Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ ở phụ nữ có yếu tố nguy cao và mức độ ảnh hưởng tới thai phụ, thai nhi ở Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang trên 400 thai

phụ có yếu tố nguy cơ cao được sàng lọc đái tháo đường thai kỳ bằng

nghiệm pháp dung nạp Glucose máu theo hướng dẫn của Hiệp hội Đái

tháo đường Hoa Kỳ năm 2010.

Mục tiêu: xác định tỷ lệ ĐTĐTK ở nhóm phụ nữ có yếu tố nguy cơ cao

và mức độ ảnh hưởng của ĐTĐTK đến thai phụ và thai nhi tại Bệnh viện

Phụ Sản Hải Phòng.

Kết quả: Tỷ lệ ĐTĐTK tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng là 36,8%.

Càng nhiều yếu tố nguy cơ thì tỷ lệ mắc ĐTĐTK càng cao. Tỷ lệ đẻ non

ở nhóm ĐTĐTK kiểm soát không tốt là 28,0% còn ở nhóm kiểm soát

tốt là 3,1% ( p<0,01). tỷ="" lệ="" bị="" tsg/sg="" trong="" nhóm="" đtđtk="" kiểm="">

không tốt là 26,0%, cao hơn ở nhóm ĐTĐTK kiểm soát tốt ( p<>

Tỷ lệ đa ối ở nhóm ĐTĐTK kiểm soát không tốt là 16%, nhóm ĐTĐTK

kiểm soát tốt là 2,1( p<0,01). trong="" nhóm="" đtđtk="" kiểm="" soát="" không="">

có 6,7% trường hợp sinh thai to, tỷ lệ này trong nhóm ĐTĐTK kiểm soát

tốt là 2,1%. Có 3 trường hợp tử vong chu sinh thuộc nhóm ĐTĐTK kiểm

soát không tốt. Tỷ lệ sơ sinh bị hạ đường huyết ở nhóm ĐTĐTK kiểm

soát không tốt là 28,0%, nhóm ĐTĐTK kiểm soát tốt tỷ lệ này là 7,2%(

p<0,05). kết="" luận:="" tỷ="" lệ="" đtđtk="" ở="" phụ="" nữ="" có="" yếu="" tố="" nguy="" cơ="" cao="">

Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng là 37,4%. ĐTĐTK kiểm soát không tốt

ảnh hưởng đến đẻ non, TSG/SG, đa ối, thai to, hạ đường huyết

pdf 6 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ ở phụ nữ có yếu tố nguy cao và mức độ ảnh hưởng tới thai phụ, thai nhi ở Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ ở phụ nữ có yếu tố nguy cao và mức độ ảnh hưởng tới thai phụ, thai nhi ở Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng

Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ ở phụ nữ có yếu tố nguy cao và mức độ ảnh hưởng tới thai phụ, thai nhi ở Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(04), 41 - 46, 2017
41
Vũ Văn Tâm, Lưu Vũ Dũng 
Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng
TỶ LỆ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG THAI KỲ
Ở PHỤ NỮ CÓ YẾU TỐ NGUY CAO
VÀ MỨC ĐỘ ẢNH HƯỞNG TỚI THAI PHỤ, THAI NHI
Ở BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HẢI PHÒNG
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Vũ Văn Tâm,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 20/12/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
23/12/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 30/12/2016
Từ khóa: Đái tháo đường thai 
kì, yếu tố nguy cơ, Bệnh viện 
Phụ Sản Hải Phòng.
Keywords: Gestational 
diabetes mellitus, risk factors, 
Haiphong Hospital of 
Gynecology and Obstetrics.
Tóm tắt
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang trên 400 thai 
phụ có yếu tố nguy cơ cao được sàng lọc đái tháo đường thai kỳ bằng 
nghiệm pháp dung nạp Glucose máu theo hướng dẫn của Hiệp hội Đái 
tháo đường Hoa Kỳ năm 2010. 
Mục tiêu: xác định tỷ lệ ĐTĐTK ở nhóm phụ nữ có yếu tố nguy cơ cao 
và mức độ ảnh hưởng của ĐTĐTK đến thai phụ và thai nhi tại Bệnh viện 
Phụ Sản Hải Phòng.
Kết quả: Tỷ lệ ĐTĐTK tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng là 36,8%. 
Càng nhiều yếu tố nguy cơ thì tỷ lệ mắc ĐTĐTK càng cao. Tỷ lệ đẻ non 
ở nhóm ĐTĐTK kiểm soát không tốt là 28,0% còn ở nhóm kiểm soát 
tốt là 3,1% ( p<0,01). Tỷ lệ bị TSG/SG trong nhóm ĐTĐTK kiểm soát 
không tốt là 26,0%, cao hơn ở nhóm ĐTĐTK kiểm soát tốt ( p<0,01). 
Tỷ lệ đa ối ở nhóm ĐTĐTK kiểm soát không tốt là 16%, nhóm ĐTĐTK 
kiểm soát tốt là 2,1( p<0,01). Trong nhóm ĐTĐTK kiểm soát không tốt 
có 6,7% trường hợp sinh thai to, tỷ lệ này trong nhóm ĐTĐTK kiểm soát 
tốt là 2,1%. Có 3 trường hợp tử vong chu sinh thuộc nhóm ĐTĐTK kiểm 
soát không tốt. Tỷ lệ sơ sinh bị hạ đường huyết ở nhóm ĐTĐTK kiểm 
soát không tốt là 28,0%, nhóm ĐTĐTK kiểm soát tốt tỷ lệ này là 7,2%( 
p<0,05). Kết luận: Tỷ lệ ĐTĐTK ở phụ nữ có yếu tố nguy cơ cao tại 
Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng là 37,4%. ĐTĐTK kiểm soát không tốt 
ảnh hưởng đến đẻ non, TSG/SG, đa ối, thai to, hạ đường huyết.
Từ khóa: Đái tháo đường thai kì, yếu tố nguy cơ, Bệnh viện Phụ Sản 
Hải Phòng.
Abstract 
PREVALENCE OF GESTATIONAL DIABETES 
MELLITUS IN HIGH-RISK PREGNANCIES AND 
ADVERSE OUTCOMES AT HAIPHONG HOSPITAL 
OF GYNECOLOGY AND OBTETRICS
Methods: It’s a cross-sectional and descriptive study in 400 high-risk 
Tập 14, số 04
Tháng 02-2017
VŨ VĂN TÂM, LƯU VŨ DŨNG
42
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
02
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
pregnancies who were screened for gestational diabetes mellitus (GDM) by the 75 gram glucose 
tolerance test with American Diabetes Associaion 2010 criteria.
Objectives: Determine the prevalence of GDM in high-risk pregnant women and adverse outcomes 
at Haiphong Hospital of Gynecology and Obstetrics.
Results: The prevalence of GDM in high-risk pregnancies is 36,8%, the more high risk they have, 
the more possibility they have GDM. The rate of preterm birth in the not-well treated patient is 26,0%, 
higher than in the control (3,1%) (p< 0,01). The rate of pre-eclampsia in not-well treated group is 26,0%, 
higher than in well-treated group (p< 0,01). The rate of polyhydramnios in the not-well treated group is 
16,0%, in the control group is 2,1% (p< 0,01). 6,7% of GDM not-well treated patient had a macrosomia, 
in the control group is 2,1%. There were 3 perinatal mortalities and both of them were in not-well 
treated group. The rate of neonatal hypoglycemia is 28,0% in not-well treated patient. Conclusion: The 
prevalence of GDM in high-risk pregnancies is 36,8%. Some adverse outcomes in not-well treated 
patient is preterm birth, pre-eclampsia, polyhydramnios, macrosomia and neonatal hypoglycemia.
Keywords: gestational diabetes mellitus, risk factors, Haiphong Hospital of Gynecology and Obstetrics.
các thai phụ có nguy cơ cao được chẩn đoán và 
điều trị kịp thời tránh được những tai biến [4].
Cho đến nay chưa có một nghiên cứu nào về 
thực trạng ĐTĐTK ở thai phụ có yếu tố nguy cơ 
cao tại thành phố Hải Phòng. Vì vậy, chúng tôi 
tiến hành nghiên cứu sàng lọc ĐTĐTK bằng nghiệm 
pháp dung nạp Glucose nhằm hai mục tiêu: xác 
định tỷ lệ ĐTĐTK ở nhóm phụ nữ có yếu tố nguy cơ 
cao và mức độ ảnh hưởng của ĐTĐTK đến thai phụ 
và thai nhi tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng. 
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang.
Đối tượng nghiên cứu: Thai phụ đến khám thai tại 
Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng hội đủ các tiêu chuẩn 
chọn mẫu và không có các tiêu chuẩn loại trừ.
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn mẫu: là những thai phụ 
tuổi thai ≤ 28 tuần, có một hoặc nhiều hơn các yếu 
tố nguy cơ cao ĐTĐTK sau: (i) Thừa cân, béo phì 
trước khi mang thai (BMI ≥ 23); (ii)Tiền sử gia đình 
thế hệ thứ nhất có người ĐTĐ: Bố, mẹ, anh, chị, 
em; (iii) Tiền sử đẻ con to ≥ 4000g; (iv) Đường niệu 
dương tính; (v) Tiền sử rối loạn dung nạp glucose, 
tiền sử ĐTĐTK lần trước; (vi) Tiền sử sản khoa nặng 
nề: thai lưu, sẩy thai liên tiếp; (vii) Thai phụ bị hội 
chứng buồng trứng đa nang.
1. Đặt vấn đề 
Đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) là một bệnh rối 
loạn chuyển hóa nội tiết phổ biến ảnh hưởng đến 
7% thai phụ mỗi năm [1]. Các rối loạn đặc trưng 
bởi quá trình không dung nạp carbohydrate bắt 
đầu từ lần đầu tiên trong khi mang thai. Sự phổ 
biến của ĐTĐTK thay đổi tỷ lệ thuận với sự phổ 
biến của bệnh đái tháo đường tuýp 2 trong cộng 
đồng [2]. 
Có nhiều bằng chứng chỉ ra mối liên hệ giữa 
ĐTĐTK với tăng tỷ lệ các biến cố chu sinh ở mẹ và 
thai nhi [1] như tiền sản giật, thai chết lưu, sảy thai, 
hội chứng suy hô hấp cấp, tử vong chu sinh, thai 
to gây đẻ khó... Người mẹ bị đái tháo đường trong 
thời kỳ có thai có nguy cơ tăng huyết áp, đặc biệt 
nguy cơ mắc đái tháo đường type 2 thực sự sau 
này [3]. Do đó, việc tầm soát và chẩn đoán đái 
tháo đường thai kỳ đóng vai trò quan trọng giúp 
các nhà lâm sàng theo dõi, điều trị kịp thời, từ đó 
phòng ngừa các tai biến thai sản cũng như hạn chế 
các hậu quả lâu dài.
Những phụ nữ có yếu tố nguy cơ cao bị ĐTĐTK 
rất cần được sàng lọc và chẩn đoán ngay từ lần 
khám thai đầu tiên; bởi vì những thai phụ có yếu tố 
nguy cơ thì tỷ lệ ĐTĐTK cao và xuất hiện sớm hơn 
so với thai phụ bình thường. Trên thế giới đã có rất 
nhiều công trình nghiên cứu về ĐTĐTK và nhờ đó 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(04), 41 - 46, 2017
43
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ: (i) đã được chẩn 
đoán đái tháo đường từ trước khi có thai; (ii) đang 
mắc các bệnh có ảnh hưởng đến chuyển hóa 
Glucose: cường giáp, suy giáp, hội chứng Cushing 
; (iii) đang sử dụng các thuốc có ảnh hưởng đến 
chuyển hóa Glucose; (iv) đang mắc các bệnh cấp 
tính: nhiễm khuẩn, lao phổi; (v) các thai phụ 
không đồng ý tham gia vào nghiên cứu; (vi) các 
thai phụ đã được chẩn đoán ĐTĐTK từ nơi khác 
chuyển đến.
2.1.3. Cỡ mẫu được tính theo công thức
Trong đó: n = cỡ mẫu nghiên cứu cần thiết tối 
thiểu; α = mức ý nghĩa thống kê; với α = 0,05 thì 
hệ số Z1-α/2 =1,96; p = 30,6% (tỷ lệ ĐTĐTK ở nhóm 
có yếu tố nguy cơ cao theo Nguyễn Thị Kim Liên 
2010 [5]; q = 1 – p; d = sai số mong đợi, chọn ε = 
15%. Do đó: n = 388.
Vậy nghiên cứu có n = 388 , làm tròn thành 
400 (thai phụ).
2.2. Các bước tiến hành sàng lọc và 
chẩn đoán
Các thai phụ tham gia nghiên cứu được hỏi 
bệnh, khám bệnh, làm xét nghiệm.Với những thai 
phụ có YTNC được tư vấn làm nghiệm pháp dung 
nạp Glucose (NPDN Glucose) từ lần khám thai đầu 
tiên (<24 tuần). Nếu NPDN Glucose dương tính 
sẽ chẩn đoán ĐTĐTK và được tư vấn điều trị. Nếu 
NPDN Glucose âm tính sẽ được hẹn làm lại NPDN 
Glucose vào tuần thai 24 – 28 tuần. Tại thời điểm 
này, nếu NPDN Glucose dương tính sẽ chẩn đoán 
ĐTĐTK. Nếu NPDN Glucose âm tính là bình thường.
Chẩn đoán ĐTĐTK: thực hiện theo khuyến cáo 
hội nghị quốc tế về ĐTĐTK tại Hoa Kỳ 2010 [6].
Các xét nghiệm được thực hiện trên máy sinh 
hóa tự động AU 400 tại khoa Hóa sinh Bệnh viện 
Phụ Sản Hải Phòng.
Thời điểm lấy mẫu Ngưỡng giá trị chẩn đoán
Lúc đói 5,3 mmol/L
1 giờ 10,0 mmol/L
2 giờ 8,6 mmol/L
Bảng 2.1: Tiêu chí chẩn đoán ĐTĐTK bằng NPDNG với 75 gram Glucose uống theo HNQT 
lần thứ IV tại Hoa Kỳ năm 2010 [6]
2.3. Xử lý số liệu
Các số liệu thu nhận được nhập liệu và phân 
tích bằng phần mềm SPSS 16.0. Các biến số định 
lượng được trình bày dưới dạng giá trị trung bình 
và độ lệch chuẩn. Biến số định tính được trình bày 
theo tần suất và tỷ lệ phần trăm. So sánh sự khác 
biệt của phân bố biến số định tính được thực hiện 
bằng phép kiểm Chi- square. Nếu giả định của 
phép kiểm chi bình phương không đạt (khi có trên 
20% các ô có giá trị mong đợi < 5) thì phép kiểm 
định Fisher’s sẽ được sử dụng. Giá trị p ≤ 0,05 
được xem là có ý nghĩa thống kê.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Tỷ lệ ĐTĐTK ở thai phụ có yếu tố nguy 
cơ cao tại BVPS Hải Phòng
Trong số 400 thai phụ yếu tố nguy cơ cao tham 
gia nghiên cứu thì có 147 thai phụ được chẩn đoán 
ĐTĐTK, chiếm tỷ lệ 36,8%.
Thời điểm chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ
Tuổi thai trung bình được phát hiện ĐTĐTK là 
27,5 ± 3,5. Trong số 147 thai phụ được chẩn đoán 
Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ ĐTĐTK theo HNQT tại Hoa Kỳ năm 2010
Biểu đồ 3.2: Phân bố thời điểm chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ
Yếu tố nguy cơ Đái tháo đường thai kỳ n Tỷ lệ (%)
BMI ≥ 23 58 101 57,4
TSGĐ ĐTĐ 34 58 58,6
TS con ≥ 4000g 35 65 53,8
Đường niệu 23 88 26,1
TS ĐTĐTK 18 23 78,3
TS thai lưu ≥ 2 38 72 52,8
PCOS 24 43 55,8
Bảng 3.1: Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ với các yếu tố nguy cơ
Tập 14, số 04
Tháng 02-2017
VŨ VĂN TÂM, LƯU VŨ DŨNG
44
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
02
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
ĐTĐTK có: 56 người được chẩn đoán trước 24 tuần 
(38,1%) thai phụ được chẩn đoán ĐTĐTK; 91 người 
chẩn đoán sau 24 tuần (61,9%).
Có 78,3% thai phụ có tiền sử ĐTĐTK có ĐTĐTK 
trong lần mang thai này; 53,8% thai phụ có tiền 
sử con ≥4000g, chỉ có 26,1% thai phụ có tiền sử 
đường niệu được chẩn đoán ĐTĐTK.
Thai phụ có càng nhiều yếu tố nguy cơ cao thì 
tỷ lệ ĐTĐTK càng nhiều
3.2. Mức độ ảnh hưởng của ĐTĐTK 
đến thai phụ và thai nhi 
3.2.1. Ảnh hưởng của ĐTĐTK đến thai phụ 
Trong nhóm thai phụ ĐTĐTK kiểm soát tốt, tỷ 
lệ thai phụ có biến chứng sản khoa (23,8%) thấp 
hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm kiểm soát 
không tốt (56,5%) với p<0,001. Nhóm thai phụ 
ĐTĐTK kiểm soát không tốt có nguy cơ cao gấp 4 
lần nhóm thai phụ ĐTĐTK kiểm soát tốt. (OR=4,2; 
95%CI: 1,9-8,7)
-Tỷ lệ đẻ non ở nhóm ĐTĐTK kiểm soát không 
tốt là 28,0% còn ở nhóm kiểm soát tốt là 3,1%, sự 
khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,01.
Biểu đồ 3.3: Phân bố tỷ lệ bệnh ĐTĐ theo số lượng yếu tố nguy cơ
Nhóm
Mẹ có biến chứng Mẹ có biến chứng
Tổng P
n % n %
ĐTĐTK kiểm soát không tốt 26 56,5 20 43,5 46 <0,001 
OR=4,2 
95%CI(1,9-8,7)
ĐTĐTK kiểm soát tốt 24 23,8 77 76,2 101
Tổng 50 97 147
Bảng 3.2: Tỷ lệ biến chứng sản khoa trên thai phụ ĐTĐTK
Biến chứng
ĐTĐTK kiểm soát không 
tốt (n=50)
ĐTĐTK 
kiểm soát tốt (n = 97) p
n % n %
Đẻ non (n=17) 14 28,0 3 3,1 < 0,01
TSG/ SG (n=14) 13 26,0 1 1,0 <0,01
Đa ối (n=10) 8 16,0 2 2,1 <0,01
Thai lưu (n=1) 1 2,0 0 0 -
Bảng 3.3: Tỷ lệ một số biến chứng sản khoa
- Tỷ lệ bị TSG/SG trong nhóm ĐTĐTK kiểm 
soát không tốt là 26,0%, cao hơn ở nhóm ĐTĐTK 
kiểm soát tốt. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê 
với p<0,01.
- Tỷ lệ đa ối ở nhóm ĐTĐTK kiểm soát không tốt 
là 16%, nhóm ĐTĐTK kiểm soát tốt là 2,1%, khác 
biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,01.
- Có 1 trường hợp thai chết lưu thuộc nhóm 
ĐTĐTK kiểm soát không tốt.
3.2.2. Ảnh hưởng của ĐTĐTK đến trẻ sơ sinh 
- Trong nhóm ĐTĐTK kiểm soát không tốt có 
8,0% trường hợp sinh thai to, tỷ lệ này trong nhóm 
ĐTĐTK kiểm soát tốt là 2,1%. 
- 3 trường hợp tử vong chu sinh thuộc nhóm 
ĐTĐTK kiểm soát không tốt. 
- Tỷ lệ sơ sinh bị hạ đường huyết ở nhóm ĐTĐTK 
kiểm soát không tốt là 28,0%, nhóm ĐTĐTK kiểm 
soát tốt tỷ lệ này là 7,2%, khác biệt có ý nghĩa 
thống kê với p<0,05. 
4. Bàn luận
4.1. Tỷ lệ ĐTĐTK ở thai phụ có yếu t ố 
nguy cơ cao tại BVPS Hải Phòng
 Về thời điểm chẩn đoán ĐTĐTK: Trong số 
147 thai phụ được chẩn đoán ĐTĐTK có 56 
người được chẩn đoán trước 24 tuần chiếm 
38,1% thai phụ được chẩn đoán ĐTĐTK. ĐTĐTK 
được phát hiện với tỷ lệ cao nhất ở tuổi thai 
trên 24 tuần (55,8%), có 7,5 % bệnh nhân được 
phát hiện ra ĐTĐTK ngay trong quý 1 (11/147). 
Có hai trường hợp được chẩn đoán lúc thai 8 
tuần với yếu tố nguy cơ tiền sử ĐTĐTK. Kết quả 
nghiên cứu của chúng tôi tương tự với kết quả 
nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Liên (2010) có 
32,6% thai phụ có nguy cơ cao được chẩn đoán 
ĐTĐTK trước 24 tuần tuổi thai [5]. Kết quả của 
chúng tôi cao hơn so với Angadi và cộng sự 
tiến hành năm 2012 trên 1150 thai phụ. Tác 
Biến chứng
ĐTĐTK kiểm soát không 
tốt (n = 50)
ĐTĐTK kiểm soát tốt 
(n = 97) p
n % n %
Thai to 4 8,0 2 2,1 >0,05
Chết chu sinh 3 6,0 1 1,0 -
Chấn thương trong cuộc đẻ 2 4,0 1 1,0 -
Hạ đường huyết 14 28,0 7 7,2 <0,05
Hạ can xi huyết 7 14,0 13 13,4 >0,05
Bảng 3.4: Tỷ lệ biến chứng sơ sinh
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(04), 41 - 46, 2017
45
giả nhận thấy tỷ lệ ĐTĐTK được phát hiện trước 
24 tuần thai là 18% [7]. Một số các bác sỹ sản 
khoa đã bắt đầu quan tâm tới sang lọc ĐTĐTK, 
nhưng thường chỉ làm xét nghiệm từ 24 – 28 
tuần. Với những thai phụ có yếu tố nguy cơ cao 
chưa được quan tâm đúng mức để sàng lọc sớm, 
chẩn đoán kịp thời. Chính vì vậy, các thai phụ 
ĐTĐTK thường được chẩn đoán muộn và thực tế 
lâm sàng đã có những tai biến vô cùng đáng tiếc 
xảy ra [8]. Cần phải sàng lọc chẩn đoán sớm 
ĐTĐTK cho các thai phụ có nguy cơ cao ngay từ 
lần khám thai đầu tiên vì trong 3 tháng đầu của 
thai kỳ, nếu thai phụ bị bệnh mà không được 
chẩn đoán và điều trị kịp thời thì sẽ gây sẩy thai, 
thai lưu hoặc các dị tật bẩm sinh cho thai nhi. 
Tỷ lệ ĐTĐ thai kỳ theo số lượng các yếu tố 
nguy cơ: Biểu đồ 3.3 cho thấy càng nhiều yếu 
tố nguy cơ thì tỷ lệ mắc ĐTĐTK càng cao. Tỷ lệ 
ĐTĐTK ở nhóm thai phụ có một yếu tố nguy cơ 
là 11,8%, nhóm thai phụ có hai yếu tố nguy cơ 
là 74,6%; nhóm có ba yếu tố nguy cơ là 78,3%, 
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,001. 
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Liên cho thấy 
rằng tỷ lệ ĐTĐTK của các thai phụ có 1 yếu tố 
nguy cơ là 20,3 %, nhưng nếu có 2 yếu tố nguy 
cơ thì tỷ lệ này là 66,7%, có từ 3 yếu tố nguy cơ 
trở lên thì tỷ lệ ĐTĐTK là 100%. Nghiên cứu của 
Gandevani, tiến hành ở Tehran năm 2008 và 
nghiên cứu của Dyck ở Canada năm 2006 cũng 
chỉ ra rằng tỷ lệ ĐTĐTK gia tăng theo số lượng 
các yếu tố nguy cơ [8]. Kết quả này cũng cho 
thấy các bác sỹ sản khoa cần tuân thủ chặt chẽ 
quy trình khám thai và quản lý thai nghén, nhằm 
phát hiện những thai phụ có yếu tố nguy cơ, đặc 
biệt là những thai phụ có nhiều yếu tố nguy cơ 
được làm NPDNG sớm và tư vấn chế độ dinh 
dưỡng hợp lý [6].
4.2. Mức độ ảnh hưởng của ĐTĐTK 
đến thai phụ và thai nhi
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 
trong nhóm thai phụ ĐTĐTK kiểm soát tốt, tỷ lệ 
thai phụ có biến chứng sản khoa (23,8%) thấp 
hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm kiểm soát 
không tốt (56,5%) với p<0,001. Nhóm thai 
phụ ĐTĐTK kiểm soát không tốt có nguy cơ cao 
gấp 4 lần nhóm thai phụ ĐTĐTK kiểm soát tốt. 
(OR=4,2; 95%CI: 1,9-8,7). Tỷ lệ đẻ non ở nhóm 
ĐTĐTK kiểm soát không tốt là 28,0% còn ở nhóm 
kiểm soát tốt là 3,1%, sự khác biệt có ý nghĩa 
thống kê với p<0,01. Tỷ lệ bị TSG/SG trong 
nhóm ĐTĐTK kiểm soát không tốt là 26,0%, cao 
hơn ở nhóm ĐTĐTK kiểm soát tốt (chỉ có 1 thai 
phụ nào bị TSG/SG chiếm tỷ lệ 1,0%). Sự khác 
biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,01. Tỷ lệ đa 
ối ở nhóm ĐTĐTK kiểm soát không tốt là 16%, 
nhóm ĐTĐTK kiểm soát tốt là 2,1%, khác biệt có 
ý nghĩa thống kê với p<0,01. Trong nghiên cứu 
này đặc biệt có 1 trường hợp thai chết lưu thuộc 
nhóm ĐTĐTK kiểm soát không tốt.
Trong nhóm ĐTĐTK kiểm soát không tốt có 
6,7% trường hợp sinh thai to, tỷ lệ này trong 
nhóm ĐTĐTK kiểm soát tốt là 2,1%. Có 3 trường 
hợp tử vong chu sinh thuộc nhóm ĐTĐTK kiểm 
soát không tốt. Tỷ lệ sơ sinh bị hạ đường huyết 
ở nhóm ĐTĐTK kiểm soát không tốt là 28,0%, 
nhóm ĐTĐTK kiểm soát tốt tỷ lệ này là 7,2%, 
khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05. 
Kết quả này tương tự với kết quả nghiên cứu của 
Nguyễn Khoa Diệu Vân cho thấy: kiểm soát tốt ĐH 
giảm được tỷ lệ biến chứng sơ sinh, rõ nhất là biến 
chứng hạ ĐH sơ sinh; có 3 trường hợp thai chết 
chu sinh và một trường hợp chấn thương (sai khớp 
vai và tổn thương đám rối thần kinh cánh tay) đều 
ở nhóm ĐTĐTK kiểm soát không tốt; biến chứng 
thường gặp nhất là hạ ĐH sơ sinh, thứ đến là thai 
to, ít gặp nhất là dị tật bẩm sinh. Nghiên cứu của 
Oslund [9] trên 116 thai phụ ĐTĐTK cho kết quả tỷ 
lệ hạ ĐH là 20,9%, tăng bilirubin là 6,1%. So với 
nghiên cứu của Lange và cộng sự [10] trên 2030 
thai phụ ĐTĐTK kiểm soát ĐH tốt thì kết quả của 
chúng tôi thấp hơn: thai to 9,3% (so với 1,56%), 
chết chu sinh là 0,1% (so với 0%), hạ ĐH sơ sinh là 
7,1% (so với 4,61%), và tăng bilirubin là 8,4% (so 
với 0%). Tuy nhiên, các nghiên cứu trên phần lớn 
có cỡ mẫu nhỏ, số lượng sơ sinh có biến chứng thu 
được là rất ít nên để có thể rút ra kết luận đáng tin 
cậy về các biến chứng sơ sinh thì rất cần có thêm 
các nghiên cứu lớn hơn nữa
5. Kết luận và kiến nghị
Tỷ lệ ĐTĐTK ở nhóm thai phụ có yếu tố nguy 
cơ cao theo tiêu chuẩn khuyến cáo hội nghị quốc 
tế về ĐTĐTK tại Hoa Kỳ 2010 tại Bệnh viện Phụ 
Sản Hải Phòng là 36,8%. 
Tập 14, số 04
Tháng 02-2017
VŨ VĂN TÂM, LƯU VŨ DŨNG
46
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
02
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Hậu quả của ĐTĐTK kiểm soát không tốt ảnh 
hưởng đến thai phụ và thai nhi là: đẻ non, TSG/
SG, đa ối, thai to, hạ đường huyết.
KIẾN NGHỊ: Cần sàng lọc sớm ĐTĐTK ngay 
từ lần đầu tiên đến khám đối với thai phụ có yếu 
tố nguy cơ cao để hướng dẫn điều trị.
Tài liệu tham khảo
1. ACOG technical bulletin (1995), Diabetes and pregnancy, Number 
200- December 1994. Committee on technical bulletins of the America.
2. Sacks, D. A., Hadden, D. R., Maresh, M., Deerochanawong, C., 
Dyer, A. R., Metzger, B. E., et al., (2012), Frequency of gestational 
diabetes mellitus at collaborating centers based on IADPSG 
consensus panel-recommended criteria: the Hyperglycemia and 
Adverse Pregnancy Outcome (HAPO) Study. Diabetes Care, 35(3), 
526-528.
3. Nguyễn Khoa Diệu Vân, Thái Thị Thanh Thúy (2014), Nghiên cứu 
tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ theo tiêu chuẩn ADA 2011 và các yếu 
tố nguy cơ. Báo cáo khoa học. Hội nghị khoa học và chuyển hóa 
toàn quốc lần thứ VII.
4. Crowther C.A , Catalano PM, Tyzbir ED (2005): “Effect of 
Treatment of Gestational Diabetes Mellitus on Pregnancy Outcomes”; 
NEJM ;352(24) pp: 77-86.
5. Nguyễn Thị Kim Liên (2010), Nghiên cứu về đái tháo đường thai 
kỳ ở nhóm thai phụ có yếu tố nguy cơ cao tại Bệnh viện Phụ sản 
Trung ương, Luận văn Thạc sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội
6. American Diabetes Association (2010). Diagnosis and Classification 
of Diabetes Mellitus, Diabetes Care. Jan; 33(Suppl 1): S62–S69. 
7. Angadi RN, Raju VS, Dakshayini BR, Syed AZ (2012), Screening 
in high-risk group of gestational diabetes mellitus with its maternal 
and fetal outcomes, Indian J Endocrinol Metab. 2012 Mar; 16(Suppl1): 
S74–S78.
8. Gandevani SB, Garshasbi AH, Niri SS, Mohammad MN (2012), 
New criteria for gestational diabetes in Tehran, Iran. Iran J Reprod 
Med, May; 10(3): 237–242.
9. Ostlund I, Hanson U, BJ, Orklund A et al (2003) Maternal and 
fetal outcomes if gestational impaired glucose tolerance is not treated. 
Diabetes Care, 26: 2107–2111
10. Langer O, Conway DL, Berkus MD, Xenakis EM, Gonzales O 
(2000), A comparison of glyburide and insulin in women with gestational 
diabetes mellitus, N Engl J Med. Oct 19;343(16):1134-1138.

File đính kèm:

  • pdfty_le_dai_thao_duong_thai_ky_o_phu_nu_co_yeu_to_nguy_cao_va.pdf