Tỷ lệ biểu hiện trầm cảm và các yếu tố liên quan ở sản phụ có thai chậm tăng trưởng trong tử cung tại Bệnh viện Hùng Vương

Đặt vấn đề: Trầm cảm trong thai kỳ (TCTTK) và thai chậm tăng trưởng trong tử cung (TCTTTTC) có ảnh

hưởng không tốt đến cả mẹ và thai.

Mục tiêu: Nghiên cứu khảo sát tỷ lệ biểu hiện TCTTK ở sản phụ có TCTTTTC và một số yếu tố liên quan.

Đối tượng - Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 400 sản phụ có TCTTTTC tại bệnh viện Hùng

Vương từ 03/2020 đến 08/2020 với bảng điểm EPDS có điểm cắt 13.

Kết quả: Tỷ lệ biểu hiện TCTTK của sản phụ có TCTTTTC là 13,5%; KTC 95% [10,2 – 16,8]. Qua phân

tích hồi quy đa biến các yếu tố, bốn yếu tố ghi nhận liên quan đến biểu hiện TCTTK của sản phụ có TCTTTTC là:

(i) Nhóm có chồng với nghề nghiệp không ổn định tăng nguy cơ biểu hiện TCTTK so với nhóm có chồng với nghề

nghiệp ổn định, OR = 3,04; KTC 95% [1,12 - 8,29]. (ii) Nhóm sản phụ có sang chấn tâm lý trong thời gian 2

tuần gần đây tăng nguy cơ TCTTK so với nhóm không có sang chấn tâm lý, OR = 5,19; KTC 95% [2,15 - 12,57].

(iii) Nhóm sản phụ có lo lắng về mặt sức khỏe tăng nguy cơ TCTTK so với nhóm không có lo lắng về mặt sức

khỏe OR= 2,81; KTC 95% [1,35 – 5,85]. (iv) Nhóm sản phụ có lo lắng về mặt tinh thần tăng nguy cơ TCTTK so

với nhóm không có lo lắng về mặt tinh thần, OR = 8,88; KTC 95% [2,92 – 26,96].

Kết luận: Trầm cảm trong thai kỳ trên sản phụ có thai chậm tăng trưởng trong tử cung là vấn đề cần được

quan tâm và cần thêm các nghiên cứu can thiệp trong tương lai

pdf 6 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Tỷ lệ biểu hiện trầm cảm và các yếu tố liên quan ở sản phụ có thai chậm tăng trưởng trong tử cung tại Bệnh viện Hùng Vương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Tỷ lệ biểu hiện trầm cảm và các yếu tố liên quan ở sản phụ có thai chậm tăng trưởng trong tử cung tại Bệnh viện Hùng Vương

Tỷ lệ biểu hiện trầm cảm và các yếu tố liên quan ở sản phụ có thai chậm tăng trưởng trong tử cung tại Bệnh viện Hùng Vương
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 251 
TỶ LỆ BIỂU HIỆN TRẦM CẢM VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN 
Ở SẢN PHỤ CÓ THAI CHẬM TĂNG TRƯỞNG TRONG TỬ CUNG 
TẠI BỆNH VIỆN HÙNG VƯƠNG 
Trương Thị Bích Hà1, Huỳnh Nguyễn Khánh Trang1 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Trầm cảm trong thai kỳ (TCTTK) và thai chậm tăng trưởng trong tử cung (TCTTTTC) có ảnh 
hưởng không tốt đến cả mẹ và thai. 
Mục tiêu: Nghiên cứu khảo sát tỷ lệ biểu hiện TCTTK ở sản phụ có TCTTTTC và một số yếu tố liên quan. 
Đối tượng - Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 400 sản phụ có TCTTTTC tại bệnh viện Hùng 
Vương từ 03/2020 đến 08/2020 với bảng điểm EPDS có điểm cắt 13. 
Kết quả: Tỷ lệ biểu hiện TCTTK của sản phụ có TCTTTTC là 13,5%; KTC 95% [10,2 – 16,8]. Qua phân 
tích hồi quy đa biến các yếu tố, bốn yếu tố ghi nhận liên quan đến biểu hiện TCTTK của sản phụ có TCTTTTC là: 
(i) Nhóm có chồng với nghề nghiệp không ổn định tăng nguy cơ biểu hiện TCTTK so với nhóm có chồng với nghề 
nghiệp ổn định, OR = 3,04; KTC 95% [1,12 - 8,29]. (ii) Nhóm sản phụ có sang chấn tâm lý trong thời gian 2 
tuần gần đây tăng nguy cơ TCTTK so với nhóm không có sang chấn tâm lý, OR = 5,19; KTC 95% [2,15 - 12,57]. 
(iii) Nhóm sản phụ có lo lắng về mặt sức khỏe tăng nguy cơ TCTTK so với nhóm không có lo lắng về mặt sức 
khỏe OR= 2,81; KTC 95% [1,35 – 5,85]. (iv) Nhóm sản phụ có lo lắng về mặt tinh thần tăng nguy cơ TCTTK so 
với nhóm không có lo lắng về mặt tinh thần, OR = 8,88; KTC 95% [2,92 – 26,96]. 
Kết luận: Trầm cảm trong thai kỳ trên sản phụ có thai chậm tăng trưởng trong tử cung là vấn đề cần được 
quan tâm và cần thêm các nghiên cứu can thiệp trong tương lai 
Từ khóa: biểu hiện trầm cảm trong thai kỳ, thai chậm tăng trưởng trong tử cung 
ABSTRACT 
PREVALENCE OF DEPRESSIVE SYMPTOMS IN WOMEN WITH INTRAUTERINE GROWTH 
RESTRICTION AT HUNG VUONG HOSPITAL 
Truong Thi Bich Ha, Huynh Nguyen Khanh Trang 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No. 1 - 2021: 251 - 256 
Background: Depression in pregnancy and fetal growth delay in the uterus have a negative effect on both 
mother and fetus. 
Objectives: Study to investigate the prevalence of depressive symptoms in pregnant women with 
intrauterine growth retardation (IUGR) and some related factors. 
Methods: We performed a cross-sectional study on 400 pregnant women with intrauterine growth 
restriction at Hung Vuong Hospital. The study is conducted during the period from 03/2020 to 08/2020. The 
study used EPDS scores with cut-off 13 to evaluate pregnant women with symptoms of depression. 
Results: The prevalence of depressive symptoms in pregnant women with IUGR is 13.5%; 95%CI [10.2 - 
16.8]. Multivariable factors regression analysis, four recognized factors related to depressive symptoms in 
pregnant women with IUGR are: (i) Married group with unstable occupation stable increase risk of depressive 
symptoms in pregnancy compared with the group with husband with stable occupation, OR = 3.04; 95% CI [1.12 
1Bộ môn Sản Phụ khoa, ĐH Y Khoa Phạm Ngọc Thạch 
Tác giả liên lạc: PGS.TS. Huỳnh Nguyễn Khánh Trang ĐT: 0903882015 Email: [email protected] 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 252 
- 8.29]. (ii) The group of women with psychological trauma in the last 2 weeks increased the risk of depression in 
pregnancy compared with the group without psychological trauma, OR = 5.19; 95% CI [2.15 - 12.57]. (iii) The 
group of women with health concerns increased the risk of depression in pregnancy compared with the group 
without health concerns OR = 2.81; 95% CI [1.35 - 5.85]. (iv) The group of women with mental anxiety increased 
the risk of AFT compared with the group without mental anxiety, OR = 8.88; 95% CI [2.92 - 26.96]. 
Conclusion: Depression symptoms in pregnant women with intrauterine growth retardation is a problem 
that needs attention and needs more intervention studies in the future. 
Keywords: depressive symptoms in pregnancy, intrauterine growth retardation 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Thai chậm tăng trưởng trong tử cung 
(TCTTTTC) được xem như là một trong những 
vấn đề rất phổ biến trong thai kỳ, đe dọa đến 
tình trạng sức khỏe thai như: có thể gây mất tim 
thai, trẻ sơ sinh khó nuôi sống do nhẹ cân hoặc 
phải chấm dứt thai kỳ khi còn non tháng(1). Thai 
chậm tăng trưởng có thể là kết cục của nhiều bất 
thường khác trong thai kỳ như tiền sản giật, 
thiếu máu, nhiễm trùng bào thai hoặc thai dị tật, 
các bất thường về bánh nhau, dây rốn vv Bên 
cạnh đó, nhiều nghiên cứu cũng cho thấy những 
xáo trộn về mặt tâm lý, như trầm cảm trong thai 
kỳ, cũng có thể làm tăng nguy cơ thai nhi tăng 
cân chậm(2), trẻ sơ sinh nhẹ cân(3). 
Theo Hiệp hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ 
(ACOG), dựa trên số liệu từ Trung tâm Phòng 
ngừa và Kiểm soát bệnh tật (CDC) năm 2018, tỷ 
lệ trầm cảm trong thai kỳ được ghi nhận là 9%(4). 
Tỷ lệ này cho thấy cao hơn ở các quốc gia có thu 
nhập trung bình và kém(5). Có rất nhiều yếu tố 
nguy cơ của trầm cảm trong thai kỳ. Trong đó, 
các thai kỳ nguy cơ cao là một trong những yếu 
tố làm tăng khả năng trầm cảm(2). 
Bảng điểm EDS đã thực hiện tại các trung 
tâm sức khỏe ở Livingstone và Edinburgh (Anh) 
vào năm 1987, sử dụng đặc biệt để phát hiện 
trầm cảm trong thời kỳ hậu sản. Chính vì vậy 
bảng điểm EDS được biết đến và có tên gọi đầu 
tiên là EPDS (Edinburgh Postnatal Depression 
Scale - EPDS)(6). Nghiên cứu tại Nhật Bản, năm 
2017 đi tìm điểm cắt tối ưu cho EDS, cho thấy 
với điểm cắt là 13 điểm thì độ nhạy là 90%, độ 
đặc hiệu là 92,1%, giá trị tiên đoán dương là 
54,5%, và giá trị tiên đoán âm là 98,9%(7). Một 
nghiên cứu tại Thụy Điển năm 2011, cũng đã kết 
luận EDS là công cụ có giá trị để chẩn đoán trầm 
cảm trong thai kỳ (TCTTK), với điểm cắt tối ưu 
là 13 điểm(8). Nghiên cứu tại Úc kết luận EDS với 
điểm cắt 15, có độ nhạy 100% và độ đặc hiệu 
96% trong sàng lọc TCTTK. Tuy nhiên, xét về 
tính phổ biến, theo tổng quan năm 2018 của 
Hiệp hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ, thì điểm cắt 13 
của bảng điểm EDS được sử dụng phổ biến nhất 
để sàng lọc trầm cảm chu sinh(9). 
Vì vậy, việc phát hiện biểu hiện trầm cảm ở 
các sản phụ có thai chậm tăng trưởng trong tử 
cung có thể giúp cho các nhân viên y tến quan 
tâm và hỗ trợ điều trị cho những sản phụ này, 
nhằm tránh làm nặng thêm tình trạng thai chậm 
tăng trưởng trong tử cung. 
Với câu hỏi nghiên cứu là: “Tỷ lệ biểu hiện 
trầm cảm ở sản phụ có thai chậm tăng trưởng 
trong tử cung là bao nhiêu, cũng như các yếu tố 
liên quan đến trầm cảm ở nhóm đối tượng này 
là gì?”. Để trả lời câu hỏi trên, chúng tôi thực 
hiện nghiên cứu với các mục tiêu: 
Xác định tỷ lệ biểu hiện trầm cảm trong 
thai kỳ của sản phụ có thai chậm tăng trưởng 
trong tử cung tại khoa Sản bệnh viện Hùng 
Vương, năm 2020. 
Xác định các yếu tố liên quan đến biểu hiện 
trầm cảm trong thai kỳ của sản phụ có thai chậm 
tăng trưởng trong tử cung gồm 5 nhóm: Đặc 
điểm xã hội – kinh tế; Tình trạng hôn nhân - gia 
đình; Tiền căn sản khoa; Tình trạng thai kỳ hiện 
tại; Các lo lắng hiện tại và sự hỗ trợ 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Các sản phụ có thai chậm tăng trưởng trong 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 253 
tử cung, tại khoa Sản bệnh viện Hùng Vương 
trong thời gian từ tháng 3/2020 đến tháng 8/2020 
thỏa các tiêu chuẩn chọn mẫu. 
Tiêu chuẩn chọn vào 
Sản phụ được nhập vào khoa Sản bệnh - 
bệnh viện Hùng Vương, chẩn đoán thai chậm 
tăng trưởng trong tử cung cần phải theo dõi 
trong bệnh viện, bao gồm: Chu vi vòng bụng 
thai nhi hoặc ước lượng cân thai < bách phân vị 
thứ 5; Chu vi vòng bụng thai nhi hoặc ước lượng 
cân thai từ 5 - <10 bách phân vị kèm theo một 
trong các dấu hiệu sau: Mẹ có bệnh nội khoa, kết 
quả siêu âm Doppler Velocimetry bất thường, 
thiểu ối, NST nghi ngờ. Có khả năng nghe hiểu 
và đọc hiểu tiếng Việt. Có trạng thái tinh thần và 
tình trạng sức khỏe đủ để cho phép tiến hành 
cuộc phỏng vấn. Đồng ý tham gia nghiên cứu 
sau khi đã được thông tin đầy đủ và hiểu rõ về 
nghiên cứu. 
Tiêu chuẩn loại ra 
Thai ngừng phát triển hoặc thai lưu, có tiền 
căn bệnh lý tâm thần, có tình trạng bệnh lý cần 
điều trị cấp cứu ngay, khả năng hiểu tiếng Việt 
không tốt. 
Không đồng ý tiếp tục tham gia nghiên 
cứu (NC). 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu cắt ngang. 
Cỡ mẫu 
2
2
)2/1( )1(
d
ppZ
n
Trong đó: 
Z2(1-α/2): Trị số tới hạn ở KTC 95% (Z(1-α/2)=1,96 
với α = 0,05). 
Vì hiện nay theo y văn chưa thấy ghi nhận 
về tỷ lệ trầm cảm trong thai kỳ ở đối tượng có 
thai chậm tăng trưởng nên chọn p = 0,5. Tính n = 
386. Nghiên cứu thu nhận 400 đối tượng.
Phương pháp chọn mẫu 
Lấy mẫu toàn bộ. 
Thu thập dữ liệu 
Dữ liệu thu thập với bảng câu hỏi soạn sẵn 
ghi lại những biến số nghiên cứu thông qua 
phỏng vấn trực tiếp tại phòng tư vấn khoa Sản 
bệnh, kết hợp với hồ sơ bệnh án. 
Bảng thang điểm đánh giá TCTTK 
Edinburgh EPDS cho thai phụ tự đánh giá. 
Thang điểm EPDS gồm 10 câu hỏi, mỗi câu 
hỏi gồm 4 lựa chọn với điểm số từ 0 đến 3, thai 
phụ chọn 1 câu phù hợp với bản thân. Tổng số 
điểm sẽ được ghi nhận (dao động từ 0 đến 30 
điểm). Kết quả: Những thai phụ có tổng số điềm 
từ 0 đến 12: không có biểu hiện TCTTK. 
Những thai phụ có tổng số điểm ≥13 được 
ghi nhận là có biểu hiện TCTTK. Những thai 
phụ này sẽ được giới thiệu đi khám chuyên khoa 
tâm thần và được điều trị trầm cảm khi chẩn 
đoán rối loạn trầm cảm chủ yếu được xác lập bởi 
bác sĩ chuyên khoa tâm thần. 
Nhập và xủ lý dữ liệu 
Bằng phần mềm SPSS 20.0 với thống kê mô 
tả và phân tích đơn biến và hồi quy đa biến 
Y đức 
Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội 
đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học 
Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, số 
150/HĐĐĐ-TĐHYKPNT, ngày 18/11/2019. 
KẾT QUẢ 
Bảng1: Đặc điểm dịch tễ của đối tượng nghiên cứu 
(n = 400) 
 Tần số Tỷ lệ (%) 
Tuổi sản phụ < 18 tuổi 8 2,0 
Tuổi TB: 
28,52 ± 5,98 
18 - 34 tuổi 322 80,5 
(15 – 46 tuổi) ≥ 35 tuổi 70 17,5 
Trình độ học vấn 
Cấp 1 40 10,0 
Cấp 2 113 28,3 
Cấp 3 99 24,7 
Cao đẳng/Trung cấp 84 21,0 
Đại học/Sau đại học 64 16,0 
Nơi cư ngụ Ngoại thành 255 63,8 
 Nội thành 145 36,2 
Sản phụ đang 
sống 
Nhà riêng 91 22,7 
Chung bên nhà chồng 137 34,3 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 254 
 Tần số Tỷ lệ (%) 
Chung bên nhà cha 
mẹ ruột 
70 17,5 
Nhà thuê 98 24,5 
Khác 4 1,0 
Nghề nghiệp 
Ổn định 284 71,0 
Không ổn định 116 29,0 
Nội trợ 105 26,3 
Hoàn cảnh kinh 
tế 
Khó khăn 42 10,5 
Đủ sống 356 89,0 
Giàu có 2 0,5 
Hôn nhân 
Sống chung với chồng 385 96,2 
Hòa hợp, rất ít cãi vã 343 
Hòa hợp ít, thỉnh 
thoảng cãi vã 
41 
Không hòa hợp, 
thường xuyên cãi vã 
1 
Ly thân/ Ly dị/ Không 
chồng 
15 3,8 
Sang chấn tâm 
lý (2 tuần gần 
đây) 
Không 371 92,8 
Có 29 7,2 
Lo lắng lớn nhất 
hiện nay 
Kinh tế 87 21,8 
Sức khỏe 110 27,4 
Tinh thần, tình cảm 18 4,5 
Khác 14 3,5 
Không có 171 42,8 
Mâu thuẫn với 
gia đình chồng 
Không 382 95,5 
Có 18 4,5 
Các yếu tố về xã hội – kinh tế được khảo sát 
đầy đủ theo bảng câu hỏi nghiên cứu với tất cả 
400 trường hợp (không có trường hợp nào bị 
thiếu giá trị của biến số): Đa số các sản phụ sống 
chung với nhà chồng (34,3%) và nhà thuê 
(24,5%). Số ít các sản phụ sống chung với nhà 
cha mẹ ruột (17,5%). Hầu hết các sản phụ có 
nghề nghiệp ổn định (71%). Đa số các sản phụ có 
hoàn cảnh kinh tế ở mức đủ sống (89%). Hầu hết 
các sản phụ hiện đang sống chung với chồng 
(385 trường hợp, 96,2%). Trong số đó đa số đều 
có cuộc sống hôn nhân hòa hợp, chỉ có 1 trường 
hợp sản phụ cảm thấy không hòa hợp với chồng 
(Bảng 1). 
Tỷ lệ sản phụ với TCTTTTC có biểu hiện 
trầm cảm (EPDS ≥13) là 13,5%, với KTC 95% 
[10,2-16,8] (Bảng 2). 
Có 4 yếu tố làm tăng nguy cơ biểu hiện 
TCTTK cho các sản phụ có thai chậm tăng 
trưởng trong tử cung (p <0,05) (Bảng 3): 
(i) Nghề nghiệp chồng không ổn định, 
(ii) sản phụ có sang chấn tâm lý trong thời 
gian gần đây, 
(iii) sản phụ cảm thấy lo lắng về mặt sức 
khỏe, 
(iv) cảm thấy lo lắng về mặt tinh thần. 
Bảng 2: Tỷ lệ sản phụ với TCTTTTC có biểu hiện 
trầm cảm 
 N Tỷ lệ KTC 95% 
Có biểu hiện trầm cảm 
(EPDS ≥ 13) 
54 
13,5% 
(54/400) 
10,2 – 16,8 
Bảng 0: Hồi quy đa biến 7 yếu tố liên quan đến biểu 
hiện TCTTK (EDS ≥13) của đối tượng nghiên cứu 
(n=400) 
Yếu tố liên quan 
Trị số 
p 
OR 
KTC 95% 
của OR 
Ít hoặc không hòa hợp 0,057 
Nghề nghiệp chồng không ổn 
định 
0,029 3,04 1,12 - 8,29 
Thai kỳ ngoài ý muốn 0,127 
Sang chấn tâm lý gần đây 0,000 5,19 2,15 – 12,57 
Lo lắng về mặt sức khỏe 0,006 2,81 1,35 - 5,85 
Lo lắng về mặt tinh thần 0,000 8,88 2,92 – 26,96 
Không có chồng là chỗ dựa 
chính về tinh thần 
0,448 
BÀN LUẬN 
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã lựa 
chọn một công cụ sàng lọc TCTTK phổ biến 
nhất hiện nay theo là bảng điểm EDS 
(Edinpurgh Depression Scale)(4). Các nghiên 
cứu hiện tại về trầm cảm trong thai kỳ trên 
những đối tượng khác nhau và quốc gia khác 
nhau có thể sử dụng các bảng câu hỏi khác 
nhau. Vì vậy, khi so sánh kết quả của các 
nghiên cứu về biểu hiện TCTTK giữa các 
nghiên cứu khác nhau dễ bị thiếu chính xác. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, các sản 
phụ có thai chậm tăng trưởng có điểm số EDS 
≥13 chiếm tỷ lệ 13,5%, trong đó nhóm sản phụ 
có số điểm 13 - 14 điểm chiếm gần một nửa, 
6,5% (26/400 sản phụ). Nếu nâng điểm cắt lên 
là 15 điểm như trong một số nghiên cứu sử 
dụng thang điểm EDS để sàng lọc TCTTK(9), 
chúng ta có thể bỏ sót một lượng đáng kể các 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 255 
sản phụ có biểu hiện TCTTK. 
Theo một nghiên cứu năm 2016 tại bệnh viện 
Sản Nhi Quốc tế Hòa Bình, Thượng Hải, Trung 
Quốc, tỷ lệ biểu hiện TCTTK ở những sản phụ 
nhập viện vì thai kỳ nguy cơ cao là 5,13%(10). Tỷ 
lệ này thấp hơn so với trong nghiên cứu của 
chúng tôi. Tuy nhiên cũng rất khó so sánh vì cỡ 
mẫu trong nghiên cứu trên chỉ có 197 sản phụ, 
và công cụ sử dụng là bảng câu hỏi HAD 
(Hospital Anxiety and Depression Scale). 
Một tổng quan hệ thống, năm 2016, dựa trên 
16 nghiên cứu, với nhiều công cụ đo lường khác 
nhau, nhằm khảo sát tỷ lệ trầm cảm trên nhóm 
sản phụ có đái tháo đường thai kỳ(11). Kết quả 
cho thấy tỷ lệ này dao động trong khoảng 4,1 – 
80% (trung vị: 14,7%). Nghiên cứu của chúng tôi, 
với kết quả tỷ lệ biểu hiện TCTTK là 13,5% cũng 
gần giá trị trung vị của tổng quan trên. 
Hiện tại chúng tôi chưa tìm thấy các nghiên 
cứu trong nước cũng như trên thế giới về xác 
định tỷ lệ biểu hiện TCTTK ở các sản phụ có thai 
chậm tăng trưởng nên chưa thể so sánh tỷ lệ này 
với nghiên cứu của chúng tôi. Tuy nhiên, theo 
báo cáo của nhiều nghiên cứu, TCTTK có thể 
làm tăng nguy cơ thai nhi tăng cân chậm(2), trẻ sơ 
sinh nhẹ cân(3) và những bất thường khác trong 
thời kỳ nhũ nhi như hội chứng chết bất ngờ ở 
nhũ nhi, hen suyễn, tiêu chảy, đau bụng(12), 
phát triển bất thường về cấu trúc và chức năng 
của não bộ(13). 
Một nghiên cứu tiền cứu đoàn hệ được thực 
hiện tại một vùng bán nông thôn thuộc Thành 
phố Hồ Chí Minh, Việt Nam, năm 2013(14), cho 
thấy các rối loạn tâm lý trong thai kỳ có thể làm 
tăng nguy cơ của trẻ nhẹ cân dưới 2500 gram 
(RR=2,40; KTC 95% [1,09 – 5,25]) và sanh non 
dưới 37 tuần (RR=2,07; KTC 95% [1,2 – 3,56]). 
Điều này, có thể thấy TCTTK có thể ảnh hưởng 
nghiêm trọng hơn đến khả năng nuôi sống của 
trẻ sơ sinh, khi trước đó đã được chẩn đoán là 
thai chậm tăng trưởng trong tử cung. Quyết 
định chấm dứt thai kỳ trên những đối tượng vừa 
có thai chậm tăng trưởng vừa có biểu hiện 
TCTTK càng trở nên thách thức cho các nhà lâm 
sàng. Bởi lẽ, nếu chấm dứt thai kỳ sớm, chúng ta 
sẽ đối diện với khả năng thai nhẹ cân, non tháng, 
khó nuôi sống. Trái lại, nếu càng kéo dài thai kỳ 
thì bên cạnh nguy cơ mất tim thai thì còn kéo 
theo sự lo lắng của sản phụ có thể tăng lên, trầm 
cảm có thể diễn biến nặng hơn, các biến chứng 
liên quan đến trầm cảm có thể sẽ xuất hiện nhiều 
hơn cho sản phụ và trẻ sau khi sinh. Chính vì 
vậy, việc phát hiện biểu hiện TCTTK ở các sản 
phụ có thai chậm tăng trưởng trong tử cung, 
cũng như trong các thai kỳ nguy cơ cao nói 
chung sẽ giúp cho các nhân viên y tế quan tâm 
và hỗ trợ điều trị đặc biệt cho những sản phụ 
này, nhằm tránh làm nặng thêm tình trạng thai 
chậm tăng trưởng trong tử cung, và các biến 
chứng khác trong thai kỳ và sau sanh. 
Hạn chế của nghiên cứu 
Đây không phải là thiết kế nghiên cứu tối ưu 
để tìm các tương quan, mối quan hệ nhân quả 
giữa các biến số nghiên cứu. Nhằm hạn chế 
khuyết điểm này chúng tôi đã tiến hành phân 
tích đa biến để có thể loại bỏ các yếu tố gây 
nhiễu, tìm ra các yếu tố có mối liên quan thực sự 
với trầm cảm trong thai kỳ. Tuy nhiên, để xác 
định rõ các yếu tố nguy cơ của bệnh lý này cần 
có những nghiên cứu với thiết kế mạnh hơn 
trong việc tìm mối liên quan như bệnh chứng, 
đoàn hệ. 
KẾT LUẬN 
Qua nghiên cứu 400 sản phụ có TCTTTTC 
với bảng sàng lọc dấu hiệu trầm cảm EDS, chọn 
điểm cắt 13. Chúng tôi có kết luận sau: 
Tỷ lệ biểu hiện TCTTK của sản phụ có 
TCTTTTC là 13,5%; KTC 95% [10,2 – 16,8]. 
Qua phân tích hồi quy đa biến các yếu tố, 
bốn yếu tố ghi nhận liên quan đến biểu hiện 
TCTTK của sản phụ có TCTTTTC là: 
(i) Nhóm có chồng với nghề nghiệp không 
ổn định tăng nguy cơ biểu hiện TCTTK so với 
nhóm có chồng với nghề nghiệp ổn định, 
OR=3,04; KTC 95% [1,12 - 8,29]. 
(ii) Nhóm sản phụ có sang chấn tâm lý trong 
thời gian 2 tuần gần đây tăng nguy cơ TCTTK so 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 256 
với nhóm không có sang chấn tâm lý, OR=5,19; 
KTC 95% [2,15 - 12,57]. 
(iii) Nhóm sản phụ có lo lắng về mặt sức 
khỏe tăng nguy cơ TCTTK so với nhóm không 
có lo lắng về mặt sức khỏe OR=2,81; KTC 95% 
[1,35 – 5,85]. 
(iv) Nhóm sản phụ có lo lắng về mặt tinh 
thần tăng nguy cơ TCTTK so với nhóm không 
có lo lắng về mặt tinh thần, OR 
=8,88; KTC 95% [2,92 – 26,96]. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. American Congress of Obstetricians and Gynecologists (2019). 
ACOG Practice Bulletin No. 204: Fetal Growth Restriction. 
Obstetrics & Gynecology, 133(2):e97-e109. 
2. Räisänen S, Lehto SM, Nielsen HS, et al (2014). Risk factors for 
and perinatal outcomes of major depression during pregnancy: 
A population-based analysis during 2002-2010 in Finland. BMJ 
Open, 4:e004883. 
3. Liu Y, Zhuo L, Zhu B, et al (2017). Association between 
depression during pregnancy and low birth weight in 
neonates: a Meta analysis. Zhongguo Dang Dai Er Ke Za Zhi, 
19(9):994-998. 
4. American Congress of Obstetricians and Gynecologists (2018). 
ACOG Committee Opinion No. 757: Screening for Perinatal 
Depression. Obstet Gynecol, 132(5):e208-e212. 
5. Fisher J, Meena CM, Patel V, et al (2012). Prevalence and 
determinants of common perinatal mental disorders in women 
in low- and lower-middle-income countries: a systematic 
review. Bull World Health Organ, 90(2):139-149. 
6. Cox JL, Holden JM, and Sagovsky R (1987). Detection of 
postnatal depression. Development of the 10-item Edinburgh 
Postnatal Depression Scale. Br J Psychiatry, 150:782-6. 
7. Usuda K, Nishi D, Okazaki E, Makino M, Sano Y (2017). 
Optimal cut-off score of the Edinburgh Postnatal Depression 
Scale for major depressive episode during pregnancy in Japan. 
Psychiatry Clin Neurosci, 71(12):836-842. 
8. Rubertsson C, Börjesson K, Berglund A, Josefsson A, Sydsjö G 
(2011). The Swedish validation of Edinburgh Postnatal 
Depression Scale (EPDS) during pregnancy. Nord J Psychiatry, 
65(6):414-8. 
9. Boyce P, Stubbs J, and Todd A (1993). The Edinburgh Postnatal 
Depression Scale: validation for an Australian sample. Aust N 
Z J Psychiatry, 27(3):472-6. 
10. Chen J, Cai Y, Liu Y, et al (2016). Factors Associated with 
Significant Anxiety and Depressive Symptoms in Pregnant 
Women with a History of Complications. Shanghai Archives of 
Psychiatry, 28(5):253-262. 
11. Ross GP, Falhammar H, Chen R, et al (2016). Relationship 
between depression and diabetes in pregnancy: A systematic 
review. World Journal of Diabetes, 7(19):554-571. 
12. Raposa E, Hammen C, Brennan P, Najman J (2014). The long-
term effects of maternal depression: early childhood physical 
health as a pathway to offspring depression. J Adolesc Health, 
54(1):88-93. 
13. Lebel C, Walton M, Letourneau N, et al (2016). Prepartum and 
Postpartum Maternal Depressive Symptoms Are Related to 
Children's Brain Structure in Preschool. Biol Psychiatry, 
80(11):859-868. 
14. Niemi M, Falkenberg T, Petzold M, Chuc NTK, Patel V (2013). 
Symptoms of antenatal common mental disorders, preterm 
birth and low birthweight: a prospective cohort study in a 
semi-rural district of Vietnam. Trop Med Int Health, 18(6):687-95. 
Ngày nhận bài báo: 10/11/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 06/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021

File đính kèm:

  • pdfty_le_bieu_hien_tram_cam_va_cac_yeu_to_lien_quan_o_san_phu_c.pdf