Tỷ lệ biểu hiện trầm cảm và các yếu tố liên quan trên thai phụ đái tháo đường thai kỳ

Đặt vấn đề: Trầm cảm trong thai kỳ (TCTTK) và đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) có xu hướng ngày

càng tăng trên thế giới. có ảnh hưởng không tốt đến cả mẹ và thai.

Mục tiêu: Nghiên cứu khảo sát tỷ lệ biểu hiện trầm cảm trong thai kỳ ở thai phụ đái tháo đường thai kỳ và

một số yếu tố liên quan.

Đối tượng - Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 333 thai phụ đái tháo đường thai kỳ tại bệnh viện

Hùng Vương từ 06/03/2020 đến 31/05/2020 với bảng điểm EPDS.

Kết quả: 1. Tỷ lệ thai phụ ĐTĐTK có biểu hiện trầm cảm tại khoa Sản bệnh – bệnh viện Hùng Vương là

16,82%, với KTC 95% [12,96 - 21,28]. 2. Yếu tố có liên quan đến biểu hiện trầm cảm của thai phụ ĐTĐTK sau

khi phân tích đa biến bằng mô hình hồi quy logistic là: (i) Thai phụ có người tâm sự khi buồn/ lo lắng là bạn bè thì

tăng nguy cơ có biểu hiện TCTTK gấp 3,23 lần (ORhc=3,23 với KTC 95% [1,02 – 9,38] và p=0,035) và thai phụ

có người tâm sự là anh, chị, em ruột thì tăng nguy cơ gấp 6,55 lần (ORhc=6,55 với KTC 95% [1,23 – 33,14] và

p=0,023); (ii) Thai phụ có thời gian từ lúc chẩn đoán ĐTĐTK đến lúc được tầm soát trầm cảm càng dài thì càng

giảm nguy cơ có biểu hiện TCTTK, cụ thể là tăng thêm 1 tuần thì giảm nguy cơ 0,9 lần (ORhc=0,9 với KTC

95% [0,83 – 0,96] và p=0,003).

Kết luận: Trầm cảm trong thai kỳ trên thai phụ đái tháo đường thai kỳ là vấn đề cần được quan tâm và cần

thêm các nghiên cứu can thiệp trong tương lai

pdf 7 trang phuongnguyen 160
Bạn đang xem tài liệu "Tỷ lệ biểu hiện trầm cảm và các yếu tố liên quan trên thai phụ đái tháo đường thai kỳ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Tỷ lệ biểu hiện trầm cảm và các yếu tố liên quan trên thai phụ đái tháo đường thai kỳ

Tỷ lệ biểu hiện trầm cảm và các yếu tố liên quan trên thai phụ đái tháo đường thai kỳ
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 231 
TỶ LỆ BIỂU HIỆN TRẦM CẢM VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN 
TRÊN THAI PHỤ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG THAI KỲ 
Huỳnh Phúc Khánh Minh1, Tô Mai Xuân Hồng1, Võ Thị Thu Thủy2, Huỳnh Nguyễn Khánh Trang3 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Trầm cảm trong thai kỳ (TCTTK) và đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) có xu hướng ngày 
càng tăng trên thế giới. có ảnh hưởng không tốt đến cả mẹ và thai. 
Mục tiêu: Nghiên cứu khảo sát tỷ lệ biểu hiện trầm cảm trong thai kỳ ở thai phụ đái tháo đường thai kỳ và 
một số yếu tố liên quan. 
Đối tượng - Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 333 thai phụ đái tháo đường thai kỳ tại bệnh viện 
Hùng Vương từ 06/03/2020 đến 31/05/2020 với bảng điểm EPDS. 
Kết quả: 1. Tỷ lệ thai phụ ĐTĐTK có biểu hiện trầm cảm tại khoa Sản bệnh – bệnh viện Hùng Vương là 
16,82%, với KTC 95% [12,96 - 21,28]. 2. Yếu tố có liên quan đến biểu hiện trầm cảm của thai phụ ĐTĐTK sau 
khi phân tích đa biến bằng mô hình hồi quy logistic là: (i) Thai phụ có người tâm sự khi buồn/ lo lắng là bạn bè thì 
tăng nguy cơ có biểu hiện TCTTK gấp 3,23 lần (ORhc=3,23 với KTC 95% [1,02 – 9,38] và p=0,035) và thai phụ 
có người tâm sự là anh, chị, em ruột thì tăng nguy cơ gấp 6,55 lần (ORhc=6,55 với KTC 95% [1,23 – 33,14] và 
p=0,023); (ii) Thai phụ có thời gian từ lúc chẩn đoán ĐTĐTK đến lúc được tầm soát trầm cảm càng dài thì càng 
giảm nguy cơ có biểu hiện TCTTK, cụ thể là tăng thêm 1 tuần thì giảm nguy cơ 0,9 lần (ORhc=0,9 với KTC 
95% [0,83 – 0,96] và p=0,003). 
Kết luận: Trầm cảm trong thai kỳ trên thai phụ đái tháo đường thai kỳ là vấn đề cần được quan tâm và cần 
thêm các nghiên cứu can thiệp trong tương lai 
Từ khóa: biểu hiện trầm cảm trong thai kỳ, đái tháo đường thai kỳ 
ABSTRACT 
DEPRESSIVE SYMPTOMS IN WOMEN WITH GESTATIONAL DIABETES MELLITUS 
Huynh Phuc Khanh Minh, To Mai Xuan Hong, Vo Thi Thu Thuy, Huynh Nguyen Khanh Trang 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No. 1 - 2021: 231 - 237 
Background: Depression during pregnancy and gestational diabetes mellitus (GDM) tend to be on the rise 
around the world. Both of these problems have a negative effect on both mother and fetus. 
Objectives: This study was conducted to investigate the prevalence of depressive symptoms at GDM and 
some related factors. 
Methods: Cross-sectional study on 333 pregnant women with gestational diabetes mellitus at the 
Department of High risks pregnancy of Hung Vuong Hospita, HoChiMinh city, from March 6, 2020 to May 31, 
2020 with EPDS scores. 
Results: 1. The prevalence of depressive symptoms at GDM in the Department of High risks pregnancy - 
Hung Vuong Hospital was 16.82%, with 95% CI [12.96 - 21.28]. 2. Factors related to depressive manifestations 
of pregnant women with gestational diabetes after multivariate analysis using logistic regression model are: 
(i)Friends who Pregnant women confide in sadness/anxiety increased the risk of depression in pregnancy 3.23 
times higher (ORhc=3.23 with 95% CI [1.02 - 9.38] and p=0.035) and sibling who pregnant women with GDM 
1BM Phụ Sản, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 2Bệnh viện Hùng Vương 
3BM Sản Phụ khoa, Đại học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch 
Tác giả liên lạc: PGS.TS. Huỳnh Nguyễn Khánh Trang ĐT: 0903882015 Email: [email protected] 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 232 
confided in sadness/anxiety increased risk 6.55 times (ORhc=6.55 with 95% CI [1.23 - 33.14] and p=0.023); (ii) 
The longer a woman has from diagnosis of gestational diabetes to the longer she is screened for depression, the less 
likely she is to develop depression during pregnancy. An increase of 1 week resulted in a 0.9-fold decrease in risk 
(ORhc=0.9 with 95% CI [0.83 - 0.96] and p=0.003). 
Conclusion: Depression in pregnancy should be taken into consideration in pregnant women with 
gestational diabetes and need more intervention studies in the future. 
Keywords: depression manifestations in pregnancy, gestational diabetes 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Thai kỳ là khoảng thời gian quan trọng trong 
cuộc đời người phụ nữ, với những thay đổi lớn 
cả về thể chất lẫn tinh thần(1). Trong giai đoạn 
này, cơ thể trở nên nhạy cảm hơn với bệnh tật, 
đặc biệt là những rối loạn về tâm thần, và nổi bật 
hơn cả là rối loạn trầm cảm(2). Theo Hiệp hội Sản 
Phụ khoa Hoa kỳ (ACOG), tỉ lệ rối loạn trầm 
cảm ở thai phụ năm 2011 là 9% trong giai đoạn 
tiền sản và 10% trong giai đoạn hậu sản(3). Tại các 
quốc gia có thu nhập từ thấp đến trung bình đã 
cho thấy đến 25 - 35% thai phụ có các biểu hiện 
của trầm cảm trong thai kỳ (TCTTK), và 20% 
trong số đó thỏa các tiêu chuẩn chẩn đoán rối 
loạn trầm cảm(4). Các yếu tố nguy cơ của TCTTK 
đã được y văn ghi nhận bao gồm: tiền căn bản 
thân hoặc gia đình bị trầm cảm, bị ngược đãi lúc 
nhỏ, mẹ đơn thân, có nhiều hơn 3 con, hút thuốc 
lá, thu nhập thấp, trẻ tuổi, không được hỗ trợ từ 
xã hội và bạo hành gia đình(5). TCTTK đưa đến 
những kết cục xấu cho thai nhi như sanh non 
tháng, nhẹ cân, chậm phát triển, tử vong, và 
cho mẹ như đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK), 
các bệnh lý tăng huyết áp trong thai kỳ, chảy 
máu trước sinh, trầm cảm sau sinh(5). 
Các nghiên cứu về TCTTK đã ghi nhận được 
mối liên hệ giữa trầm cảm và ĐTĐTK. Nghiên 
cứu tại Canada năm 2018, nhận thấy những thai 
phụ ĐTĐTK có nguy cơ bị trầm cảm gấp khoảng 
2 lần những thai phụ không bị ĐTĐTK(6). Theo 
kết quả của một đánh giá hệ thống trên tập san 
về Đái tháo đường Thế giới (WJD) đã cho thấy tỷ 
lệ hiện mắc trầm cảm ở đái tháo đường thai kỳ 
dao động rất lớn, trong khoảng từ 4,1 đến 80% 
(trung bình là 14,7%), dựa trên 16 nghiên cứu lấy 
từ 2 cơ sở dữ liệu lớn là PUBMED và EMBASE(7). 
Bệnh viện Hùng Vương là một trong những 
tuyến cuối chuyên khoa sản phụ lớn của TP. Hồ 
Chí Minh, tại đây những thai kỳ nguy cơ cao 
được theo dõi và điều trị, trong đó có cả những 
trường hợp ĐTĐTK. Về tinh thần, những thai 
phụ được chẩn đoán ĐTĐTK không những phải 
chịu nhiều áp lực từ việc kiểm soát chặt chẽ về 
lối sống, ăn uống, sinh hoạt, sự bất tiện khi phải 
tiêm insulin mỗi ngày, mà còn phải đối mặt với 
nguy cơ xuất hiện những kết cục xấu cho thai 
nhi. Với câu hỏi nghiên cứu là: “Tỷ lệ thai phụ 
ĐTĐTK có biểu hiện trầm cảm là bao nhiêu, 
cũng như các yếu tố liên quan đến trầm cảm ở 
nhóm đối tượng này là gì?”. Để trả lời câu hỏi 
trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu với các mục 
tiêu: 
1. Xác định tỷ lệ thai phụ ĐTĐTK từ 24 
tuần trở lên có biểu hiện trầm cảm dựa trên 
thang điểm EPDS tại khoa Sản bệnh viện 
Hùng Vương, năm 2020. 
2. Xác định yếu tố liên quan đến biểu hiện 
trầm cảm, bao gồm 4 nhóm: Đặc điểm về kinh tế 
- xã hội - hôn nhân - gia đình của thai phụ; Đặc 
điểm về thông tin nền của chồng thai phụ; Đặc 
điểm về tiền căn sản khoa; Đặc điểm về tình 
trạng thai kỳ hiện tại 
ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Các thai phụ ĐTĐTK từ 24 tuần trở lên tại 
khoa Sản bệnh viện Hùng Vương trong thời gian 
từ 06/03/2020 đến 31/05/2020 thỏa các tiêu chuẩn 
chọn mẫu. 
Tiêu chuẩn chọn vào 
Các thai phụ từ đủ 18 tuổi trở lên. Các thai 
phụ có tuổi thai từ 24 tuần trở lên, nhập khoa 
Sản bệnh viện Hùng Vương từ 06/03/2020 đến 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 233 
31/05/2020, gồm nhóm nội trú tại khoa và nhóm 
khám ngoại trú. Các thai phụ đã được chẩn đoán 
ĐTĐTK bằng nghiệm pháp 75g Glucose – 2giờ 
theo tiêu chuẩn của ADA(8). Đồng ý tham gia 
nghiên cứu sau khi đã được thông tin đầy đủ và 
hiểu rõ về nghiên cứu. 
Tiêu chuẩn loại ra 
Tiền căn đã được chẩn đoán đái tháo đường 
type 1, 2; theo tiêu chuẩn của ADA(8) trước lần 
mang thai này. Tiền căn đã được chẩn đoán các 
bệnh lý về rối loạn tâm thần, đã hoặc đang được 
điều trị. Tình trạng bệnh nặng cần phải được 
điều trị cấp cứu. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu cắt ngang. 
Cỡ mẫu 
2
2
)2/1( )1(
d
ppZ
n
Trong đó: 
Z2(1-α/2): Trị số tới hạn ở KTC 95% (Z(1-α/2)=1,96 
với α=0,05). Chọn p=31% theo nghiên cứu tại 
Brazil (2014) của Patrícia D(9); d=0,05. Tính được 
n=329. Nghiên cứu (NC) thu nhận 333 đối tượng. 
Lấy mẫu toàn bộ. 
Thu thập dữ liệu 
Bảng câu hỏi soạn sẵn ghi lại những biến số 
nghiên cứu thông qua phỏng vấn trực tiếp kết 
hợp với hồ sơ bệnh án. 
Biến số chính: biểu hiện TCTTK với bảng 
thang điểm đánh giá TCTTK - Edinburgh 
Postnatal Depression Scale (EPDS) - cho thai 
phụ tự đánh giá. Thang điểm EPDS gồm 10 
câu hỏi, mỗi câu hỏi gồm 4 lựa chọn với điểm 
số từ 0 đến 3, thai phụ chọn 1 câu phù hợp với 
bản thân. Tổng số điểm sẽ được ghi nhận (dao 
động từ 0 đến 30 điểm). Kết quả: Những thai 
phụ có tổng số điềm từ 0 đến 12: không có 
biểu hiện TCTTK. Những thai phụ có tổng số 
điểm ≥13 được ghi nhận là có biểu hiện 
TCTTK. Những thai phụ này sẽ được giới 
thiệu đi khám chuyên khoa tâm thần và được 
điều trị trầm cảm khi chẩn đoán rối loạn trầm 
cảm chủ yếu được xác lập bởi bác sĩ chuyên 
khoa tâm thần. 
Xử lý dữ liệu 
Bằng phần mềm Microsoft Excel 2010. Phân 
tích dữ liệu: bằng phần mềm R phiên bản 3.6.3 
với thống kê mô tả và phân tích đơn biến và hồi 
quy đa biến. 
Y đức 
Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội 
đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại 
học Y Dược TP. HCM, số 238/ĐHYD-HĐĐĐ, 
ngày 25/03/2020. 
KẾT QUẢ 
Bảng 1: Đặc điểm về kinh tế - xã hội – hôn nhân – gia 
đình của thai phụ (N=333) 
Đặc điểm N (%) 
Tuổi của thai phụ (năm) 
18 – 24 
25 – 35 
≥ 36 
Tuổi của thai phụ trung bình (năm) 
36 (10,81%) 
209 (62,76%) 
88 (26,43%) 
31,64 ± 0,62 
Nơi cư ngụ 
 Nội thành 
 Ngoại thành 
213 (63,96%) 
120 (36,04%) 
Thai phụ đang sống 
Ở nhà riêng 
Ở chung với ba mẹ chồng 
Ở chung với ba mẹ ruột 
Ở nhà thuê 
106 (31,83%) 
85 (25,53%) 
64 (19,22%) 
78 (23,42%) 
Số lượng thành viên trong gia đình 
≤ 2 
3 
4 
≥ 5 
71 (21,32%) 
95 (28,53%) 
73 (21,92%) 
94 (28,23%) 
Tình trạng hôn nhân 
Đang sống với chồng 
Không còn sống với chồng 
Chưa kết hôn (có hoặc không sống chung) 
329 (98,8%) 
0 
4 (1,2%) 
Thời gian kết hôn trung bình (năm) 6,44 ± 0,57 
Nghề nghiệp của thai phụ 
Không việc làm/nội trợ 
Có việc làm, chưa ổn định 
Có việc làm, ổn định 
51 (15,32%) 
25 (7,5%) 
257 (77,18%) 
Trình độ học vấn của thai phụ 
Dưới cấp 1 
Cấp 1 
Cấp 2 
Cấp 3 
Trên cấp 3 
2 (0,6%) 
24 (7,21%) 
99 (29,73%) 
94 (28,23%) 
114 (34,23%) 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 234 
Đặc điểm N (%) 
Dân tộc 
Kinh 
Hoa 
Chăm 
Khmer 
Thái 
320 (96,1%) 
9 (2,7%) 
0 
3 (0,9%) 
1 (0,3%) 
Tôn giáo 
Phật giáo 
Thiên chúa giáo 
Hồi giáo 
Cao Đài 
Hòa Hảo 
Không tôn giáo 
66 (19,82%) 
33 (9,91%) 
0 
5 (1,5%) 
2 (0,6%) 
227 (68,17%) 
Thu nhập bình quân đầu người của hộ gia 
đình 
Hộ nghèo 
Hộ cận nghèo 
Hộ có mức sống trung bình 
Hộ khá trở lên 
Thu nhập bình quân đầu người của hộ gia 
đình trung bình (triệu VNĐ/ tháng) 
2 (0,6%) 
1 (0,3%) 
2 (0,6%) 
328 (98,5%) 
8,55 ± 0,59 
Có mâu thuẫn vơi gia đình bên chồng 
Có 
Không 
3 (0,9%) 
330 (99,1%) 
Người tâm sự khi buồn/ lo lắng 
Chồng 
Cha mẹ ruột 
Cha mẹ chồng 
Bạn bè 
Anh, chị, em ruột 
Em chồng 
Con 
Dì ruột 
Không có ai để tâm sự 
228 (68,47%) 
50 (15,02%) 
6 (1,8%) 
25 (7,51%) 
9 (2,7%) 
3 (0,9%) 
2 (0,6%) 
2 (0,6%) 
8 (2,4%) 
Đa phần ở độ tuổi sinh sản từ 25-35 tuổi. 
Chủ yếu sống trong nội thành, học vấn từ cấp 3 
trở lên, có việc làm ổn định với mức thu nhập 
bình quân đầu người của hộ gia đình từ khá trở 
lên. Phần lớn là dân tộc Kinh và không theo tôn 
giáo. Đa phần là đã kết hôn và đang sống với 
chồng, với thời gian kết hôn trung bình 6,44 
năm. Phần lớn chọn tâm sự với chồng khi có 
chuyện buồn hay lo lắng (Bảng 1). 
Bảng 2: Tỷ lệ thai phụ đái tháo đường thai kỳ từ 24 
tuần trở lên có biểu hiện trầm cảm (N=333) 
 n Tỷ lệ KTC 95% 
Có biểu hiện trầm cảm 
(EPDS ≥13) 
56 
16,82% 
(56/333) 
12,96 - 21,28% 
Tỷ lệ thai phụ ĐTĐTK từ 24 tuần trở lên có 
biểu hiện trầm cảm (EPDS ≥13) là 16,82%, với 
KTC 95% [12,96 - 21,28] (Bảng 2). 
Sau khi phân tích mối liên quan đa biến 
bằng mô hình hồi quy logistic, có 2 yếu tố thật 
sự có mối liên quan đến biểu hiện trầm cảm 
của thai phụ ĐTĐTK: Thai phụ có người tâm 
sự khi buồn/ lo lắng là bạn bè và anh, chị, em 
ruột thì tăng nguy cơ có biểu hiện trầm cảm 
trong thai kỳ lền lần lượt là 3,23 lần. Thai phụ 
có thời gian từ lúc chẩn đoán ĐTĐTK đến lúc 
được tầm soát trầm cảm càng dài thì càng 
giảm nguy cơ có biểu hiện TCTTK (Bảng 3). 
Bảng 3: Phân tích hồi quy logistic các yếu tố liên quan với biểu hiện triệu chứng trầm cảm trên thai phụ đái tháo 
đường thai kỳ 
Biến số 
EPDS ≥ 13 
ORhc KTC 95% p 
Dân tộc 
Kinh 
Hoa 
Khmer 
 Thái 
1 
3,27 
16,39 
7,3 x 10
7
Ref 
0,42 - 17,71 
1,11 – 480,27 
0 - ∞ 
Ref 
0,19 
0,054 
0,99 
Người tâm sự khi buồn/ lo lắng 
Chồng 
Cha mẹ ruột 
Cha mẹ chồng 
Bạn bè 
Anh, chị, em ruột 
Em chồng 
Con 
Dì ruột 
Không có ai để tâm sự 
1 
1,75 
6,04 x 10
-7
3,23 
6,55 
9,2 
3,47 x 10
-7
9,4 
1,28 
Ref 
0,75 – 3,91 
0 – 4,83 x 10
32
1,02 – 9,38 
1,23 – 33,14 
0,34 – 250,43 
0 – 2,92 x 10
67
0,31 – 269,33 
0,17 – 6,49 
Ref 
0,18 
0,99 
0,035 
0,023 
0,13 
0,99 
0,14 
0,78 
Tâm trạng khi biết có thai: 
Rất vui, không lo lắng gì 
1 
Ref 
Ref 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 235 
Biến số 
EPDS ≥ 13 
ORhc KTC 95% p 
Vui nhưng có lo lắng 
Không vui 
1,76 
2,36 
0,9 – 3,54 
0,1 – 22,75 
0,11 
0,5 
Thời gian từ lúc chẩn đoán ĐTĐTK đến lúc được tầm soát trầm cảm (tuần) 
Thời gian 
Thời gian + 1 tuần 
1 
0,9 
Ref 
0,83 – 0,96 
Ref 
0,003 
Sự lo lắng về tình trạng ĐTĐTK 
Không lo lắng 
Có lo ít 
Có lo nhiều 
1 
1,46 
3,8 
Ref 
0,29 – 13,28 
0,86 – 32,21 
Ref 
0,69 
0,13 
Có kèm thai với tăng trưởng trong tử cung bị giới hạn (IUGR) 
Có 
Không 
1 
0,59 
Ref 
0,29 – 1,2 
Ref 
0,14 
BÀN LUẬN 
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), đến năm 
2020, trầm cảm là căn bệnh thứ hai gây hại đến 
sức khỏe của con người, chỉ đứng sau các bệnh 
lý tim mạch. Tuy nhiên, rối loạn trầm cảm hoàn 
toàn có thể chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời 
trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu. 
Trầm cảm ở phụ nữ mang thai hiện nay vẫn 
còn là một vấn đề mới, cả trên thế giới và ở Việt 
Nam. Các công trình nghiên cứu về trầm cảm 
trong thai kỳ chưa nhiều như là trầm cảm sau 
sanh. Về lâm sàng, do các triệu chứng của trầm 
cảm thường hay bị trùng lắp với các thay đổi 
tâm sinh lý của người phụ nữ trong thai kỳ, đặc 
biệt là trong những tháng đầu thai kỳ, dẫn đến 
việc chẩn đoán TCTTK thường bị bỏ sót. Điều 
đáng nói là tỷ lệ TCTTK được y văn ghi nhận là 
không hề thấp. Nghiên cứu của Bennett HA năm 
2004(1) cho thấy tỷ lệ hiện mắc TCTTK lần lượt là 
7,4%, 12,8% và 12% ở các tam cá nguyệt thứ 
nhất, thứ hai và thứ ba cho thấy xu hướng mắc 
trầm tăng lên về cuối của thai kỳ. 
ACOG đã đưa ra khuyến cáo tầm soát trầm 
cảm cho thai phụ ít nhất 1 lần trong khoảng thời 
gian chu sinh(1). Trong số các công cụ dùng để 
tầm soát TCTTK, bảng điểm EPDS được sử 
dụng phổ biến nhất cả trong nghiên cứu lẫn thực 
hành lâm sàng. Theo ACOG, ưu điểm của bảng 
điểm EPDS nằm ở tính đa dạng về ngôn ngữ, 
với gần 50 phiên bản ngôn ngữ khác nhau trên 
thế giới(3), trong đó bao gồm cả Tiếng Việt. Ngoài 
ra, bảng điểm EPDS, với 10 câu hỏi trắc nghiệm, 
chỉ mất trung bình khoảng 5 phút để thai phụ tự 
trả lời(3), nên có tính thực tiễn cao, phù hợp với 
bối cảnh y tế đang quá tải tại Việt Nam. Theo 
một nghiên cứu tại Nhật Bản (2017), EPDS là 
một công cụ có giá trị rất tốt, với AUC là 0,956(10). 
Nghiên cứu trên cũng chỉ ra được, với điểm cắt 
là 13 điểm, bảng điểm EPDS có độ nhạy là 90%, 
độ đặc hiệu là 92,1%, giá trị tiên đoán dương là 
54,5% và giá trị tiên đoán âm là 98,9%. Tuy 
nhiên, với giá trị tiên đoán dương thấp (54,5%), 
sử dụng EPDS sẽ gặp khó khăn trong việc chẩn 
đoán xác định trầm cảm, do đó đòi hỏi cần có 
một tiêu chuẩn đầy đủ hơn, như DSM-V của 
Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ(11). 
Tỷ lệ có biểu hiện trầm cảm trong NC chúng 
tôi là 16,82% cao hơn với tỷ lệ trầm cảm trước 
sanh được đưa ra bởi Jonathan Evans J năm 
1991(12) là 13,5% ở tuần lễ thứ 32 của thai kỳ, cũng 
với EPDS ≥13 điểm. Qua đó cho thấy, dường 
như, tỷ lệ trầm cảm ở nhóm thai phụ ĐTĐTK, 
cũng ở tam cá nguyệt 2 – 3, có xu hướng cao hơn 
ở những thai phụ không mắc đái tháo đường. 
Điều này là phù hợp kết quả của các nghiên cứu 
về mối liên hệ giữa TCTTK và ĐTĐTK. 
Nhìn chung, tỷ lệ trầm cảm ở thai phụ 
ĐTĐTK có dao động rất lớn giữa các nghiên 
cứu. Phân tích tổng hợp về liên quan giữa trầm 
cảm và ĐTĐTK của Ross GP 2016(7), ghi nhận tỷ 
lệ này thay đổi từ 4,1% cho đến 80% (trung bình 
là 14,7%) với số đối tượng nghiên cứu rất khác 
biệt từ 22 đối tượng cho đến 52.848 đối tượng. 
Trong phân tích đơn biến, chúng tôi xác định 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 236 
các yếu tố nguy cơ biểu hiện trầm cảm bằng 
phép kiểm định Chi bình phương/kiểm định 
Fisher và kiểm định T để đánh giá ý nghĩa thống 
kê của các yếu tố. Sau khi xác định được các yếu 
tố có liên quan bằng phân tích đơn biến, chúng 
tôi tiến hành xây dựng mô hình hồi quy logistic 
dựa trên các yếu tố này, nhằm tìm ra các yếu tố 
có liên quan thật sự đến biểu hiện trầm cảm mà 
không bị gây nhiễu bởi các yếu tố khác. 
Sau khi đưa vào phân tích hồi quy logistic, 
kết quả chỉ còn lại 2 yếu tố là: (i) người tâm sự 
với thai phụ khi buồn/lo lắng và (ii) thời gian 
từ lúc chẩn đoán ĐTĐTK đến lúc được tầm 
soát trầm cảm là những yếu tố nguy cơ thật sự 
và ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến biểu 
hiện trầm cảm trong thai kỳ. 
Trái với những thai phụ có người tâm sự khi 
buồn hoặc lo lắng là những người thân gần gũi, 
sồng chung nhà như chồng, cha mẹ (ruột, chồng) 
hay con cái, những thai phụ phải tâm sự với 
những người tuy thân thiết nhưng lại ít gần gũi 
và ít có cơ hội tiếp xúc mỗi ngày, như bạn bè và 
anh chị em ruột, thì có lẽ sẽ cảm thấy thiếu thốn 
về mặt tinh thần nhiều hơn, từ đó dẫn đến tăng 
nguy cơ có biểu hiện trầm cảm. Các thai phụ 
không có người tâm sự khi buồn hoặc lo lắng có 
lẽ thuộc về nhóm người có tâm lý mạnh, vững 
vàng, do đó nguy cơ bị trầm cảm ở họ cũng sẽ 
thấp hơn. Tuy nhiên, những thai phụ chọn tâm 
sự với bạn bè, hay anh chị em ruột, những người 
có lẽ không sống chung, không gặp mặt, tiếp xúc 
mỗi ngày thì có lẽ thuộc nhóm người hay che 
giấu cảm xúc, không muốn người thân hay 
người gần gũi với họ biết được sự lo lắng hay 
cảm xúc tiêu cực của bản thân. Họ không đủ 
vững vàng về mặt tinh thần để tự mình vượt 
qua khó khăn mà không cần người tâm sự, 
nhưng lại ngại chia sẻ với người thân gần bên để 
nhận được sự hỗ trợ và cùng vượt qua khó khăn. 
Chính nhóm đối tượng này sẽ dễ có những mâu 
thuẫn về mặt tâm lý, từ đó làm tăng nguy cơ 
mắc trầm cảm. Căn cứ trên kết quả này, chúng 
tôi cho rằng nhân viên y tế nên tiến hành tư vấn 
về sức khỏe tâm thần cho thai phụ khi có mặt cả 
2 vợ chồng, để khuyến khích thai phụ thường 
xuyên chia sẻ, trao đổi những khó khăn, lo lắng 
với chồng và những người thân gần bên, qua đó 
có thể giảm được nguy cơ có biểu hiện trầm cảm. 
Về thời gian từ lúc được chẩn đoán ĐTĐTK 
đến lúc được tầm soát TCTTK càng dài thì càng 
giảm nguy cơ có biểu hiện trầm cảm, đây là một 
yếu tố có thể được vận dụng vào chương trình 
quản lý ĐTĐTK. Càng về cuối thai kỳ, thai phụ 
sẽ càng trở nên thích nghi với việc mang thai và 
với tình trạng bệnh của mình, có nhiều thời gian 
hơn để tâm sự, chia sẻ, trao đổi với người thân 
và với nhân viên y tế, từ đó sẽ giảm bớt nguy cơ 
mắc trầm cảm. 
Hạn chế của nghiên cứu 
Nghiên cứu được thực hiện tại Thành Phố 
Hồ Chí Minh, do đó dân số nghiên cứu vẫn chưa 
thể đại diện cho số thai phụ ĐTĐTK trên cả 
nước. Do thiết kế cắt ngang, các yếu tố có liên 
quan đến biểu hiện trầm cảm phát hiện qua 
phân tích hồi quy đa biến cũng chỉ có thể kết 
luận là tồn tại một mối liên quan có ý nghĩa 
thống kê. 
KẾT LUẬN 
Qua nghiên cứu trên 333 thai phụ ĐTĐTK có 
tuổi thai từ 24 tuần trở lên với kết quả như sau: 
1. Tỷ lệ thai phụ ĐTĐTK có biểu hiện trầm 
cảm tại khoa Sản bệnh – bệnh viện Hùng Vương 
là 16,82%, với KTC 95% [12,96 - 21,28]. 
2. Yếu tố có liên quan đến biểu hiện trầm 
cảm của thai phụ ĐTĐTK sau khi phân tích đa 
biến bằng mô hình hồi quy logistic là: 
(i) Thai phụ có người tâm sự khi buồn/ lo 
lắng là bạn bè thì tăng nguy cơ có biểu hiện 
TCTTK gấp 3,23 lần (ORhc=3,23 với KTC 95% 
[1,02 – 9,38] và p=0,035) và thai phụ có người 
tâm sự là anh, chị, em ruột thì tăng nguy cơ 
gấp 6,55 lần (ORhc=6,55 với KTC 95% [1,23 – 
33,14] và p=0,023). 
(ii) Thai phụ có thời gian từ lúc chẩn đoán 
ĐTĐTK đến lúc được tầm soát trầm cảm càng 
dài thì càng giảm nguy cơ có biểu hiện TCTTK, 
cụ thể là tăng thêm 1 tuần thì giảm nguy cơ 0,9 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 237 
lần (ORhc=0,9 với KTC 95% [0,83 – 0,96] và 
p=0,003). 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Bennett HA, Einarson A, Taddio A, et al (2004). "Prevalence of 
depression during pregnancy: systematic review". Obstertrics 
and Gynecology, 103(4):698-709. 
2. Gelaye B, Rondon MB, Araya R, Williams MA (2016). 
"Epidemiology of maternal depression, risk factors, and child 
outcomes in low-income and middle-income countries". Lancet 
Psychiatry, 3(10):973-982. 
3. American College of Obstetricians and Gynecologists (2018). 
"ACOG COMMITTEE OPINION Number 757 November 
2018: Screening for Perinatal Depression". Obstertrics and 
Gynecology, 132(5):208-212. 
4. Rahman A, Iqbal Z, Harrington R (2003). "Life events, social 
support and depression in childbirth: perspective from a rural 
community in the developing world". Psychological Medicine, 
33(7):1161-1167. 
5. Stewart DE (2011). "Depression during Pregnancy". New 
England Journal of Medicine, 365(17):1605 - 1611. 
6. Pace R, Rahme E, Da Costa D, Dasgupta K (2018). "Association 
between gestational diabetes mellitus and depression in 
parents: a retrospective cohort study". Clinical Epidemiology, 
10:1827–1838. 
7. Ross GP, Falhammar H, Chen R, et al (2016). "Relationship 
between depression and diabetes in pregnancy: A systematic 
review". World J Diabetes, 7(19):554-571. 
8. American Diabetes Association (2019). "Classification and 
Diagnosis of Diabetes: Standards of Medical Care in Diabetes 
2019". Diabetes Care, 42(1):13-28. 
9. Damé P, Cherubini K, Pâmella G (2014). "Depressive 
Symptoms in Women with Gestational Diabetes Mellitus: The 
LINDA-Brazil Study". Journal of Diabetes Research, pp.1. 
10. Usuda K, Makino M, Nishi D, Sano Y (2017). "Optimal cut-off 
score of the Edinburgh Postnatal Depression Scale for major 
depressive episode during pregnancy in Japan". Psychiatry and 
Clinical Neurosciences, 71:836-842. 
11. American Psychiatric Association (2013). Diagnostic and 
Statistical Manual of Mental Disorders, Fifth Edition. URL: 
https://doi.org/10.1176/appi.books.9780890425596. 
12. Evans J, Heron J, Francomb H, et al (1991). "Cohort study of 
depressed mood during pregnancy and after childbirth". BMJ 
Clinical Research, 323:257-260. 
Ngày nhận bài báo: 10/11/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 06/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021 

File đính kèm:

  • pdfty_le_bieu_hien_tram_cam_va_cac_yeu_to_lien_quan_tren_thai_p.pdf