Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ trên phụ nữ có thai từ kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) và các yếu tố

liên quan ở phụ nữ có thai từ kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON).

Phương pháp: Đây là nghiên cứu cắt ngang mô tả, thực hiện tại bệnh

viện Mỹ Đức trong khoảng thời gian từ tháng 06 năm 2014 đến tháng 12

năm 2014. Các phụ nữ có thai sau TTTON, tuổi thai từ 24 đến 28 tuần và

đồng ý tham gia được nhận vào nghiên cứu. Tiêu chuẩn loại trừ bao gồm

những thai phụ đã được chẩn đoán đái tháo đường trước khi mang thai;

từng được chẩn đoán các bệnh lý sau: Suy thận cấp/mạn, bệnh lý gan

mật tụy, bệnh lý tuyến giáp, tăng huyết áp, bệnh lý miễn dịch, trầm cảm;

đang sử dụng các thuốc: beta blocker, corticosteroid, lợi tiểu thiazide,

thuốc chống trầm cảm. Nghiệm pháp dung nạp đường (75 g glucose)

được thực hiện ở tuổi thai từ 24 – 28 tuần. Đái tháo đường thai kỳ được

chẩn đoán theo tiêu chuẩn của Hiệp Hội Đái Tháo Đường Hoa Kỳ (ADA

- American Diabetes Association) năm 2013. Các thai phụ được phỏng

vấn trực tiếp để xác định các yếu tố nguy cơ theo bảng câu hỏi có sẵn.

Kết quả: Có 134 thai phụ sau thụ tinh trong ống nghiệm tham gia

nghiên cứu. Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ chiếm 25,4% (34/134). Trong

các yếu tố nguy cơ được khảo sát, không có sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê giữa hai nhóm có và không có đái tháo đường thai kỳ. Yếu tố

tập thể dục trước và trong khi mang thai làm giảm nguy cơ bị ĐTĐTK

Kết luận: Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ trên những phụ nữ có thai sau

TTTON là 25,4%. Yếu tố tập thể dục trước và trong khi mang thai làm

giảm 58% nguy cơ bị ĐTĐTK.

pdf 5 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ trên phụ nữ có thai từ kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ trên phụ nữ có thai từ kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm

Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ trên phụ nữ có thai từ kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm
VƯƠNG TÚ NHƯ, TRIỆU THỊ THANH TUYỀN, BÙI THỊ PHƯƠNG LOAN, LÊ TIỂU MY, ĐẶNG QUANG VINH
36
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
02
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Vương Tú Như (1), Triệu Thị Thanh Tuyền (1), Bùi Thị Phương Loan (1), Lê Tiểu My (1), Đặng Quang Vinh(1,2) 
(1) Bệnh viện Đa khoa Mỹ Đức, (2) Đại học Quốc gia TP.HCM
TỶ LỆ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG THAI KỲ
TRÊN PHỤ NỮ CÓ THAI
TỪ KỸ THUẬT THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Vương Tú Như,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 22/10/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
30/11/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 30/12/2016
Từ khóa: Đái tháo đường thai 
kỳ, thụ tinh trong ống nghiệm.
Keywords: GDM, IVF.
Tóm tắt
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) và các yếu tố 
liên quan ở phụ nữ có thai từ kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON). 
Phương pháp: Đây là nghiên cứu cắt ngang mô tả, thực hiện tại bệnh 
viện Mỹ Đức trong khoảng thời gian từ tháng 06 năm 2014 đến tháng 12 
năm 2014. Các phụ nữ có thai sau TTTON, tuổi thai từ 24 đến 28 tuần và 
đồng ý tham gia được nhận vào nghiên cứu. Tiêu chuẩn loại trừ bao gồm 
những thai phụ đã được chẩn đoán đái tháo đường trước khi mang thai; 
từng được chẩn đoán các bệnh lý sau: Suy thận cấp/mạn, bệnh lý gan 
mật tụy, bệnh lý tuyến giáp, tăng huyết áp, bệnh lý miễn dịch, trầm cảm; 
đang sử dụng các thuốc: beta blocker, corticosteroid, lợi tiểu thiazide, 
thuốc chống trầm cảm. Nghiệm pháp dung nạp đường (75 g glucose) 
được thực hiện ở tuổi thai từ 24 – 28 tuần. Đái tháo đường thai kỳ được 
chẩn đoán theo tiêu chuẩn của Hiệp Hội Đái Tháo Đường Hoa Kỳ (ADA 
- American Diabetes Association) năm 2013. Các thai phụ được phỏng 
vấn trực tiếp để xác định các yếu tố nguy cơ theo bảng câu hỏi có sẵn. 
Kết quả: Có 134 thai phụ sau thụ tinh trong ống nghiệm tham gia 
nghiên cứu. Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ chiếm 25,4% (34/134). Trong 
các yếu tố nguy cơ được khảo sát, không có sự khác biệt có ý nghĩa 
thống kê giữa hai nhóm có và không có đái tháo đường thai kỳ. Yếu tố 
tập thể dục trước và trong khi mang thai làm giảm nguy cơ bị ĐTĐTK 
Kết luận: Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ trên những phụ nữ có thai sau 
TTTON là 25,4%. Yếu tố tập thể dục trước và trong khi mang thai làm 
giảm 58% nguy cơ bị ĐTĐTK.
Từ Khoá: Đái tháo đường thai kỳ, thụ tinh trong ống nghiệm.
Abstract 
PREVALENCE OF GESTATIONAL DIABETES 
MELLITUS IN PREGNANCY AFTER TREATMENT 
WITH IN VITRO FERTILIZATION
Objectives: To determine the rate and risk factors of gestational 
tiêu chuẩn chẩn đoán của ADA mới cũng như xác 
định các yếu tố liên quan đến ĐTĐTK. Do khả năng 
sàng lọc và chẩn đoán tốt hơn của tiêu chuẩn chẩn 
đoán mới, NC này sẽ giúp chúng ta đánh giá rõ 
hơn tỉ lệ thai phụ sau thụ tinh trong ống nghiệm bị 
ĐTĐTK, nhận biết các trường hợp nguy cơ cao để 
có thể phòng ngừa và phát hiện sớm, từ đó giúp 
cải thiện kết cục thai kì, giảm tử suất và bệnh suất 
về lâu dài cho mẹ và thai nhi.
2. Phương pháp nghiên cứu
2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả
Chúng tôi chọn thiết kế nghiên cứu này vì phù 
hợp với nghiên cứu xác định một tỷ lệ bệnh. Hơn 
nữa, nghiên cứu cắt ngang còn có thể bước đầu 
xác định mối liên quan giữa bệnh và các yếu tố 
phơi nhiễm. 
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Dân số đích: Thai phụ có thai từ kỹ thuật TTTON 
tại Việt Nam
Dân số nghiên cứu: Thai phụ có thai từ kỹ thuật 
TTTON khám thai tại bệnh viện Mỹ Đức - TPHCM
Dân số chọn mẫu: Thai phụ có thai từ kỹ thuật 
TTTON khám thai tại bệnh viện Mỹ Đức từ tháng 6 
năm 2014 đến tháng 12 năm 2014 đồng ý tham 
gia nghiên cứu. 
Tiêu chuẩn chọn mẫu:
• Thai phụ ≥ 18 tuổi
• Có thai sau TTTON
• Tuổi thai từ 24 – 28 tuần
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(04), 36 - 40, 2017
37
diabetes mellitus (GDM) in IVF pregnancies.
Methods: This is a cross-sectional study which was performed at My Duc hospital from June, 2014 to 
December, 2014. Women achieving IVF pregnancies that progressed from 24 to 28 weeks’gestation 
were recruited. Oral glucose tolerance test (75gr) was done from 24 to 28 weeks’gestation. The 
diagnosis of GDM depended on ADA criteria -2013. Participants were directly interviewed to identify 
the risk factors of GDM.
Results: This study included 134 IVF pregnancies. GDM was diagnosed in 25,4% (34/134) women. 
Although there were no significant variation between GDM and its risk factors, our study showed that 
physical exercise before and during pregnancy reduced the risk of GDM. 
Conclusions: GDM rate of women achieving IVF pregnancies was 25.4%. Physical exercise before 
and during pregnancy produced 58% risk reduction of GDM.
Key word: GDM, IVF.
1. Đặt vấn đề 
Đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) được định 
nghĩa là tình trạng đái tháo đường khởi phát trong 
quá trình mang thai ở một người chưa từng có tiền 
căn đái tháo đường trước đó. Đái tháo đường nếu 
không được điều trị đúng mức sẽ gây nhiều biến 
chứng trong thai kì, tăng nguy cơ đái tháo đường 
type 2 ở mẹ và tăng nguy cơ béo phì hoặc rối 
loạn dung nạp glucose ở trẻ. Theo các nghiên cứu 
tại Việt Nam, tỉ lệ ĐTĐTK dao động từ 3,6% đến 
5,7%. Nghiên cứu của Tô Thị Minh Nguyệt trên 
những thai phụ nguy cơ cao tại BV Từ Dũ cho tỉ lệ 
ĐTĐTK là 10,69%. (1,2,3)
Hiện nay, thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) 
là một kỹ thuật ngày càng phổ biến và ngày càng 
có nhiều phụ nữ mang thai từ kỹ thuật hỗ trợ sinh 
sản này, các đối tượng này có những đặc điểm và 
nguy cơ tiềm ẩn của ĐTĐTK. Tuy nhiên, từ trước 
đến nay những nghiên cứu về đái tháo đường hay 
nhiễm khuẩn niệu chủ yếu thực hiện trên dân số 
chung, chưa có nhiều nghiên cứu khảo sát trên 
nhóm thai kỳ con quý này. Theo các nghiên cứu 
trên thế giới thì tỷ lệ ĐTĐTK tăng trong nhóm hỗ trợ 
sinh sản, từ 7,6% đến 43% (4,5,6) và ở Việt Nam 
chưa có dữ liệu này. Trong khi đó, tiêu chuẩn chẩn 
đoán ĐTĐTK theo ADA mới có độ nhạy và độ đặc 
hiệu lần lượt là 61% và 100%, cao hơn tiêu chuẩn 
ADA cũ có độ nhạy và độ đặc hiệu là 40,5% và 
100%. Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này 
nhằm xác định tỉ lệ ĐTĐTK trên những thai phụ 
sau thụ tinh trong ống nghiệm tại TPHCM khi dùng 
Tập 14, số 04
Tháng 02-2017
VƯƠNG TÚ NHƯ, TRIỆU THỊ THANH TUYỀN, BÙI THỊ PHƯƠNG LOAN, LÊ TIỂU MY, ĐẶNG QUANG VINH
38
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
02
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
• Được khám thai và xét nghiệm đầy đủ 
• Không ghi nhận tiền căn đái tháo đường 
trước khi làm OGTT
• Đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ: 
• Có kết quả đường huyết đói tăng trong tam cá 
nguyệt đầu tiên của thai kì
• Đang điều trị ĐTĐ
• Từng được chẩn đoán các bệnh lý sau:
+ Suy thận cấp/mạn
+ Bệnh lý gan mật tụy
+ Bệnh lý tuyến giáp
+ Tăng huyết áp
+ Bệnh lý miễn dịch 
+ Trầm cảm
• Đang sử dụng các thuốc: beta blocker, 
corticosteroid, lợi tiểu thiazide, thuốc chống trầm cảm.
2.3 Cỡ mẫu
Cỡ mẫu được tính theo công thức ước tính một tỉ 
lệ trong quần thể:
Với khoảng tin cậy 95%, Z1-α/2 = 1,96.
P là tỷ lệ phần trăm mong đợi của ĐTĐTK. Theo 
khảo sát ban đầu của chúng tôi về tỉ lệ ĐTĐTK trên 
các thai phụ có thai từ kỹ thuật TTTON từ 7,6% đến 
43% chúng tôi chọn p = 8%.
d là độ chính xác tuyệt đối, d = 0,05. Theo tỉ lệ 
này, cỡ mẫu cần có là 113 bệnh nhân
2.4 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên thuận 
tiện cho đến khi đủ mẫu cần thiết theo thiết kế nghiên 
cứu. Theo đó, tất cả các ngày trong tuần, tác giả 
ngồi tại phòng khám thai phỏng vấn tất cả những 
bệnh nhân khám thai thỏa tiêu chuẩn nghiên cứu.
2.5 Các bước tiến hành
ĐTĐTK được chẩn đoán theo ADA bằng nhiệm 
pháp dung nạp 75g glucose uống ở thời điểm thai 
24 – 28 tuần.
Bệnh nhân nhịn ăn từ 11g tối hôm trước ngày 
làm xét nghiệm dung nạp đường huyết (OGTT – 
Oral glucose tolerance test)
Ngày thực hiện OGTT: bệnh nhân được lấy 
máu 3 lần: lúc đói, 1 giờ sau uống 75g glucose và 
2 giờ sau uống 75g glucose
Thai phụ được chẩn đoán ĐTĐTK khi có bất kỳ 
kết quả nào su đây:
- Đường huyết đói > 92 mg/dl (5,1 mmol/l)
- Đường huyết 1 giờ sau uống 75g glucose ≥ 
180 mg/dl (10,0 mmol/l)
- Đường huyết 2 giờ sau uống 75 g glucose ≥ 
153 mg/dl (8,5 mmol/l)
2.6 Phương pháp xử lý số liệu
Xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê SPSS 15.0.
Phân tích gồm 2 bước: bước 1 mô tả và phân 
tích đơn biến, bước 2 dùng mô hình hồi qui đa biến 
nhằm kiểm soát yếu tố gây nhiễu và tính OR hiệu 
chỉnh cho các biến số
Sử dụng khoảng tin cậy 95%, p < 0,05 được 
xem là có ý nghĩa thống kê.
Sự phân bố chuẩn của dữ liệu được kiểm định 
bằng tổ chức đồ.
Thống kê mô tả: các biến định tính được mô tả 
bằng tỷ lệ phần trăm. Các biến định lượng được 
mô tả bằng trung bình và độ lệch chuẩn nếu dữ 
liệu có phân phối chuẩn hoặc trung vị và khoảng 
tứ phân vị nếu dữ liệu không có phân phối chuẩn.
3. Kết quả
Có 134 phụ nữ có thai sau kỹ thuật TTTON thỏa 
tiêu chuẩn và đồng ý tham gia nghiên cứu. Đặc 
điểm các đối tượng nghiên cứu được mô tả trong 
bảng 1.
Tỷ lệ ĐTĐTK ở phụ nữ có thai sau kỹ thuật 
TTTON là 25,4% (biểu đồ 1).
Các yếu tố nguy cơ liên quan đến ĐTĐTK được 
thể hiện trong bảng 2. Qua đó ta thấy các yếu 
tố như: gia đình có người bị ĐTĐ, tiền căn bản 
thân bị ĐTĐTK, số thai, tiền căn bản thân bị buồng 
trứng đa nang không có sự khác biệt giữa nhóm có 
ĐTĐTK và không có ĐTĐTK. Trong khi đó, yếu tố 
tập thể dục trước và trong khi mang thai giúp giảm 
nguy cơ ĐTĐTK (bảng 3).
4. Bàn luận
Đây là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam về đái 
tháo đường thai kỳ ở nhóm phụ nữ có thai từ kỹ 
thuật thụ tinh trong ống nghiệm. Qua phân tích 
nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ ĐTĐTK 
ở phụ nữ có thai sau TTTON là 25,4%, cao hơn 
trong các nghiên cứu khác, như tác giả Ngô Thị 
Kim Phụng trên nhóm phụ nữ có thai tại quận 4 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(04), 36 - 40, 2017
39
TPHCM là 3,4% (7), tác giả Tô Thị Minh Nguyệt 
trên nhóm thai phụ nguy cơ cao tại Bệnh viện Từ 
Dũ là 10,69% (3). Điều này có thể là do đối tượng 
nghiên cứu của chúng tôi là nhóm phụ nữ có thai 
sau kỹ thuật TTTON, là nhóm có nhiều yếu tố nguy 
cơ bị ĐTĐTK như: mẹ lớn tuổi, nguyên nhân gây 
vô sinh, loại thuốc dùng để kích thích buồng trứng 
và hỗ trợ pha hoàng thể, sự thay đổi môi trường 
hormone do tăng mức hormone sau kích thích 
buồng trứng và trong giai đoạn sớm thai kỳ cũng 
như sự hiện diện của các yếu tố bất thường mạch 
máu và chuyển hóa tiềm ẩn sẽ nặng thêm trong 
quá trình tiến hành kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (6). Khi 
so sánh tỷ lệ này với các nghiên khác thực hiện trên 
nhóm đối tượng hỗ trợ sinh sản, tỷ lệ ĐTĐTK trong 
nghiên cứu chúng tôi cao hơn so với tác giả Y.A 
Wang thực hiện trên phụ nữ Úc là 7,6% và thấp 
hơn tác giả M. Ashrafi thực hiện ở phụ nữ Iran là 
43% (4,6). Sự khác biệt về tỷ lệ ĐTĐTK này được lý 
giải có thể do cách tiếp cận để chẩn đoán ĐTĐTK 
khác nhau và chọn lựa tiêu chuẩn chẩn đoán khác 
nhau. Trong nghiên cứu của chúng tôi chọn cách 
tiếp cận một bước và tiêu chuẩn chẩn đoán theo 
ADA 2013, trong khi đó nghiên cứu của tác giả 
Y.A Wang chọn cách tiếp cận một bước nhưng 
theo tiêu chuẩn chẩn đoán của ADIPS và tác giả 
M. Ashrafi thì chọn cách tiếp cận hai bước và tiêu 
chuẩn chẩn đoán theo ADA.
Khảo sát về đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 
cũng như các yếu tố liên quan đến ĐTĐTK, chúng 
tôi nhận thấy tuổi trung bình của thai phụ là 33,4 
tuổi với chỉ số BMI trung bình 21,3, bằng với tuổi 
trung bình của thai phụ trong nghiên cứu của tác 
giả Wang là 33,9 tuổi và tác giả Ashrafi là 31,3 
tuổi nhưng chỉ số BMI trong nghiên cứu của chúng 
tôi thấp hơn so với nghiên cứu của hai tác giả 
Wang và Ashrafi. Điều này có thể lý giải là do 
chủng tộc khác nhau và chế độ ăn uống của mỗi 
nước có đặc điểm khác nhau. 
Tập thể dục đã được chứng minh là một công 
cụ điều trị có lợi khi mang thai và vào cuối những 
năm 1990 bắt đầu xuất hiện những nghiên cứu 
cho thấy những thai phụ tập thể dục khi mang 
thai có trọng lượng thai nhi thấp hơn nhóm thai 
phụ ít vận động (8). Trong nghiên cứu của Bung 
và cộng sự năm 1991 cho thấy nhóm thai phụ bị 
ĐTĐTK có tập thể dục có thể duy trì mức độ đường 
Đặc điểm (n = 134) Giá trị
Tuổi trung bình 33,4 ± 5,3
Chỉ số khối cơ thể (BMI) 21,3 ± 3,2
Trình độ học vấn
 - ≤ cấp 3
 - Cao đẳng
 - Đại học, sau đại học
45 (33,6%)
15 (11,2%)
74 (55,2%)
Tình trạng kinh tế
 - Thiếu ăn
 - Đủ ăn
 - Dư ăn
1 (0,7%)
124 (92,5%)
9 (6,7%)
Tiền thai (con rạ) 35 (26,1%)
Bảng 1: Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
ĐTĐTK N (%) Bình thường N (%) Giá trị P
Gia đình có người ĐTĐ 0,088
 Có 10 (38,5) 16 (61,5)
 Không 24 (22,2) 84 (77,8)
Tiền căn bản thân bị ĐTĐTK 0,558
 Có 0 (0) 1 (100)
 Không 34 (25,6) 99 (74,4)
Số thai 0,063
 Đơn thai 21 (21,2) 78 (78,8)
 Đa thai 13 (37,1) 22 (62,9)
Bản thân bị BTĐN 0,660
 Có 5 (21,7) 18 (78,3)
 Không 29 (26,1) 82 (73,9)
Bảng 2: Các yếu tố nguy cơ liên quan đến ĐTĐTK
ĐTĐTK Không ĐTĐTK PR P
Tập thể dục 0,0034
 Có 9 (12,7) 62 (87,3) 0,42
 Không 25 (39,7) 38 (60,3)
Bảng 3: Tập thể dục trước và trong khi mang thai giúp giảm nguy cơ ĐTĐTK
Biểu đồ 1: Tỷ lệ ĐTĐTK ở phụ nữ có thai sau kỹ thuật TTTON
74,6%
25,4%
ĐTĐTK
Không ĐTĐTK
huyết bình thường mà không sử dụng insulin mặc 
dù tất cả trước đây phụ thuộc insulin (9). Tương 
tự nghiên cứu của Jovanovic Peterson khi so sánh 
giữa việc tập thể dục kết hợp với ăn kiêng và việc 
chỉ ăn kiêng đơn thuần, tác giả cũng ghi nhận 
nhóm thai phụ kết hợp tập thể dục và ăn kiêng có 
mức đường huyết thấp sau 6 tuần điều trị so với 
nhóm còn lại (10). Trong nghiên cứu của chúng 
tôi cho thấy việc tập thể dục trước và trong khi 
mang thai giúp giảm 58% nguy cơ ĐTĐTK. Kết 
quả nghiên cứu của chúng tôi khá tương đồng với 
Tập 14, số 04
Tháng 02-2017
VƯƠNG TÚ NHƯ, TRIỆU THỊ THANH TUYỀN, BÙI THỊ PHƯƠNG LOAN, LÊ TIỂU MY, ĐẶNG QUANG VINH
40
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
02
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
các nghiên cứu khác như: nghiên cứu của Tobias 
DK cho thấy thai phụ có hoạt động thể chất cao 
trước khi mang thai giảm 55% nguy cơ ĐTĐTK so 
với nhóm ít vận động ( OR = 0,45, 95%CI: 0,28 
– 0,75) và giảm 24% nguy cơ ĐTĐTK ở nhóm thai 
phụ có tập thể dục trong lúc mang thai (OR = 
0,76, 95%CI: 0,07 – 0,83) (11), tác giả Rudra 
CB (12) và tác giả Oken E (13) cũng cho thấy 
việc tập thể dục trước khi mang thai trong vòng 1 
năm sẽ làm giảm nguy cơ bị ĐTĐTK. Tuy nhiên, 
trong một phân tích của Cochrane 2012 (14) và 
nghiên cứu của Nobles (15) lại cho thấy không có 
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ ĐTĐTK 
giữa nhóm có tập thể dục và nhóm không tập thể 
dục trước và trong khi mang thai. Sự không thống 
nhất giữa các kết quả nghiên cứu có thể là do thiết 
kế nghiên cứu khác nhau, cỡ mẫu cũng như các 
tiêu chuẩn đánh giá khác nhau. Tuy kết quả các 
nghiên cứu có sự không thống nhất nhưng đây 
là điểm gợi ý chúng ta cần thực hiện thêm các 
nghiên cứu về liên quan giữa tập thể dục và tỷ 
lệ ĐTĐTK nhằm giúp ích cho các bác sĩ lâm sàng 
trong tư vấn cho bệnh nhân
5. Kết luận
Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ ở phụ nữ có thai 
sau kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm là 25,4% 
theo tiêu chuẩn ADA 2013.
Nghiên cứu không tìm thấy mối liên quan giữa 
tiền căn bản thân ĐTĐTK, tiền căn gia đình bị ĐTĐ, 
số lượng thai cũng như tiền căn bị buồng trứng đa 
nang của thai phụ với ĐTĐTK.
Nghiên cứu cho thấy tập thể dục trước và trong 
khi mang thai giúp giảm 58% nguy cơ ĐTĐTK. 
Điều này có thể giúp ích cho bác sĩ lâm sàng trong 
tư vấn cho thai phụ về chế độ sinh hoạt hàng ngày.
Phụ nữ có thai sau kỹ thuật TTTON cần được 
tầm soát kỹ ĐTĐTK nhằm phát hiện sớm và điều trị 
kịp thời, hạn chế các nguy cơ cho mẹ và thai nhi 
cũng như cải thiện kết cục thai kỳ.
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Thị Kim Chi, Trần Đức Thọ, Đỗ Trung Quân. Phát hiện tỷ 
lệ đái tháo đường thai nghén ở Bệnh viện Phụ sản Hà Nội và tìm hiểu 
các yếu tố liên quan. Luận văn tốt nghiệp Bác sỹ nội trú 2001, trường 
Đại học Y Hà Nội
2. Tạ Văn Bình, Nguyễn Đức Vy, Phạm Thị Lan, (2004), Tìm hiểu tỷ lệ 
đái tháo đường thai kỳ và một số yếu tố liên quan ở thai phụ quản lý thai 
kỳ tại bệnh viện phụ sản trung ương và bệnh viện phụ sản hà nội, thuộc 
đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước KC.10.15
3. Tô Thị Minh Nguyệt, Ngô Thị Kim Phụng. Tỷ lệ đái tháo đường trong 
thai kỳ và các yếu tố liên quan ở những thai phụ nguy cơ cao tại Bệnh 
viện Từ Dũ. Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh Tháng 1/2009;13:66 – 70
4. Y.A.Wang, R. Nikravan, H.C. Smith, and E.A. Sullivan. Higher 
prevalence of gestational diabetes mellitus following assisted reproduction 
technology treatment. Human Reproduction, Vol.28, No.9 pp. 2554–2561, 
2013
5. Xiaokui Yang, M.D., Ying Li, B.D., Changdong Li, M.D., and Weiyuan 
Zhang, M.D. Current overview of pregnancy complications and live-birth 
outcome of assisted reproductive technology in mainland China. Fertility 
and Sterility® Vol. 101, No. 2, February 2014 0015-0282. 
6. M. Ashrafi, R. Gosili, R. Hosseini, A. Arabipoor, J. Ahmadi, M. 
Chehrazi. Risk of gestational diabetes mellitus in patients undergoing 
assisted reproductive techniques. European Journal of Obstetrics & 
Gynecology and Reproductive Biology 176 (2014) 149–152
7. Ngô Thị Kim Phụng, (2004), Tầm soát đái tháo đường thai kỳ tại 
quận 4 thành phố hồ chí minh, Luận án tiến sỹ y học chuyên ngành sản 
phụ khoa, mã số 3.01.1
8. Cliantha Padayachee, Jeff S Coombes (2015), Exercise guidelines for 
gestational diabetes mellitus, World J Diabetes 2015 July 25; 6(8): 1033-
1044, ISSN 1948-9358 (online)
9. Bung P, Artal R, Khodiguian N, Kjos S. Exercise in gestational 
diabetes. An optional therapeutic approach? Diabetes 1991; 40 Suppl 2: 
182-185 [PMID: 1748256 DOI: 10.2337/diab.40.2.S182]
10. Jovanovic-Peterson L, Peterson CM. Is exercise safe or useful for 
gestational diabetic women? Diabetes 1991; 40 Suppl 2: 179-181 [PMID: 
1748254 DOI: 10.2337/diab.40.2.S179]
11. Tobias DK, Zhang C, van Dam R, Bowers K, Hu F. Physical activity 
before and during pregnancy and risk of gestational diabetes mellitus: a 
meta-analysis. Diabetes Care. 2011;34:223–9
12. Rudra CB, Williams MA, Lee IM, Miller RS, Sorensen TK. Perceived 
exertion in physical activity and risk of gestational diabetes mellitus. 
Epidemiology. 2006;17:31–7 
13. Oken E, Ning Y, Rifas-Shiman SL, Radesky JS, Rich-Edwards 
JW, Gillman MW. Associations of physical activity and inactivity before 
and during pregnancy with glucose tolerance. Obstet Gynecol. 2006; 
108:1200–7 
14. Han S, Middleton P, Crowther CA. Exercise for pregnant women 
for preventing gestational diabetes mellitus (Review). The Cochrane 
Collaboration and published in The Cochrane Library 2012, Issue 7 
15. Nobles C1, Marcus BH, Stanek EJ 3rd, Braun B, Whitcomb BW, 
Solomon CG, Manson JE, Markenson G, Chasan-Taber L. Effect of an 
exercise intervention on gestational diabetes mellitus: a randomized 
controlled trial. Obstet Gynecol. 2015 May;125(5):1195-204. 

File đính kèm:

  • pdfty_le_dai_thao_duong_thai_ky_tren_phu_nu_co_thai_tu_ky_thuat.pdf