Tỷ lệ biểu hiện trầm cảm và các yếu tố liên quan trên thai phụ đái tháo đường thai kỳ
Đặt vấn đề: Trầm cảm trong thai kỳ (TCTTK) và đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) có xu hướng ngày
càng tăng trên thế giới. có ảnh hưởng không tốt đến cả mẹ và thai.
Mục tiêu: Nghiên cứu khảo sát tỷ lệ biểu hiện trầm cảm trong thai kỳ ở thai phụ đái tháo đường thai kỳ và
một số yếu tố liên quan.
Đối tượng - Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 333 thai phụ đái tháo đường thai kỳ tại bệnh viện
Hùng Vương từ 06/03/2020 đến 31/05/2020 với bảng điểm EPDS.
Kết quả: 1. Tỷ lệ thai phụ ĐTĐTK có biểu hiện trầm cảm tại khoa Sản bệnh – bệnh viện Hùng Vương là
16,82%, với KTC 95% [12,96 - 21,28]. 2. Yếu tố có liên quan đến biểu hiện trầm cảm của thai phụ ĐTĐTK sau
khi phân tích đa biến bằng mô hình hồi quy logistic là: (i) Thai phụ có người tâm sự khi buồn/ lo lắng là bạn bè thì
tăng nguy cơ có biểu hiện TCTTK gấp 3,23 lần (ORhc=3,23 với KTC 95% [1,02 – 9,38] và p=0,035) và thai phụ
có người tâm sự là anh, chị, em ruột thì tăng nguy cơ gấp 6,55 lần (ORhc=6,55 với KTC 95% [1,23 – 33,14] và
p=0,023); (ii) Thai phụ có thời gian từ lúc chẩn đoán ĐTĐTK đến lúc được tầm soát trầm cảm càng dài thì càng
giảm nguy cơ có biểu hiện TCTTK, cụ thể là tăng thêm 1 tuần thì giảm nguy cơ 0,9 lần (ORhc=0,9 với KTC
95% [0,83 – 0,96] và p=0,003).
Kết luận: Trầm cảm trong thai kỳ trên thai phụ đái tháo đường thai kỳ là vấn đề cần được quan tâm và cần
thêm các nghiên cứu can thiệp trong tương lai
Tóm tắt nội dung tài liệu: Tỷ lệ biểu hiện trầm cảm và các yếu tố liên quan trên thai phụ đái tháo đường thai kỳ
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 231 TỶ LỆ BIỂU HIỆN TRẦM CẢM VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TRÊN THAI PHỤ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG THAI KỲ Huỳnh Phúc Khánh Minh1, Tô Mai Xuân Hồng1, Võ Thị Thu Thủy2, Huỳnh Nguyễn Khánh Trang3 TÓM TẮT Đặt vấn đề: Trầm cảm trong thai kỳ (TCTTK) và đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) có xu hướng ngày càng tăng trên thế giới. có ảnh hưởng không tốt đến cả mẹ và thai. Mục tiêu: Nghiên cứu khảo sát tỷ lệ biểu hiện trầm cảm trong thai kỳ ở thai phụ đái tháo đường thai kỳ và một số yếu tố liên quan. Đối tượng - Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 333 thai phụ đái tháo đường thai kỳ tại bệnh viện Hùng Vương từ 06/03/2020 đến 31/05/2020 với bảng điểm EPDS. Kết quả: 1. Tỷ lệ thai phụ ĐTĐTK có biểu hiện trầm cảm tại khoa Sản bệnh – bệnh viện Hùng Vương là 16,82%, với KTC 95% [12,96 - 21,28]. 2. Yếu tố có liên quan đến biểu hiện trầm cảm của thai phụ ĐTĐTK sau khi phân tích đa biến bằng mô hình hồi quy logistic là: (i) Thai phụ có người tâm sự khi buồn/ lo lắng là bạn bè thì tăng nguy cơ có biểu hiện TCTTK gấp 3,23 lần (ORhc=3,23 với KTC 95% [1,02 – 9,38] và p=0,035) và thai phụ có người tâm sự là anh, chị, em ruột thì tăng nguy cơ gấp 6,55 lần (ORhc=6,55 với KTC 95% [1,23 – 33,14] và p=0,023); (ii) Thai phụ có thời gian từ lúc chẩn đoán ĐTĐTK đến lúc được tầm soát trầm cảm càng dài thì càng giảm nguy cơ có biểu hiện TCTTK, cụ thể là tăng thêm 1 tuần thì giảm nguy cơ 0,9 lần (ORhc=0,9 với KTC 95% [0,83 – 0,96] và p=0,003). Kết luận: Trầm cảm trong thai kỳ trên thai phụ đái tháo đường thai kỳ là vấn đề cần được quan tâm và cần thêm các nghiên cứu can thiệp trong tương lai Từ khóa: biểu hiện trầm cảm trong thai kỳ, đái tháo đường thai kỳ ABSTRACT DEPRESSIVE SYMPTOMS IN WOMEN WITH GESTATIONAL DIABETES MELLITUS Huynh Phuc Khanh Minh, To Mai Xuan Hong, Vo Thi Thu Thuy, Huynh Nguyen Khanh Trang * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No. 1 - 2021: 231 - 237 Background: Depression during pregnancy and gestational diabetes mellitus (GDM) tend to be on the rise around the world. Both of these problems have a negative effect on both mother and fetus. Objectives: This study was conducted to investigate the prevalence of depressive symptoms at GDM and some related factors. Methods: Cross-sectional study on 333 pregnant women with gestational diabetes mellitus at the Department of High risks pregnancy of Hung Vuong Hospita, HoChiMinh city, from March 6, 2020 to May 31, 2020 with EPDS scores. Results: 1. The prevalence of depressive symptoms at GDM in the Department of High risks pregnancy - Hung Vuong Hospital was 16.82%, with 95% CI [12.96 - 21.28]. 2. Factors related to depressive manifestations of pregnant women with gestational diabetes after multivariate analysis using logistic regression model are: (i)Friends who Pregnant women confide in sadness/anxiety increased the risk of depression in pregnancy 3.23 times higher (ORhc=3.23 with 95% CI [1.02 - 9.38] and p=0.035) and sibling who pregnant women with GDM 1BM Phụ Sản, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 2Bệnh viện Hùng Vương 3BM Sản Phụ khoa, Đại học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch Tác giả liên lạc: PGS.TS. Huỳnh Nguyễn Khánh Trang ĐT: 0903882015 Email: [email protected] Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 232 confided in sadness/anxiety increased risk 6.55 times (ORhc=6.55 with 95% CI [1.23 - 33.14] and p=0.023); (ii) The longer a woman has from diagnosis of gestational diabetes to the longer she is screened for depression, the less likely she is to develop depression during pregnancy. An increase of 1 week resulted in a 0.9-fold decrease in risk (ORhc=0.9 with 95% CI [0.83 - 0.96] and p=0.003). Conclusion: Depression in pregnancy should be taken into consideration in pregnant women with gestational diabetes and need more intervention studies in the future. Keywords: depression manifestations in pregnancy, gestational diabetes ĐẶT VẤN ĐỀ Thai kỳ là khoảng thời gian quan trọng trong cuộc đời người phụ nữ, với những thay đổi lớn cả về thể chất lẫn tinh thần(1). Trong giai đoạn này, cơ thể trở nên nhạy cảm hơn với bệnh tật, đặc biệt là những rối loạn về tâm thần, và nổi bật hơn cả là rối loạn trầm cảm(2). Theo Hiệp hội Sản Phụ khoa Hoa kỳ (ACOG), tỉ lệ rối loạn trầm cảm ở thai phụ năm 2011 là 9% trong giai đoạn tiền sản và 10% trong giai đoạn hậu sản(3). Tại các quốc gia có thu nhập từ thấp đến trung bình đã cho thấy đến 25 - 35% thai phụ có các biểu hiện của trầm cảm trong thai kỳ (TCTTK), và 20% trong số đó thỏa các tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn trầm cảm(4). Các yếu tố nguy cơ của TCTTK đã được y văn ghi nhận bao gồm: tiền căn bản thân hoặc gia đình bị trầm cảm, bị ngược đãi lúc nhỏ, mẹ đơn thân, có nhiều hơn 3 con, hút thuốc lá, thu nhập thấp, trẻ tuổi, không được hỗ trợ từ xã hội và bạo hành gia đình(5). TCTTK đưa đến những kết cục xấu cho thai nhi như sanh non tháng, nhẹ cân, chậm phát triển, tử vong, và cho mẹ như đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK), các bệnh lý tăng huyết áp trong thai kỳ, chảy máu trước sinh, trầm cảm sau sinh(5). Các nghiên cứu về TCTTK đã ghi nhận được mối liên hệ giữa trầm cảm và ĐTĐTK. Nghiên cứu tại Canada năm 2018, nhận thấy những thai phụ ĐTĐTK có nguy cơ bị trầm cảm gấp khoảng 2 lần những thai phụ không bị ĐTĐTK(6). Theo kết quả của một đánh giá hệ thống trên tập san về Đái tháo đường Thế giới (WJD) đã cho thấy tỷ lệ hiện mắc trầm cảm ở đái tháo đường thai kỳ dao động rất lớn, trong khoảng từ 4,1 đến 80% (trung bình là 14,7%), dựa trên 16 nghiên cứu lấy từ 2 cơ sở dữ liệu lớn là PUBMED và EMBASE(7). Bệnh viện Hùng Vương là một trong những tuyến cuối chuyên khoa sản phụ lớn của TP. Hồ Chí Minh, tại đây những thai kỳ nguy cơ cao được theo dõi và điều trị, trong đó có cả những trường hợp ĐTĐTK. Về tinh thần, những thai phụ được chẩn đoán ĐTĐTK không những phải chịu nhiều áp lực từ việc kiểm soát chặt chẽ về lối sống, ăn uống, sinh hoạt, sự bất tiện khi phải tiêm insulin mỗi ngày, mà còn phải đối mặt với nguy cơ xuất hiện những kết cục xấu cho thai nhi. Với câu hỏi nghiên cứu là: “Tỷ lệ thai phụ ĐTĐTK có biểu hiện trầm cảm là bao nhiêu, cũng như các yếu tố liên quan đến trầm cảm ở nhóm đối tượng này là gì?”. Để trả lời câu hỏi trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu với các mục tiêu: 1. Xác định tỷ lệ thai phụ ĐTĐTK từ 24 tuần trở lên có biểu hiện trầm cảm dựa trên thang điểm EPDS tại khoa Sản bệnh viện Hùng Vương, năm 2020. 2. Xác định yếu tố liên quan đến biểu hiện trầm cảm, bao gồm 4 nhóm: Đặc điểm về kinh tế - xã hội - hôn nhân - gia đình của thai phụ; Đặc điểm về thông tin nền của chồng thai phụ; Đặc điểm về tiền căn sản khoa; Đặc điểm về tình trạng thai kỳ hiện tại ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu Các thai phụ ĐTĐTK từ 24 tuần trở lên tại khoa Sản bệnh viện Hùng Vương trong thời gian từ 06/03/2020 đến 31/05/2020 thỏa các tiêu chuẩn chọn mẫu. Tiêu chuẩn chọn vào Các thai phụ từ đủ 18 tuổi trở lên. Các thai phụ có tuổi thai từ 24 tuần trở lên, nhập khoa Sản bệnh viện Hùng Vương từ 06/03/2020 đến Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 233 31/05/2020, gồm nhóm nội trú tại khoa và nhóm khám ngoại trú. Các thai phụ đã được chẩn đoán ĐTĐTK bằng nghiệm pháp 75g Glucose – 2giờ theo tiêu chuẩn của ADA(8). Đồng ý tham gia nghiên cứu sau khi đã được thông tin đầy đủ và hiểu rõ về nghiên cứu. Tiêu chuẩn loại ra Tiền căn đã được chẩn đoán đái tháo đường type 1, 2; theo tiêu chuẩn của ADA(8) trước lần mang thai này. Tiền căn đã được chẩn đoán các bệnh lý về rối loạn tâm thần, đã hoặc đang được điều trị. Tình trạng bệnh nặng cần phải được điều trị cấp cứu. Phương pháp nghiên cứu Thiết kế nghiên cứu Nghiên cứu cắt ngang. Cỡ mẫu 2 2 )2/1( )1( d ppZ n Trong đó: Z2(1-α/2): Trị số tới hạn ở KTC 95% (Z(1-α/2)=1,96 với α=0,05). Chọn p=31% theo nghiên cứu tại Brazil (2014) của Patrícia D(9); d=0,05. Tính được n=329. Nghiên cứu (NC) thu nhận 333 đối tượng. Lấy mẫu toàn bộ. Thu thập dữ liệu Bảng câu hỏi soạn sẵn ghi lại những biến số nghiên cứu thông qua phỏng vấn trực tiếp kết hợp với hồ sơ bệnh án. Biến số chính: biểu hiện TCTTK với bảng thang điểm đánh giá TCTTK - Edinburgh Postnatal Depression Scale (EPDS) - cho thai phụ tự đánh giá. Thang điểm EPDS gồm 10 câu hỏi, mỗi câu hỏi gồm 4 lựa chọn với điểm số từ 0 đến 3, thai phụ chọn 1 câu phù hợp với bản thân. Tổng số điểm sẽ được ghi nhận (dao động từ 0 đến 30 điểm). Kết quả: Những thai phụ có tổng số điềm từ 0 đến 12: không có biểu hiện TCTTK. Những thai phụ có tổng số điểm ≥13 được ghi nhận là có biểu hiện TCTTK. Những thai phụ này sẽ được giới thiệu đi khám chuyên khoa tâm thần và được điều trị trầm cảm khi chẩn đoán rối loạn trầm cảm chủ yếu được xác lập bởi bác sĩ chuyên khoa tâm thần. Xử lý dữ liệu Bằng phần mềm Microsoft Excel 2010. Phân tích dữ liệu: bằng phần mềm R phiên bản 3.6.3 với thống kê mô tả và phân tích đơn biến và hồi quy đa biến. Y đức Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại học Y Dược TP. HCM, số 238/ĐHYD-HĐĐĐ, ngày 25/03/2020. KẾT QUẢ Bảng 1: Đặc điểm về kinh tế - xã hội – hôn nhân – gia đình của thai phụ (N=333) Đặc điểm N (%) Tuổi của thai phụ (năm) 18 – 24 25 – 35 ≥ 36 Tuổi của thai phụ trung bình (năm) 36 (10,81%) 209 (62,76%) 88 (26,43%) 31,64 ± 0,62 Nơi cư ngụ Nội thành Ngoại thành 213 (63,96%) 120 (36,04%) Thai phụ đang sống Ở nhà riêng Ở chung với ba mẹ chồng Ở chung với ba mẹ ruột Ở nhà thuê 106 (31,83%) 85 (25,53%) 64 (19,22%) 78 (23,42%) Số lượng thành viên trong gia đình ≤ 2 3 4 ≥ 5 71 (21,32%) 95 (28,53%) 73 (21,92%) 94 (28,23%) Tình trạng hôn nhân Đang sống với chồng Không còn sống với chồng Chưa kết hôn (có hoặc không sống chung) 329 (98,8%) 0 4 (1,2%) Thời gian kết hôn trung bình (năm) 6,44 ± 0,57 Nghề nghiệp của thai phụ Không việc làm/nội trợ Có việc làm, chưa ổn định Có việc làm, ổn định 51 (15,32%) 25 (7,5%) 257 (77,18%) Trình độ học vấn của thai phụ Dưới cấp 1 Cấp 1 Cấp 2 Cấp 3 Trên cấp 3 2 (0,6%) 24 (7,21%) 99 (29,73%) 94 (28,23%) 114 (34,23%) Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 234 Đặc điểm N (%) Dân tộc Kinh Hoa Chăm Khmer Thái 320 (96,1%) 9 (2,7%) 0 3 (0,9%) 1 (0,3%) Tôn giáo Phật giáo Thiên chúa giáo Hồi giáo Cao Đài Hòa Hảo Không tôn giáo 66 (19,82%) 33 (9,91%) 0 5 (1,5%) 2 (0,6%) 227 (68,17%) Thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình Hộ nghèo Hộ cận nghèo Hộ có mức sống trung bình Hộ khá trở lên Thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình trung bình (triệu VNĐ/ tháng) 2 (0,6%) 1 (0,3%) 2 (0,6%) 328 (98,5%) 8,55 ± 0,59 Có mâu thuẫn vơi gia đình bên chồng Có Không 3 (0,9%) 330 (99,1%) Người tâm sự khi buồn/ lo lắng Chồng Cha mẹ ruột Cha mẹ chồng Bạn bè Anh, chị, em ruột Em chồng Con Dì ruột Không có ai để tâm sự 228 (68,47%) 50 (15,02%) 6 (1,8%) 25 (7,51%) 9 (2,7%) 3 (0,9%) 2 (0,6%) 2 (0,6%) 8 (2,4%) Đa phần ở độ tuổi sinh sản từ 25-35 tuổi. Chủ yếu sống trong nội thành, học vấn từ cấp 3 trở lên, có việc làm ổn định với mức thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình từ khá trở lên. Phần lớn là dân tộc Kinh và không theo tôn giáo. Đa phần là đã kết hôn và đang sống với chồng, với thời gian kết hôn trung bình 6,44 năm. Phần lớn chọn tâm sự với chồng khi có chuyện buồn hay lo lắng (Bảng 1). Bảng 2: Tỷ lệ thai phụ đái tháo đường thai kỳ từ 24 tuần trở lên có biểu hiện trầm cảm (N=333) n Tỷ lệ KTC 95% Có biểu hiện trầm cảm (EPDS ≥13) 56 16,82% (56/333) 12,96 - 21,28% Tỷ lệ thai phụ ĐTĐTK từ 24 tuần trở lên có biểu hiện trầm cảm (EPDS ≥13) là 16,82%, với KTC 95% [12,96 - 21,28] (Bảng 2). Sau khi phân tích mối liên quan đa biến bằng mô hình hồi quy logistic, có 2 yếu tố thật sự có mối liên quan đến biểu hiện trầm cảm của thai phụ ĐTĐTK: Thai phụ có người tâm sự khi buồn/ lo lắng là bạn bè và anh, chị, em ruột thì tăng nguy cơ có biểu hiện trầm cảm trong thai kỳ lền lần lượt là 3,23 lần. Thai phụ có thời gian từ lúc chẩn đoán ĐTĐTK đến lúc được tầm soát trầm cảm càng dài thì càng giảm nguy cơ có biểu hiện TCTTK (Bảng 3). Bảng 3: Phân tích hồi quy logistic các yếu tố liên quan với biểu hiện triệu chứng trầm cảm trên thai phụ đái tháo đường thai kỳ Biến số EPDS ≥ 13 ORhc KTC 95% p Dân tộc Kinh Hoa Khmer Thái 1 3,27 16,39 7,3 x 10 7 Ref 0,42 - 17,71 1,11 – 480,27 0 - ∞ Ref 0,19 0,054 0,99 Người tâm sự khi buồn/ lo lắng Chồng Cha mẹ ruột Cha mẹ chồng Bạn bè Anh, chị, em ruột Em chồng Con Dì ruột Không có ai để tâm sự 1 1,75 6,04 x 10 -7 3,23 6,55 9,2 3,47 x 10 -7 9,4 1,28 Ref 0,75 – 3,91 0 – 4,83 x 10 32 1,02 – 9,38 1,23 – 33,14 0,34 – 250,43 0 – 2,92 x 10 67 0,31 – 269,33 0,17 – 6,49 Ref 0,18 0,99 0,035 0,023 0,13 0,99 0,14 0,78 Tâm trạng khi biết có thai: Rất vui, không lo lắng gì 1 Ref Ref Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 235 Biến số EPDS ≥ 13 ORhc KTC 95% p Vui nhưng có lo lắng Không vui 1,76 2,36 0,9 – 3,54 0,1 – 22,75 0,11 0,5 Thời gian từ lúc chẩn đoán ĐTĐTK đến lúc được tầm soát trầm cảm (tuần) Thời gian Thời gian + 1 tuần 1 0,9 Ref 0,83 – 0,96 Ref 0,003 Sự lo lắng về tình trạng ĐTĐTK Không lo lắng Có lo ít Có lo nhiều 1 1,46 3,8 Ref 0,29 – 13,28 0,86 – 32,21 Ref 0,69 0,13 Có kèm thai với tăng trưởng trong tử cung bị giới hạn (IUGR) Có Không 1 0,59 Ref 0,29 – 1,2 Ref 0,14 BÀN LUẬN Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), đến năm 2020, trầm cảm là căn bệnh thứ hai gây hại đến sức khỏe của con người, chỉ đứng sau các bệnh lý tim mạch. Tuy nhiên, rối loạn trầm cảm hoàn toàn có thể chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu. Trầm cảm ở phụ nữ mang thai hiện nay vẫn còn là một vấn đề mới, cả trên thế giới và ở Việt Nam. Các công trình nghiên cứu về trầm cảm trong thai kỳ chưa nhiều như là trầm cảm sau sanh. Về lâm sàng, do các triệu chứng của trầm cảm thường hay bị trùng lắp với các thay đổi tâm sinh lý của người phụ nữ trong thai kỳ, đặc biệt là trong những tháng đầu thai kỳ, dẫn đến việc chẩn đoán TCTTK thường bị bỏ sót. Điều đáng nói là tỷ lệ TCTTK được y văn ghi nhận là không hề thấp. Nghiên cứu của Bennett HA năm 2004(1) cho thấy tỷ lệ hiện mắc TCTTK lần lượt là 7,4%, 12,8% và 12% ở các tam cá nguyệt thứ nhất, thứ hai và thứ ba cho thấy xu hướng mắc trầm tăng lên về cuối của thai kỳ. ACOG đã đưa ra khuyến cáo tầm soát trầm cảm cho thai phụ ít nhất 1 lần trong khoảng thời gian chu sinh(1). Trong số các công cụ dùng để tầm soát TCTTK, bảng điểm EPDS được sử dụng phổ biến nhất cả trong nghiên cứu lẫn thực hành lâm sàng. Theo ACOG, ưu điểm của bảng điểm EPDS nằm ở tính đa dạng về ngôn ngữ, với gần 50 phiên bản ngôn ngữ khác nhau trên thế giới(3), trong đó bao gồm cả Tiếng Việt. Ngoài ra, bảng điểm EPDS, với 10 câu hỏi trắc nghiệm, chỉ mất trung bình khoảng 5 phút để thai phụ tự trả lời(3), nên có tính thực tiễn cao, phù hợp với bối cảnh y tế đang quá tải tại Việt Nam. Theo một nghiên cứu tại Nhật Bản (2017), EPDS là một công cụ có giá trị rất tốt, với AUC là 0,956(10). Nghiên cứu trên cũng chỉ ra được, với điểm cắt là 13 điểm, bảng điểm EPDS có độ nhạy là 90%, độ đặc hiệu là 92,1%, giá trị tiên đoán dương là 54,5% và giá trị tiên đoán âm là 98,9%. Tuy nhiên, với giá trị tiên đoán dương thấp (54,5%), sử dụng EPDS sẽ gặp khó khăn trong việc chẩn đoán xác định trầm cảm, do đó đòi hỏi cần có một tiêu chuẩn đầy đủ hơn, như DSM-V của Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ(11). Tỷ lệ có biểu hiện trầm cảm trong NC chúng tôi là 16,82% cao hơn với tỷ lệ trầm cảm trước sanh được đưa ra bởi Jonathan Evans J năm 1991(12) là 13,5% ở tuần lễ thứ 32 của thai kỳ, cũng với EPDS ≥13 điểm. Qua đó cho thấy, dường như, tỷ lệ trầm cảm ở nhóm thai phụ ĐTĐTK, cũng ở tam cá nguyệt 2 – 3, có xu hướng cao hơn ở những thai phụ không mắc đái tháo đường. Điều này là phù hợp kết quả của các nghiên cứu về mối liên hệ giữa TCTTK và ĐTĐTK. Nhìn chung, tỷ lệ trầm cảm ở thai phụ ĐTĐTK có dao động rất lớn giữa các nghiên cứu. Phân tích tổng hợp về liên quan giữa trầm cảm và ĐTĐTK của Ross GP 2016(7), ghi nhận tỷ lệ này thay đổi từ 4,1% cho đến 80% (trung bình là 14,7%) với số đối tượng nghiên cứu rất khác biệt từ 22 đối tượng cho đến 52.848 đối tượng. Trong phân tích đơn biến, chúng tôi xác định Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 236 các yếu tố nguy cơ biểu hiện trầm cảm bằng phép kiểm định Chi bình phương/kiểm định Fisher và kiểm định T để đánh giá ý nghĩa thống kê của các yếu tố. Sau khi xác định được các yếu tố có liên quan bằng phân tích đơn biến, chúng tôi tiến hành xây dựng mô hình hồi quy logistic dựa trên các yếu tố này, nhằm tìm ra các yếu tố có liên quan thật sự đến biểu hiện trầm cảm mà không bị gây nhiễu bởi các yếu tố khác. Sau khi đưa vào phân tích hồi quy logistic, kết quả chỉ còn lại 2 yếu tố là: (i) người tâm sự với thai phụ khi buồn/lo lắng và (ii) thời gian từ lúc chẩn đoán ĐTĐTK đến lúc được tầm soát trầm cảm là những yếu tố nguy cơ thật sự và ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến biểu hiện trầm cảm trong thai kỳ. Trái với những thai phụ có người tâm sự khi buồn hoặc lo lắng là những người thân gần gũi, sồng chung nhà như chồng, cha mẹ (ruột, chồng) hay con cái, những thai phụ phải tâm sự với những người tuy thân thiết nhưng lại ít gần gũi và ít có cơ hội tiếp xúc mỗi ngày, như bạn bè và anh chị em ruột, thì có lẽ sẽ cảm thấy thiếu thốn về mặt tinh thần nhiều hơn, từ đó dẫn đến tăng nguy cơ có biểu hiện trầm cảm. Các thai phụ không có người tâm sự khi buồn hoặc lo lắng có lẽ thuộc về nhóm người có tâm lý mạnh, vững vàng, do đó nguy cơ bị trầm cảm ở họ cũng sẽ thấp hơn. Tuy nhiên, những thai phụ chọn tâm sự với bạn bè, hay anh chị em ruột, những người có lẽ không sống chung, không gặp mặt, tiếp xúc mỗi ngày thì có lẽ thuộc nhóm người hay che giấu cảm xúc, không muốn người thân hay người gần gũi với họ biết được sự lo lắng hay cảm xúc tiêu cực của bản thân. Họ không đủ vững vàng về mặt tinh thần để tự mình vượt qua khó khăn mà không cần người tâm sự, nhưng lại ngại chia sẻ với người thân gần bên để nhận được sự hỗ trợ và cùng vượt qua khó khăn. Chính nhóm đối tượng này sẽ dễ có những mâu thuẫn về mặt tâm lý, từ đó làm tăng nguy cơ mắc trầm cảm. Căn cứ trên kết quả này, chúng tôi cho rằng nhân viên y tế nên tiến hành tư vấn về sức khỏe tâm thần cho thai phụ khi có mặt cả 2 vợ chồng, để khuyến khích thai phụ thường xuyên chia sẻ, trao đổi những khó khăn, lo lắng với chồng và những người thân gần bên, qua đó có thể giảm được nguy cơ có biểu hiện trầm cảm. Về thời gian từ lúc được chẩn đoán ĐTĐTK đến lúc được tầm soát TCTTK càng dài thì càng giảm nguy cơ có biểu hiện trầm cảm, đây là một yếu tố có thể được vận dụng vào chương trình quản lý ĐTĐTK. Càng về cuối thai kỳ, thai phụ sẽ càng trở nên thích nghi với việc mang thai và với tình trạng bệnh của mình, có nhiều thời gian hơn để tâm sự, chia sẻ, trao đổi với người thân và với nhân viên y tế, từ đó sẽ giảm bớt nguy cơ mắc trầm cảm. Hạn chế của nghiên cứu Nghiên cứu được thực hiện tại Thành Phố Hồ Chí Minh, do đó dân số nghiên cứu vẫn chưa thể đại diện cho số thai phụ ĐTĐTK trên cả nước. Do thiết kế cắt ngang, các yếu tố có liên quan đến biểu hiện trầm cảm phát hiện qua phân tích hồi quy đa biến cũng chỉ có thể kết luận là tồn tại một mối liên quan có ý nghĩa thống kê. KẾT LUẬN Qua nghiên cứu trên 333 thai phụ ĐTĐTK có tuổi thai từ 24 tuần trở lên với kết quả như sau: 1. Tỷ lệ thai phụ ĐTĐTK có biểu hiện trầm cảm tại khoa Sản bệnh – bệnh viện Hùng Vương là 16,82%, với KTC 95% [12,96 - 21,28]. 2. Yếu tố có liên quan đến biểu hiện trầm cảm của thai phụ ĐTĐTK sau khi phân tích đa biến bằng mô hình hồi quy logistic là: (i) Thai phụ có người tâm sự khi buồn/ lo lắng là bạn bè thì tăng nguy cơ có biểu hiện TCTTK gấp 3,23 lần (ORhc=3,23 với KTC 95% [1,02 – 9,38] và p=0,035) và thai phụ có người tâm sự là anh, chị, em ruột thì tăng nguy cơ gấp 6,55 lần (ORhc=6,55 với KTC 95% [1,23 – 33,14] và p=0,023). (ii) Thai phụ có thời gian từ lúc chẩn đoán ĐTĐTK đến lúc được tầm soát trầm cảm càng dài thì càng giảm nguy cơ có biểu hiện TCTTK, cụ thể là tăng thêm 1 tuần thì giảm nguy cơ 0,9 Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 237 lần (ORhc=0,9 với KTC 95% [0,83 – 0,96] và p=0,003). TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bennett HA, Einarson A, Taddio A, et al (2004). "Prevalence of depression during pregnancy: systematic review". Obstertrics and Gynecology, 103(4):698-709. 2. Gelaye B, Rondon MB, Araya R, Williams MA (2016). "Epidemiology of maternal depression, risk factors, and child outcomes in low-income and middle-income countries". Lancet Psychiatry, 3(10):973-982. 3. American College of Obstetricians and Gynecologists (2018). "ACOG COMMITTEE OPINION Number 757 November 2018: Screening for Perinatal Depression". Obstertrics and Gynecology, 132(5):208-212. 4. Rahman A, Iqbal Z, Harrington R (2003). "Life events, social support and depression in childbirth: perspective from a rural community in the developing world". Psychological Medicine, 33(7):1161-1167. 5. Stewart DE (2011). "Depression during Pregnancy". New England Journal of Medicine, 365(17):1605 - 1611. 6. Pace R, Rahme E, Da Costa D, Dasgupta K (2018). "Association between gestational diabetes mellitus and depression in parents: a retrospective cohort study". Clinical Epidemiology, 10:1827–1838. 7. Ross GP, Falhammar H, Chen R, et al (2016). "Relationship between depression and diabetes in pregnancy: A systematic review". World J Diabetes, 7(19):554-571. 8. American Diabetes Association (2019). "Classification and Diagnosis of Diabetes: Standards of Medical Care in Diabetes 2019". Diabetes Care, 42(1):13-28. 9. Damé P, Cherubini K, Pâmella G (2014). "Depressive Symptoms in Women with Gestational Diabetes Mellitus: The LINDA-Brazil Study". Journal of Diabetes Research, pp.1. 10. Usuda K, Makino M, Nishi D, Sano Y (2017). "Optimal cut-off score of the Edinburgh Postnatal Depression Scale for major depressive episode during pregnancy in Japan". Psychiatry and Clinical Neurosciences, 71:836-842. 11. American Psychiatric Association (2013). Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, Fifth Edition. URL: https://doi.org/10.1176/appi.books.9780890425596. 12. Evans J, Heron J, Francomb H, et al (1991). "Cohort study of depressed mood during pregnancy and after childbirth". BMJ Clinical Research, 323:257-260. Ngày nhận bài báo: 10/11/2020 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 06/02/2021 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021
File đính kèm:
ty_le_bieu_hien_tram_cam_va_cac_yeu_to_lien_quan_tren_thai_p.pdf

