

Kết quả: 70,7% nhân viên y tế thường xuyên hoặc rất thường xuyên hỏi tình trạng hút thuốc lá của bệnh

nhân, 75% khuyên cai thuốc lá, 52,5% đánh giá ý muốn cai thuốc lá, 43,9% hỗ trợ cai thuốc lá và 51,2% giới

thiệu đi tư vấn cai thuốc lá.

pdf 5 trang phuongnguyen 180
Bạn đang xem tài liệu "Tỷ lệ nhân viên y tế thực hiện tư vấn ngắn cai thuốc lá 5A tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Tỷ lệ nhân viên y tế thực hiện tư vấn ngắn cai thuốc lá 5A tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định

Tỷ lệ nhân viên y tế thực hiện tư vấn ngắn cai thuốc lá 5A tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 
 133 
TỶ LỆ NHÂN VIÊN Y TẾ THỰC HIỆN TƯ VẤN NGẮN CAI THUỐC LÁ 5A 
TẠI BỆNH VIỆN NHÂN DÂN GIA ĐỊNH 
Lê Khắc Bảo* 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Nhân viên y tế giữ vai trò then chốt giảm nhẹ gánh nặng hút thuốc lá. Tư vấn ngắn cai thuốc 
lá 5A được chứng minh là khả thi có hiệu quả. Tỷ lệ nhân viên y tế tham gia tư vấn cai thuốc lá 5A tại Việt Nam 
chưa từng được nghiên cứu. 
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ nhân viên y tế thực hiện tư vấn ngắn cai thuốc lá 5A cho bệnh nhân tại bệnh viện 
Nhân Dân Gia Định. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang trên 324 nhân viên y tế tại các khoa lâm 
sàng khảo sát tỷ lệ nhân viên y tế tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định tư vấn cai thuốc lá 5A. 
Kết quả: 70,7% nhân viên y tế thường xuyên hoặc rất thường xuyên hỏi tình trạng hút thuốc lá của bệnh 
nhân, 75% khuyên cai thuốc lá, 52,5% đánh giá ý muốn cai thuốc lá, 43,9% hỗ trợ cai thuốc lá và 51,2% giới 
thiệu đi tư vấn cai thuốc lá. 
Kết luận: Tỷ lệ nhân viên y tế tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định tư vấn ngắn cai thuốc lá 5A thấp hơn yêu 
cầu của hướng dẫn quốc gia tư vấn điều trị cai nghiện thuốc lá. Cần tiến hành nghiên cứu định tính khảo sát rào 
cản nhận thức, thái độ, hành vi của họ đối với vấn đề tư vấn ngắn cai thuốc lá 5A. 
Từ khóa: tư vấn ngắn cai thuốc lá 5A 
ABSTRACT 
PREVALENCE OF HEALTH PROFESSIONALS GIVING BRIEF CONSULTATION 5A 
FOR SMOKING CESSATION 
Le Khac Bao * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 24 - No. 1 - 2020: 133 - 137 
Background: Health officials play key roles to alleviate tobacco smoking burden. Brief consultation 5A has 
been shown feasible and effective. The prevalence of health officials giving brief consultation 5A for smoking 
cessation has not been studied in Vietnam. 
Objective: Determines the prevalence of health professionals at Nhan Dan Gia Dinh giving 5A brief 
consultation to quit smoking. 
Methods: Cross-sectional study at Nhan Dan Gia Dinh hospital on 324 health professionals about their 
prevalence to give brief consultation 5A for smoking cessation. 
Results: 70.7% of health professionals frequently or very frequently ask their patients’ smoking status, 75% 
advise their patients to quit smoking, 52.5% assess patients’ willingness to quit smoking, 43.9% assisst their 
patients to quit smoking, and 51.2% arrange smoking cessation for their patients. 
Conclusion: The prevalence of health professionals at Nhan Dan Gia Dinh hospital giving brief 
consultation 5A for smoking cessation is lower than expected by the Vietnamese National guideline on 
smoking cessation. It is recommended that we conduct another qualitative study to explore the barriers in 
knowledge, attitude, and skills of health professionals on brief consultation 5A for smoking cessation. 
Key words: brief consultation 5A for smoking cessation 
*Bộ môn Nội – Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
Tác giả liên lạc: TS.BS. Lê Khắc Bảo ĐT: 0908888702 Email: [email protected] 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 Nghiên cứu Y học 
 134 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Tỷ lệ hút thuốc lá trong cộng đồng Việt Nam 
rất cao ở mức 45,3% cho nam và 1,1% cho nữ(1). 
Nhà nước và ngành y tế đã có nhiều động thái 
can thiệp tích cực nhằm giảm nhẹ gánh nặng 
này. Tháng 12/2018, Bộ Y tế đã công bố hướng 
dẫn quốc gia tư vấn điều trị cai nghiện thuốc 
lá(2). Hướng dẫn yêu cầu tất cả nhân viên y tế tư 
vấn ngắn cai thuốc lá 5A cho mọi bệnh nhân đến 
cơ sở y tế(2). 
Từ năm 2015 – 2016, bệnh viện Nhân Dân 
Gia Định đã triển khai tập huấn tư vấn ngắn cai 
nghiện thuốc lá 5A cho toàn thể nhân viên y tế 
trong bệnh viện với mong mỏi là tất cả nhân 
viên y tế tư vấn ngắn cai thuốc lá 5A cho bệnh 
nhân. Kết quả đánh giá kết thúc tập huấn cho 
thấy hơn 85% nhân viên y tế trả lời đúng các câu 
hỏi liên quan đến nhận thức về tầm quan trọng, 
thành phần, và phương pháp tư vấn ngắn cai 
thuốc lá 5A; hơn 90% nhân viên y tế rất đồng ý 
với nhận định là từng nhân viên y tế có trách 
nhiệm tư vấn ngắn cai thuốc lá 5A cho bất kỳ 
bệnh nhân đến bệnh viện. Chúng tôi giả thiết 
rằng nhận thức và thái độ đúng đắn về tư vấn 
ngắn cai thuốc lá 5A này thể hiện khách quan 
qua thực tế là tỷ lệ cao nhân viên y tế tư vấn 
ngắn cai thuốc lá 5A. 
Mục tiêu nghiên cứu 
Xác định tỷ lệ nhân viên y tế thực hiện tư 
vấn ngắn cai thuốc lá cho bệnh nhân tại bệnh 
viện Nhân Dân Gia Định. 
ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Tiêu chuẩn chọn mẫu 
Nhân viên y tế bao gồm bác sỹ, điều dưỡng, 
hộ lý làm việc tại các khoa lâm sàng tại bệnh 
viện Nhân Dân Gia Định. 
Tiêu chuẩn loại trừ 
Nhân viên y tế vắng mặt tại khoa trong thời 
điểm khảo sát hoặc có mặt nhưng từ chối tham 
gia nghiên cứu. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu: 
Nghiên cứu cắt ngang. 
Cỡ mẫu 
Dùng công thức tính cỡ mẫu trên dân số 
n = Z21-α/2 p (1-p)/ d2, 
Với n là cỡ mẫu tối thiểu, 
Z 1-/2 là hệ số tương ứng với khoảng tin cậy 
95%,  = 5%, p là tỷ lệ cần xác định, 
d là độ chính xác mong muốn = 6%. 
Tỷ lệ nhân viên y tế tư vấn ngắn cai thuốc lá 
5A tại Việt Nam chưa từng được biết vì thế để 
đảm bảo tính chính xác, chúng tôi chọn p dự 
đoán = 50%. 
Cỡ mẫu tối thiểu sẽ là 272 nhân viên y tế. 
Bộ câu hỏi thu thập dữ liệu 
Phiếu khảo sát tình hình tư vấn ngắn cai thuốc 
lá 5A tại BV Nhân Dân Gia Định 
Số phiếu: Khoa phòng: Ngày khảo sát: 
Đề nghị Anh/Chị khoanh tròn vào ô đúng 
nhất (Bảng 1). 
Thu thập và phân tích dữ liệu 
Trong khoảng thời gian nghiên cứu, nghiên 
cứu viên chính chọn ngẫu nhiên một buổi sáng 
đến một khoa lâm sàng vào thời điểm giao ban 
sáng. Sau khi trình bày mục tiêu, phương pháp 
nghiên cứu, nghiên cứu viên chính phát phiếu 
thăm dò cho toàn bộ nhân viên y tế của khoa 
lâm sàng có mặt vào thời điểm đó, nhờ các nhân 
viên y tế trả lời bảng câu hỏi nghiên cứu khuyết 
danh, và thu lại bảng trả lời ngay sau đó. 
Số liệu thu thập được lưu giữ và xử lý với 
phần mềm STATA 14.1. Chúng tôi báo cáo các tỷ 
lệ: tỷ lệ nhân viên y tế hỏi tình trạng hút thuốc lá 
của bệnh nhân, tỷ lệ nhân viên y tế khuyên bệnh 
nhân cai thuốc lá, tỷ lệ nhân viên y tế hỏi ý 
muốn cai thuốc lá của bệnh nhân, tỷ lệ nhân viên 
y tế đề nghị hỗ trợ bệnh nhân cai thuốc lá, tỷ lệ 
nhân viên y tế giới thiệu cho bệnh nhân đi tư 
vấn cai thuốc lá. Chúng tôi so sánh các tỷ lệ này 
ở các khối nội và ngoại khoa, sử dụng phép kiểm 
2, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p <0,05. 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 
 135 
Bảng 1: Bộ câu hỏi thu thập dữ liệu 
Anh chị có thường xuyên thực hiện các việc sau đối với BN không? 
Không bao 
giờ 
Đôi khi 
Thường 
xuyên 
Rất thường 
xuyên 
Hỏi bệnh nhân có hút thuốc lá không (●) (●) (●) (●) 
Khuyên bệnh nhân cai thuốc lá (●) (●) (●) (●) 
Hỏi bệnh nhân có muốn cai thuốc lá không (●) (●) (●) (●) 
Đề nghị hỗ trợ bệnh nhân cai thuốc lá (●) (●) (●) (●) 
Giới thiệu bệnh nhân đi tư vấn cai thuốc lá (●) (●) (●) (●) 
KẾT QUẢ 
Vào thời điểm nghiên cứu chúng tôi thu thập 
được 324 phiếu trả lời của nhân viên y tế tại các 
khoa lâm sàng tại bệnh viện Nhân Dân Gia 
Định, bao gồm 120 phiếu (37%) từ các khoa 
ngoại và 204 phiếu (63%) từ các khoa nội. Không 
có nhân viên y tế nào từ chối trả lời vào bảng câu 
hỏi khảo sát khi được yêu cầu. Lý do vắng mặt 
của các nhân viên y tế còn lại của khoa lâm sàng, 
khiến cho họ không thể tham gia khảo sát ý kiến 
vào thời điểm nghiên cứu, hoàn toàn không liên 
quan đến việc thực hiện tư vấn ngắn cai thuốc lá 
5A, hoặc ý muốn tham gia nghiên cứu của họ. 
Bảng 2: Tỷ lệ nhân viên y tế hỏi tình trạng hút thuốc 
lá của bệnh nhân đến bệnh viện 
Mức độ thực 
hiện 
Chung 
n = 324 
Nội khoa 
n = 204 
Ngoại 
khoa 
n = 120 

2
 p 
Không bao giờ 1,9% 1,5% 2,5% 
5,1677 0,160 
Đôi khi 27,5% 27,4% 26,7% 
Thường xuyên 53,1% 56,4% 47,5% 
Rất thường 
xuyên 
17,6% 14,2% 23,3% 
Tỷ lệ nhân viên y tế thường xuyên hoặc rất 
thường xuyên hỏi tình trạng hút thuốc lá của 
bệnh nhân là 70,7%, không có sự khác biệt thống 
kê giữa nhân viên y tế tại các khoa ngoại so với 
các khoa nội (Bảng 2). 
Bảng 3: Tỷ lệ nhân viên y tế khuyên bệnh nhân cai 
thuốc lá 
Mức độ thực 
hiện 
Chung 
n = 324 
Nội khoa 
n = 204 
Ngoại 
khoa 
n = 120 

2
 p 
Không bao giờ 2,8% 1,5% 5% 
5,0978 0,165 
Đôi khi 22,2% 23,5% 20% 
Thường xuyên 54,3% 52,5% 57,5% 
Rất thường 
xuyên 
20,7% 22,5% 17,5% 
Tỷ lệ nhân viên y tế thường xuyên hoặc rất 
thường xuyên hỏi khuyên bệnh nhân cai thuốc 
lá là 75%, không có sự khác biệt thống kê giữa 
nhân viên y tế tại các khoa ngoại so với các khoa 
nội (Bảng 3). 
Bảng 4: Tỷ lệ nhân viên y tế đánh giá ý muốn cai 
thuốc lá của bệnh nhân 
Mức độ thực 
hiện 
Chung 
n = 324 
Nội khoa 
n = 204 
Ngoại 
khoa 
n = 120 

2
 p 
Không bao giờ 7,1% 6,4% 8,3% 
1,3312 0,722 
Đôi khi 40,4% 39,7% 41,7% 
Thường xuyên 40,1% 40,2% 40% 
Rất thường 
xuyên 
12,4% 13,7% 10% 
Tỷ lệ nhân viên y tế thường xuyên hoặc rất 
thường xuyên đánh giá ý muốn cai thuốc lá của 
bệnh nhân là 52,5%, không có sự khác biệt thống 
kê giữa nhân viên y tế tại các khoa ngoại so với 
các khoa nội (Bảng 4). 
Bảng 5: Tỷ lệ nhân viên y tế đề nghị hỗ trợ bệnh 
nhân cai thuốc lá 
Mức độ thực 
hiện 
Chung 
n = 324 
Nội khoa 
n = 204 
Ngoại 
khoa 
n = 120 

2
 p 
Không bao giờ 13,3% 12,3% 15,1% 
2,9806 0,398 
Đôi khi 42,6% 45,1% 38,3% 
Thường xuyên 33,9% 31,4% 38,3% 
Rất thường 
xuyên 
10% 11,3% 8,3% 
Tỷ lệ nhân viên y tế thường xuyên hoặc rất 
thường xuyên đề nghị hỗ trợ bệnh nhân cai 
thuốc lá là 43,9%, không có sự khác biệt thống kê 
giữa nhân viên y tế tại các khoa ngoại so với các 
khoa nội (Bảng 5). 
Tỷ lệ nhân viên y tế thường xuyên hoặc rất 
thường xuyên giới thiệu bệnh nhân đi tư vấn cai 
nghiện thuốc lá là 51,2%, không có sự khác biệt 
thống kê giữa nhân viên y tế tại các khoa ngoại 
so với các khoa nội (p = 0,316) (Bảng 6). 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 Nghiên cứu Y học 
 136 
Bảng 6: Tỷ lệ nhân viên y tế giới thiệu bệnh nhân đi 
cai thuốc lá 
Mức độ thực 
hiện 
Chung 
n = 324 
Nội khoa 
n = 204 
Ngoại 
khoa 
n = 120 

2
 p 
Không bao giờ 13% 12,3% 14,2% 
3,5333 0,316 
Đôi khi 35,8% 32,8% 40,8% 
Thường xuyên 36,1% 39,7% 30% 
Rất thường 
xuyên 
15,1% 15,2% 15% 
BÀN LUẬN 
Tỷ lệ nhân viên y tế tại bệnh viện Nhân Dân 
Gia Định thường xuyên hoặc rất thường xuyên 
hỏi tình trạng hút thuốc lá của bệnh nhân là 
70,7% (Bảng 2), khuyên bệnh nhân cai thuốc lá là 
75% (Bảng 3), đánh giá ý muốn cai thuốc lá của 
bệnh nhân là 52,5% (Bảng 4), đề nghị hỗ trợ bệnh 
nhân cai thuốc lá là 43,9% (Bảng 5), và giới thiệu 
bệnh nhân đi tư vấn cai thuốc lá là 51,2% (Bảng 
6). So sánh với yêu cầu của hướng dẫn quốc gia 
tư vấn điều trị cai nghiện thuốc lá là 100% nhân 
viên y tế đều thực hành tư vấn ngắn cai thuốc lá 
5A cho bệnh nhân, các tỷ lệ này hãy còn thấp 
một khoảng khá xa. Các tỷ lệ này cũng không 
song hành với tỷ lệ hơn 85% nhân viên y tế tại 
bệnh viện Nhân Dân Gia Định trả lời đúng các 
câu hỏi về nhận thức đối với tư vấn ngắn cai 
thuốc lá 5A, và hơn 90% thể hiện thái độ đồng 
tình với việc tất cả nhân viên y tế cần phải tư vấn 
ngắn cai thuốc lá 5A cho bệnh nhân thể hiện qua 
thăm dò sau tập huấn trước đây. 
Kết quả nghiên cứu gợi ý có thể có một số 
rào cản đã làm cho yêu cầu của hướng dẫn quốc 
gia không được đáp ứng đầy đủ trên thực tế và 
kết quả sau tập huấn tư vấn cai nghiện thuốc lá 
5A không được thể hiện vào thực tiễn. Chúng tôi 
cho rằng có một số giả thiết có thể dùng để giải 
thích kết quả nghiên cứu này. 
Thứ nhất, nhân viên y tế có thể giả định rằng 
một số bệnh nhân không hút thuốc lá (ví dụ 
bệnh nhân là nữ) nên không cần thiết tư vấn 
ngắn cai thuốc lá 5A. Trong một nghiên cứu 
chúng tôi tiến hành song song với nghiên cứu 
này, khảo sát tỷ lệ bệnh nhân tại bệnh viện Nhân 
Dân Gia Định được tư vấn ngắn cai nghiện 
thuốc lá 5A, chúng tôi nhận thấy khi bệnh nhân 
có đang hút thuốc lá thì tỷ lệ được hỏi tình trạng 
hút thuốc lá là 89,9% ở nội trú và 96,3% ở ngoại 
trú; song khi bệnh nhân không hút thuốc thuốc 
lá thì tỷ lệ đó giảm xuống chỉ còn 28,2% và 
33,3%. Yếu tố gây nhiễu trong trường hợp này có 
thể là giới tính, trong đó giới nữ tại Việt Nam 
hút thuốc lá ít (1,1%) nên ít được nhân viên y tế 
tư vấn ngắn cai nghiện thuốc lá 5A. 
Thứ hai, nhân viên y tế có thể ưu tiên việc 
điều trị bệnh chính khiến bệnh nhân đến với 
bệnh viện hơn là điều trị tình trạng nghiện 
thuốc lá của bệnh nhân. Nhận định này được 
hỗ trợ một phần bởi kết quả nghiên cứu cho 
thấy rằng tỷ lệ nhân viên y tế nhận diện và 
khuyên cai thuốc lá trong nghiên cứu này trên 
70% nhưng tỷ lệ nhân viên y tế đánh giá ý 
muốn cai thuốc lá của bệnh nhân, đề nghị hỗ 
trợ bệnh nhân cai thuốc lá, và giới thiệu bệnh 
nhân đi tư vấn cai nghiện thuốc lá chỉ xấp xỉ 
50%. Tuy nhiên để quyết định chắn chắn là 
nhân viên y tế đã ưu tiêu việc điều trị các bệnh 
chính hơn là điều trị tình trạng nghiện thuốc lá 
của bệnh nhân, chúng tôi cần tiến hành một 
nghiên cứu định tính khác để khảo sát lý do vì 
sao nhân viên y tế không tích cực tư vấn ngắn 
cai thuốc lá 5A cho bệnh nhân. 
Thứ ba, nhân viên y tế có thể gặp một số rào 
cản về mặt kỹ thuật trong tư vấn ngắn cai 
nghiện thuốc lá 5A. Nhân viên y tế mặc dù được 
đào tạo lý thuyết về tư vấn ngắn cai nghiện 
thuốc lá 5A nhưng chưa trải qua thực tập nên 
ngần ngại trong tư vấn. Các thuốc men dùng 
trong điều trị cai nghiện thuốc lá vẫn chưa có thể 
tiếp cận dễ dàng trong phạm vi bệnh viện. Nhân 
viên y tế cũng có thể chưa biết sự hiện diện của 
phòng tư vấn điều trị cai nghiện thuốc lá tại 
bệnh viện Nhân Dân Gia Định để mà giới thiệu 
bệnh nhân đến tư vấn cai nghiện thuốc lá. 
Tương tự lý do thứ hai, cần tiến hành một 
nghiên cứu định tính khác để khảo sát rào cản 
trong tư vấn ngắn cai nghiện thuốc lá 5A của 
nhân viên y tế tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định. 
Đề tài này không nghiên cứu tỷ lệ nhân viên 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 24 * Số 1 * 2020 
 137 
y tế tham gia tư vấn ngắn cai thuốc lá 5A thay 
đổi theo chức năng nhiệm vụ của nhân viên y tế 
là bác sỹ, điều dưỡng, hay hộ lý. Đây có thể 
được bình luận là một điểm yếu của đề tài. Tuy 
nhiên, ý nghĩa to lớn hơn của tư vấn ngắn cai 
thuốc lá 5A lại nằm ở chỗ mọi nhân viên y tế bất 
kể vị trí công tác phải tham gia vào tư vấn ngắn 
cai thuốc lá, chứ không phải là nhân viên y tế ở 
vị trí công tác đặc biệt nào như bác sỹ hoặc điều 
dưỡng. Hơn nữa, việc ghi rõ vị trí công tác trên 
phiếu trả lời có thể làm sai lệch kết quả nghiên 
cứu so với sự thật, ví dụ, bác sỹ sẽ có khuynh 
hướng ghi rằng họ thường xuyên tư vấn cai 
thuốc lá cho dù họ không thường xuyên làm 
việc này, lý do họ ghi sai lệch như vậy có thể bị 
ảnh hưởng bới chức danh bác sỹ mà nhân viên y 
tế đang có. 
KẾT LUẬN 
Tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định, tỷ lệ 
tham gia tư vấn cai thuốc lá 5A của nhân viên y 
tế tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định chưa đáp 
ứng được yêu cầu của hướng dẫn quốc gia tư 
vấn cai nghiện thuốc lá tại Việt Nam. Cụ thể là, 
tỷ lệ nhân viên y tế thường xuyên hay rất 
thường xuyên hỏi về tình trạng hút thuốc lá của 
bệnh nhân là 70,7%, khuyên bệnh nhân cai thuốc 
lá là 75%, đánh giá ý muốn cai thuốc lá của bệnh 
nhân là 52,5%, đề nghị hỗ trợ cai thuốc lá cho 
bệnh nhân là 43,9%, và giới thiệu bệnh nhân đi 
tư vấn cai thuốc lá là 51,2%. Cần tiến hành một 
nghiên cứu định tính để khảo sát các rào cản làm 
nhân viên y tế tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định 
chưa tích cực tư vấn ngắn cai thuốc lá 5A. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Van Minh H, et al (2017). Prevalence of tobacco smoking in 
Vietnam: findings from the Global Adult Tobacco Survey 2015. 
Int J Public Health, 62(S1):121-129. 
2. Bộ Y Tế (2018). Tài liệu hướng dẫn tổ chức tư vấn điều trị cai 
nghiện thuốc lá tại Việt Nam. URL: vinacosh.gov.vn › huong-
dan-quoc-gia-cai-thuoc-la. 
Ngày nhận bài báo: 02/12/2019 
Ngày phản biện nhận xét bài báo: 28/12/2019 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2020 

File đính kèm:

  • pdfty_le_nhan_vien_y_te_thuc_hien_tu_van_ngan_cai_thuoc_la_5a_t.pdf