Tỷ lệ bất thường dung nạp đường sau sinh 4 – 12 tuần trên thai phụ đái tháo đường thai kỳ tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định

Đặt vấn đề: Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) đang gia tăng trên toàn thế giới, và ngày càng trở nên quan trọng

đối với ngành y tế toàn cầu. Đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) là một mối đe dọa nghiêm trọng đối với sức khỏe

của bà mẹ và trẻ em.

Mục tiêu: Nghiên cứu này nhằm xác định tỷ lệ rối loạn dung nạp đường với xét nghiệm 75 gram

Glucose – 2 giờ (ADA 2016) trên các thai phụ mắc đái tháo đường trong thai kỳ sau sinh 4 – 12 tuần và tìm

các yếu tố liên quan.

Đối tượng - Phương pháp: Nghiên cứu dọc tiền cứu 186 thai phụ được chẩn đoán đái tháo đường trong

thai kỳ, sinh tại bệnh viện Nhân dân Gia định định, tái khám và được làm nghiệm pháp dung nạp đường

(NPDNĐ) với xét nghiệm 75 gram Glucose – 2 giờ trong thời kỳ hậu sản 4 – 12 tuần từ 01/08/2019 –

30/03/2020.

Kết quả: Tỷ lệ bất thường NPDNĐ sau sinh: ĐTĐ: 5,90% KTC 95% [2,50 - 9,30]; NPDNĐ bất thường:

32,80% KTC 95% [26-39,50]; RLĐH đói:17,20% KTC 95% [11,70 - 22,60]; RLĐH 2 giờ: 16,68% KTC 95%

[11,40- 22,10]. Sau khi phân tích hồi qui đa biến có 05 yếu tố nguy cơ độc lập làm tăng nguy cơ bất thường

NPDNĐ sau sinh đó là: Điều trị insulin trong thai kỳ, OR=4,52; KTC 95% [1,70-11,98]; Sinh non OR=3,28;

KTC 95% [1,10 - 9,9]; ĐH đói OR=3,49; KTC 95% [1,53 – 7,98]; ĐH 1 giờ OR=2,98; KTC 95% [1,35 – 6,59];

ĐH 2 giờ OR=3,00; KTC 95% [1,31 – 7,06].

Kết luận: Nên thực hiện nghiệm pháp dung nạp đường cho tất cả các thai phụ ĐTĐTK

pdf 7 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Tỷ lệ bất thường dung nạp đường sau sinh 4 – 12 tuần trên thai phụ đái tháo đường thai kỳ tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Tỷ lệ bất thường dung nạp đường sau sinh 4 – 12 tuần trên thai phụ đái tháo đường thai kỳ tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định

Tỷ lệ bất thường dung nạp đường sau sinh 4 – 12 tuần trên thai phụ đái tháo đường thai kỳ tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 244 
TỶ LỆ BẤT THƯỜNG DUNG NẠP ĐƯỜNG SAU SINH 4 – 12 TUẦN 
TRÊN THAI PHỤ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG THAI KỲ 
TẠI BỆNH VIỆN NHÂN DÂN GIA ĐỊNH 
Nguyễn Thị Minh Huyền1, Hoàng Thị Diễm Tuyết2, Huỳnh Nguyễn Khánh Trang3 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) đang gia tăng trên toàn thế giới, và ngày càng trở nên quan trọng 
đối với ngành y tế toàn cầu. Đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) là một mối đe dọa nghiêm trọng đối với sức khỏe 
của bà mẹ và trẻ em. 
Mục tiêu: Nghiên cứu này nhằm xác định tỷ lệ rối loạn dung nạp đường với xét nghiệm 75 gram 
Glucose – 2 giờ (ADA 2016) trên các thai phụ mắc đái tháo đường trong thai kỳ sau sinh 4 – 12 tuần và tìm 
các yếu tố liên quan. 
Đối tượng - Phương pháp: Nghiên cứu dọc tiền cứu 186 thai phụ được chẩn đoán đái tháo đường trong 
thai kỳ, sinh tại bệnh viện Nhân dân Gia định định, tái khám và được làm nghiệm pháp dung nạp đường 
(NPDNĐ) với xét nghiệm 75 gram Glucose – 2 giờ trong thời kỳ hậu sản 4 – 12 tuần từ 01/08/2019 – 
30/03/2020. 
Kết quả: Tỷ lệ bất thường NPDNĐ sau sinh: ĐTĐ: 5,90% KTC 95% [2,50 - 9,30]; NPDNĐ bất thường: 
32,80% KTC 95% [26-39,50]; RLĐH đói:17,20% KTC 95% [11,70 - 22,60]; RLĐH 2 giờ: 16,68% KTC 95% 
[11,40- 22,10]. Sau khi phân tích hồi qui đa biến có 05 yếu tố nguy cơ độc lập làm tăng nguy cơ bất thường 
NPDNĐ sau sinh đó là: Điều trị insulin trong thai kỳ, OR=4,52; KTC 95% [1,70-11,98]; Sinh non OR=3,28; 
KTC 95% [1,10 - 9,9]; ĐH đói OR=3,49; KTC 95% [1,53 – 7,98]; ĐH 1 giờ OR=2,98; KTC 95% [1,35 – 6,59]; 
ĐH 2 giờ OR=3,00; KTC 95% [1,31 – 7,06]. 
Kết luận: Nên thực hiện nghiệm pháp dung nạp đường cho tất cả các thai phụ ĐTĐTK. 
Từ khóa: nghiệm pháp dung nạp đường, đái tháo đường thai kỳ 
ABSTRACT 
THE PREVALENCE OF 4 – 12 WEEKS POSTPARTUM ABNORMAL GLUCOSE TOLERANCE IN 
WOMEN WITH GESTATIONAL DIABETES AT NHAN DAN GIA DINH HOSPITAL 
Nguyen Thi Minh Huyen, Hoang Thị Diem Tuyet, Huynh Nguyen Khanh Trang 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No. 1 - 2021: 244 - 250 
Background: Diabetes is on the rise all over the world, and is becoming increasingly important in the global 
health sector. Gestational diabetes mellitus is a serious threat to the health of mothers and children. 
Objectives: This study aimed to determine the incidence of impaired glucose tolerance with a 75-gram 
glucose-2-hour assay (ADA 2016) in diabetic pregnant women in 4-12 weeks postpartum and to find relevant 
factors. 
Methods: A prospective longitudinal study of 186 pregnant women diagnosed with diabetes in pregnancy, 
delivered at People's Gia Dinh Hospital, re-examined and tested for sugar tolerance with a test of 75 grams of 
Glucose - 2 hours during the postpartum period 4 - 12 weeks from August 1, 2019 to March 30, 2020. 
1Bệnh viện Nhân dân Gia Định 2Bệnh viện Hùng Vương 
3BM Sản Phụ khoa, ĐH Y Khoa Phạm Ngọc Thạch 
Tác giả liên lạc: PGS.TS. Huỳnh Nguyễn Khánh Trang ĐT: 0903882015 Email: [email protected] 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 245 
Results: 1. Abnormal rate of postpartum glucose tolerance test: Diabetes 5.90% 95% CI [2.50 - 9.30]; 
abnormal glucose tolerance test: 32.80% 95% CI [26-39,50]; disorders of fasting blood sugar: 17.20% 95% 
CI [11.70 - 22.60]; 2-hour blood sugar disorder: 16.68% 95% CI [11.40-22,10]. 2. After multivariate 
regression analysis, there are 05 independent risk factors that increase the risk of an abnormal postpartum 
glucose tolerance test: Insulin treatment in pregnancy, OR = 4.52; 95% CI [1.70-11.98]; Preterm birth OR = 
3.28; 95% confidence interval [1.10 - 9.9]; Fasting blood sugar OR = 3.49; 95% confidence interval [1.53 - 
7.98]; 1 hour blood sugar OR = 2.98; 95% confidence interval [1.35 - 6.59]; 2-hour blood sugar OR = 3.00; 
95% confidence interval [1.31 - 7.06]. 
Conclusion: It is recommended to perform glucose tolerance test for all diabetic women. 
Keywords: Glucose tolerance test, gestational diabetes mellitus 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tỷ lệ 
bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) đang gia tăng trên 
toàn thế giới, và ngày càng trở nên quan trọng 
đối với ngành y tế toàn cầu. Đái tháo đường thai 
kỳ (ĐTĐTK) là một mối đe dọa nghiêm trọng và 
bị bỏ quên đối với sức khỏe của bà mẹ và trẻ em. 
Năm 2019 có 16% trẻ sinh ra sống có một số 
dạng tăng đường huyết (ĐH) trong thai kỳ. Ước 
tính 84% là do bệnh tiểu đường thai kỳ(1). 
Đái tháo đường thai kỳ ảnh hưởng rất lớn 
đến sức khỏe của bà mẹ cũng như của thai nhi: 
Người mẹ có thể mắc các bệnh lý như tăng 
huyết áp, bệnh lý võng mạc, bệnh lý mạch 
vành và nhiễm trùng đường niệu, tăng nguy 
cơ nhiễm độc thai nghén và nguy cơ ĐTĐ thực 
sự trong tương lai. Phần lớn nghiên cứu chỉ ra 
rằng bất thường bẩm sinh tăng gấp 3 lần ở 
những thai nhi có mẹ bị ĐTĐTK, thai to, sang 
chấn lúc sinh, sinh mổ, hạ ĐH sau sinh, vàng 
da sau sinh...(2). Nếu không được chẩn đoán và 
điều trị thích hợp, có thể ảnh hưởng đến tử 
suất và bệnh suất của mẹ và thai nhi. 
Trong thai kỳ, ĐTĐ được xem là một trong 
những bệnh lý nội khoa thường gặp nhất. Trên 
thế giới tỷ lệ ĐTĐTK rất thay đổi từ 2% đến 20% 
tùy thuộc vào dân số nghiên cứu và tiêu chuẩn 
chẩn đoán. Theo khảo sát của các BV chuyên 
khoa sản trên toàn quốc thì trong giai đoạn từ 
năm 2001 - 2004, tỷ lệ phát hiện bệnh ĐTĐTK 
vào khoảng 3% - 4%, tuy nhiên đến năm 2017, tỷ 
lệ này đã tăng lên mức 20% trên tổng số sản phụ 
được khám tại các BV/cơ sở y tế chuyên khoa(3). 
Đa số các trường hợp ĐTĐTK, ĐH sẽ trở về bình 
thường sớm sau sinh, tuy nhiên một số trường 
hợp diễn tiến thành ĐTĐ hoặc tiền ĐTĐ, hội 
chứng chuyển hóa ở các bà mẹ, những trẻ sinh ra 
từ những bà mẹ này có nguy cơ bị ĐTĐ và tiền 
ĐTĐ khi đến tuổi trưởng thành. 
Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về rối loạn 
chuyển hóa đường thời kỳ hậu sản ở sản phụ 
ĐTĐTK. Nghiên cứu của Weinert LS thực hiện 
tại Brasil ở các sản phụ ĐTĐTK. Có 108 sản phụ 
ĐTĐTK được thực hiện nghiệm pháp dung nạp 
đường (NPDNĐ) ở thời điểm 6 tuần tới 6 tháng 
sau sinh, kết quả có 24% sản phụ có kết quả bất 
thường, trong đó có 4% được chẩn đoán ĐTĐ và 
20% có bất thường ĐH(4). Hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ 
(ADA), Hiệp hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ 
(ACOG)(5) khuyến cáo nên thực hiện NPDNĐ 6 
đến 12 tuần sau sinh và mới đây nhất là theo 
khuyến cáo của ADA, ACOG năm 2017 là thực 
hiện NPDNĐ 4 đến 12 tuần sau sinh cho tất cả 
sản phụ ĐTĐTK nhằm phát hiện sớm những bất 
thường đường huyết (ĐH) sau sinh giúp điều trị 
sớm, dự phòng làm chậm diễn tiến ĐTĐ típ 2 và 
các biến chứng về sau cũng như giảm nguy cơ 
sẩy thai và sinh con dị tật ở những bệnh nhân 
ĐTĐTK khi mang thai lại. 
Phạm Thị Hải Châu (2012), ĐTĐTK chẩn 
đoán theo ADA 2010. Trong 247 trường hợp 
ĐTĐTK tại BV Hùng Vương xét nghiệm 75g 
đường 6 đến 12 tuần sau sinh (WHO 2006) kết 
quả 33,20% bất thường dung nạp đường trong 
đó 7,70% ĐTĐ, 23,90% RLDNĐ, 1,60% RLĐH 
đói(6). Ngày 26/10/2018 Bộ Y Tế đã ban hành 
“Hướng dẫn Quốc gia dự phòng và kiểm soát 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 246 
ĐTĐTK” khuyến cáo sau sinh 4 - 12 tuần sản 
phụ bị ĐTĐTK làm lại NPDNĐ (xét nghiệm 75 
gram đường - 2 giờ)(3). Tại BV Nhân dân Gia 
Định hằng năm có khoảng 10.000 trường hợp 
sinh. Việc tầm soát và chẩn đoán ĐTĐTK theo 
tiêu chuẩn của ADA 2012 đã được áp dụng 
trong phác đồ khám thai. BV đã có chương trình 
điều trị, theo dõi, tư vấn tầm soát ĐTĐ rất hiệu 
quả qua việc phát tờ rơi, thông tin truyền thông, 
câu lạc bộ ĐTĐ Tuy nhiên vấn đề tư vấn và 
tầm soát cho các trường hợp có ĐTĐTK sau sinh 
còn chưa được quan tâm đúng mức. Với câu hỏi 
nghiên cứu: Có bao nhiêu trường hợp bất 
thường NPDNĐ trên sản phụ ĐTĐTK sau sinh 4 
đến 12 tuần tại BV Nhân dân Gia Định và các 
yếu tố nguy cơ nào liên quan? Chúng tôi tiến 
hành thực hiện nghiên cứu với các mục tiêu: 
1. Xác định tỷ lệ rối loạn đường huyết 
(RLĐH) đói, RLDNĐ, ĐTĐ sau sinh 4 đến 12 
tuần trên sản phụ ĐTĐTK. 
2. Khảo sát mối liên quan giữa bất thường 
nghiệm pháp 75 gram (g) đường theo tiêu chuẩn 
ADA năm 2016, ĐH đói, ĐH 2 giờ của NPDNĐ 
sau sinh 4 đến 12 tuần trên sản phụ ĐTĐTK với 
một số yếu tố dịch tễ, tiền căn sản khoa, thai kỳ, 
kết cục thai kỳ. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Sản phụ khám thai và sinh tại bệnh viện (BV) 
Nhân Dân Gia Định từ 01/08/2019 – 30/03/2020 
hội đủ các tiêu chuẩn chọn mẫu. 
Tiêu chuẩn chọn mẫu 
Sản phụ được chẩn đoán ĐTĐTK dựa theo 
NPDNĐ của ADA 2016. Sản phụ ĐTĐTK sinh 
tại BV Nhân dân Gia Định và đồng ý làm 
nghiệm pháp 75 g đường sau sinh 4 đến 12 tuần 
tại BV Nhân dân Gia Định. 
Tiêu chuẩn loại trừ 
Sản phụ được chẩn đoán ĐTĐ trước khi 
mang thai. Đang mắc các bệnh ảnh hưởng đến 
chuyển hóa đường như cường giáp, suy giáp, 
Cushing, u tủy thượng thận, to đầu chi, suy gan, 
suy thận. Đang sử dụng các thuốc có ảnh hưởng 
đến chuyển hóa đường như corticoid, 
salbutamol, thuốc chẹn giao cảm, lợi tiểu nhóm 
thiazide, thuốc hạ áp. Đa thai. Đang mắc bệnh 
cấp tính: nhiễm khuẩn toàn thân, lao phổi, viêm 
gan. Không đồng ý tham gia nghiên cứu. Các 
tiêu chuẩn này được xác định qua hỏi tiền căn, 
khám lâm sàng. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu dọc tiến cứu. 
Cỡ mẫu 
2
2
)2/1( )1(
d
ppZ
n
Trong đó: 
Z2(1-α/2): Trị số tới hạn ở KTC 95% (Z(1-α/2)=1,96 
với α = 0,05). 
Cỡ mẫu được ước tính dựa trên tỷ lệ bất 
thường NPDNĐ sau sinh từ nghiên cứu của 
Ogonowski J(7) thực hiện năm 2005 đến 2007, ở 
vùng Tây Bắc của Ba Lan trên 318 sản phụ 
ĐTĐTK thực hiện nghiệm pháp dung nạp 75g- 2 
giờ sau sinh 5 đến 9 tuần, kết quả 13,50% bất 
thường NPDNĐ. Nghiên cứu (NC) thu nhận 186 
đối tượng. 
Phương pháp chọn mẫu 
Lấy mẫu toàn bộ. 
Phương pháp thực hiện 
Sau sinh để sản phụ tái khám đúng hẹn, 
nghiên cứu viên điện thoại nhắc sản phụ một 
tuần trước ngày tái khám để họ có thể sắp xếp 
công việc, tư vấn thêm về mức độ cần thiết của 
NPDNĐ sau sinh, nhấn mạnh các ưu tiên như 
được tái khám sớm, có thể về ngay khi làm xong 
xét nghiệm và kết quả sẽ được tư vấn qua điện 
thoại. Đồng thời, nhắc lại cách chuẩn bị trước khi 
làm NPDNĐ để kết quả chính xác. Tại thời điểm 
tái khám sau sinh 4 đến 12 tuần, sản phụ được 
làm NPDNĐ 75g-2 giờ. 
Kết quả đường huyết sau sinh theo tiêu 
chuẩn của ADA 2016. Chẩn đoán ĐTĐ: ĐH đói 
≥126 mg/dL (7,0 mmol/L) hoặc, ĐH 2 giờ ≥200 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 247 
mg/dL (11,1 mmol/L) trong NPDNĐ, hoặc A1C 
≥6,5%, hoặc ĐH ngẫu nhiên ≥200 mg/dL (11,1 
mmol/L). RLĐH đói: ĐH đói 100 – 125 mg/dL 
(5,6 – 6,9 mmol/L), hoặc RLDNĐ: ĐH 2 giờ sau 
NPDNĐ 140-199 mg/dL (7,8 – 11,0 mmol/L), 
hoặc A1C 5,70-6,40%. 
Xử lý dữ liệu 
Dữ liệu được kiểm tra, mã hóa, nhập liệu và 
quản lý bằng Excel và phân tích bằng SPSS 20. 
Trình bày dưới dạng tần số, tỷ lệ phần trăm cho 
biến số không liên tục và trung bình, độ lệch 
chuẩn cho biến số liên tục. Khảo sát tương quan 
giữa các biến danh định dùng phép kiểm Chi 
bình phương, giữa biến danh định với biến liên 
tục dùng T- test. 
Y đức 
Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội 
đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Bệnh 
viện Nhân Dân Gia Định, số 54-2019/NDGĐ-
HĐĐĐ, ngày 14/6/2019. 
KẾT QUẢ 
Bảng 1: Đặc điểm dịch tễ học của đối tượng NC 
Đặc điểm Số sản phụ (n=186) Tỷ lệ (%) 
Tuổi 31,64 ± 5,17 
< 25 28 15,05 
≤ 25-35 99 53,22 
≥35 59 31,73 
Trình độ 
Cấp 1 3 1,61 
Cấp 2 45 24,21 
Cấp 3 82 44,08 
Sau cấp 3 56 30,10 
Nghề nghiệp 
Công nhân viên 53 28,49 
Công nhân 60 32,25 
Nội trợ 53 28,50 
Nghề khác 20 10,76 
Địa chỉ 
Bình Thạnh 27 14,50 
Gò vấp 48 25,80 
Quận 12 26 13,97 
Nơi khác 85 45,73 
BMI 
Thiếu cân 19 10,21 
Bình thường 103 55,37 
Thừa cân 41 22 
Đặc điểm Số sản phụ (n=186) Tỷ lệ (%) 
Béo phì 23 12,42 
Cao huyết áp 
Có 8 4,30 
không 178 95,70 
Điều trị insulin 
Có 37 19,90 
Không 149 80,10 
Tuổi trung bình đối tượng 31,64 ± 5,17 tuổi, 
đa số có trình độ cấp 3 cao nhất 44,08%. Nghề 
nghiệp: công nhân viên, công nhân và nội trợ có 
số trường hợp tương đương nhau 59-54-53 
chiếm tỷ lệ (28,49% - 32,25% - 28,50%) (Bảng 1). 
Bảng 2: Đặc điểm thai kỳ liên quan tình trạng 
ĐTĐTK 
Đặc điểm 
Giá trị trung 
bình 
GTNN-GTLN 
Tuổi thai chẩn đoán (tuần) 26,34±1,33 24-30 
Tuổi thai lúc sinh (tuần) 38,50 ±1,54 31- 40 4/7 
Cân nặng chẩn đoán (kg) 61,27±8,04 42-84 
Cân nặng lúc sinh (kg) 66,12±8,35 47-92 
Tăng cân chẩn đoán (kg) 4,93±2,74 -1-14 
Tăng cân thai kỳ (kg) 12,43±4,22 4-25 
BMI 22,28±3,21 14,5-37 
ĐH đói (mg%) 97,62±20,04 63-206 
ĐH 1 giờ (mg%) 189,79±38,12 110-369 
ĐH 2 giờ (mg%) 159,39±38,61 61-365 
Cân nặng con (g) 3239,2±507,37 1600-4900 
Tái khám sau sinh (ngày) 45,85±14,81 30-84 
Cân nặng sau sinh (kg) 58,21±8,06 40-82 
ĐH sau sinh đói (mg%) 90,54±14,67 68-135 
ĐH sau sinh 2 giờ (mg%) 119,16±32,81 58-237 
Tuổi thai lúc sinh 26,34±1,33 tuần. Tăng cân 
chẩn đoán trung bình 4,93 ±2,74, có trường hợp 
giảm 1 kg so với lúc mới mang thai, mức tăng 
cân nhiều nhất 14 kg. BMI trung bình 22,28 
±3,21, cao nhất là 37 (Bảng 2). 
Bảng 3: Kết quả thử nghiệm 75 gram Glucoes – 2giờ 
ở 4 -12 tuần sau sinh trên thai phụ ĐTĐTK 
Đặc điểm Tỷ lệ (%) KTC 95% 
Bất thường NPDNĐ 32,80% 26 - 39,5 
ĐTĐ 5,91% 2,50 - 9,30 
RLĐH đói 17,20% 11,70- 22,60 
RLĐH 2giờ 16,68% 11,40- 22,10 
Bất thường NPDNĐ chiếm tỷ lệ 32,80% KTC 
95% (26-39,50). Với các phân nhóm: ĐTĐ chiếm 
tỷ lệ 5,91% KTC 95% (2,50 -9,30); RLDNĐ chiếm 
tỷ lệ 26,89% KTC95% (20,50-33,20); RLĐH đói 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 248 
chiếm tỷ lệ 17,20% KTC 95% (11,70-22,60); RLĐH 
2giờ chiếm tỷ lệ 16,68% KTC 95% (11,40-22,10) 
(Bảng 3). 
ĐTĐ điều trị insulin có liên quan đến 
NPDNĐ có ý nghĩa thống kê với OR=4,52 
p=0,002. Điều này có nghĩa là nhóm ĐTĐ điều trị 
insulin tăng 4,52 lần kết cục NPDNĐ bất thường 
so với nhóm không điều trị insulin. Sinh non có 
liên quan đến NPDNĐ có ý nghĩa thống kê với 
OR=3,28, p=0,003. Điều này có nghĩa là nhóm 
sinh non tăng 3,28 lần kết cục NPDNĐ bất 
thường so với nhóm sinh đủ tháng. 
OR hiệu chỉnh của ĐH đói là 3,49 với 
p=0,003 điều này có nghĩa là nguy cơ có kết cục 
NPDNĐ bất thường tăng 3,49 lần nếu có ĐH đói 
ở thời điểm chẩn đoán ĐTĐTK cao hơn so với 
người có ĐH đói bình thường. 
Bảng 4: Mối liên quan giữa đặc điểm sinh và kết cục NPDNĐ bất thường. 
 OR thô KTC95% OR hiệu chỉnh KTC 95% P 
TC gia đình ĐTĐ 2,16 1,07-4,35 1,60 0,66– 3,86 0,300 
TC sinh mổ 1,82 0,92- 3,57 2,21 0,96-5,13 0,062 
Thừa cân 2,88 1,51- 5,46 2,09 0,95- 4,61 0,067 
ĐTĐ điều trị insulin 7,69 3,45-17,13 4,52 1,70– 11,98 0,002 
Con to 3,43 1,16-10,14 2,80 0,68 -11,44 0,150 
Sinh non 3,11 1,27-7,58 3,28 1,10-9,90 0,033 
ĐH đói 2,92 1,48- 5,77 3,49 1,53- 7,98 0,003 
ĐH 1 giờ 3,25 1,66- 6,35 2,98 1,35- 6,59 0,007 
ĐH 2 giờ 3,00 1,50- 5,99 3,00 1,31- 7,06 0,009 
BÀN LUẬN 
Các tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ sau sinh 
cũng như ĐTĐ ở người bình thường của các 
hiệp hội, tổ chức khác nhau về thời gian, ngưỡng 
và giá trị chẩn đoán. Hiện nay tiêu chuẩn chẩn 
đoán ĐTĐ của ADA không khác gì so với tiêu 
chuẩn chẩn đoán ĐTĐ của ADA 2016 và cũng có 
sự tương đồng với tiêu chuẩn của WHO. 
NICE khuyến cáo tầm soát 6 tuần sau sinh ở 
sản phụ ĐTĐTK bằng ĐH đói đơn thuần, không 
phải NPGNĐ(8). So với NPDNĐ thì xét nghiệm 
ĐH đói đơn thuần dễ thực hiện, ít tốn thời gian, 
sản phụ dễ tuân thủ, tuy nhiên thiếu độ nhạy và 
dễ bỏ sót các trường hợp bất thường ĐH 2 giờ. 
Theo nghiên cứu của chúng tôi, nếu chỉ dựa vào 
xét nghiệm ĐH đói đơn thuần sau sinh 4-12 
tuần, chỉ phát hiện được 3,24% trường hợp ĐTĐ 
sau sinh, bỏ sót 2,70% trường hợp ĐTĐ được 
chẩn đoán bằng ĐH 2 giờ của NPDNĐ. 
Nghiên cứu của Phạm Thị Hải Châu nếu chỉ 
dựa vào xét nghiệm ĐH đói đơn thuần sau sinh 
6-12 tuần, chỉ phát hiện được 4,45% trường hợp 
ĐTĐ sau sinh, bỏ sót 3,25% trường hợp ĐTĐ 
được chẩn đoán bằng ĐH 2 giờ của NPDNĐ(6). 
Nghiên cứu của Shauna L(9) cho thấy nếu dựa 
vào xét nghiệm ĐH đói đơn thuần có thể bỏ sót 
39% các trường hợp RLDNĐ hoặc ĐTĐ và 54% 
trường hợp ĐTĐ típ 2. Do đó hiện nay NPDNĐ 
vẫn được xem là tiêu chí vàng trong đánh giá 
tình trạng dung nạp đường sau sinh 4 đến 12 
tuần ở các sản phụ ĐTĐTK. 
Để kiểm soát các yếu tố gây nhiễu và đồng 
tác ảnh hưởng lên NPDNĐ bất thường, chúng 
tôi đưa vào phân tích hồi qui đa biến các yếu tố 
độc lập có p <0,25. Như vậy, tổng cộng có 9 yếu 
tố đã kể trên được đưa vào phân tích hồi qui đa 
biến. Phân tích đa biến cho thấy có sự thay đổi 
OR ở 5 yếu tố: ĐTĐ điều trị insulin, sinh non, 
ĐH đói, ĐH 1 giờ, ĐH 2 giờ có liên quan đến 
NPDNĐ có ý nghĩa thống kê (p <0,05). 
Phân tích đa biến OR hiệu chỉnh của tiền căn 
gia đình ĐTĐ là 1,63 với p=0,30, cho thấy có sự 
khác biệt không có ý nghĩa thống kê. NC của 
Weinert LS(4) thực hiện tại Brazil ở các sản phụ 
ĐTĐTK cho thấy các yếu tố tiền căn gia đình 
ĐTĐ có liên quan với nhóm bất thường NPDNĐ 
(OR 2,41, KTC95% (1,00-5,8), p=0,050). 
ĐTĐTK có sử dụng insulin OR hiệu chỉnh 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 249 
4,52; p=0,002. Điều này có nghĩa là nhóm ĐTĐ 
điều trị insulin tăng 4,52 lần kết cục NPDNĐ bất 
thường so với nhóm không điều trị insulin. 
Rivas AM(10) trong phân tích đơn biến cho thấy 
có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm 
bất thường NPDNĐ và nhóm bình thường có 
điều trị insulin (p <0,05). 
Phân tích đa biến OR hiệu chỉnh của sinh 
non là 3,28, P = 0,033 khác biệt này có ý nghĩa 
thống kê. Rivas AM(10) trong phâp tích đơn biến 
cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 
nhóm bất thường NPDNĐ và nhóm bình 
thường có sinh non (p <0,05). 
Nhóm bất thường NPDNĐ có mức ĐH đói 
(trong lúc mang thai) dự báo tăng khả năng bất 
thường NPDNĐ sau sinh 3,49 lần. Aleida M. 
Rivas và cs(10) trong phâp tích đơn biến cho thấy 
có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm 
bất thường NPDNĐ và nhóm bình thường về 
yếu tố: giá trị ĐH đói (p<0,001), giá trị ĐH 2 giờ 
(p<0,05). Nhóm bất thường NPDNĐ có ĐH 1 giờ 
(trong lúc mang thai) cao hơn, cho thấy khả 
năng dung nạp và chuyển hóa đường kém hơn 
nhóm có ĐH bình thường, dự báo tăng khả năng 
bất thường NPDNĐ sau sinh 2,98 lần. Nhóm bất 
thường NPDNĐ có ĐH 2 giờ (trong lúc mang 
thai) cao hơn, cho thấy khả năng dung nạp và 
chuyển hóa đường kém hơn nhóm có ĐH bình 
thường, dự báo tăng khả năng bất thường 
NPDNĐ sau sinh 3 lần. Weinert LS(4) năm 2014, 
209 sản phụ Brazil có đái tháo đường thai kỳ 
được thực hiện NPDNĐ sau sinh, tìm được mối 
liên quan giữa bất thường NPDNĐ sau sinh với 
giá trị ĐH 2 giờ của NPDNĐ 75g-2 giờ tại thời 
điểm chẩn đoán ĐTĐTK cao gấp 1,01 lần so với 
những sản phụ giá trị đường huyết 2 giờ của 
NPDNĐ 75g-2 giờ thấp (OR 1,01; p=0,045). 
Hạn chế của đề tài 
Do thiết kế dọc tiến cứu không phải là thiết 
kế để tìm mối liên quan, đây cũng là nhược 
điểm của NC, cần có những NC với thiết kế 
đoàn hệ hoặc bệnh chứng để kiểm chứng các 
yếu tố liên quan. 
KẾT LUẬN 
Sau NC 186 sản phụ bị ĐTĐTK tham gia làm 
NPDNĐ sau sinh. Chúng tôi rút ra một số kết 
luận như sau: 
1. Tỷ lệ bất thường NPDNĐ sau sinh: ĐTĐ: 
5,90% KTC 95% (2,50 - 9,30); NPDNĐ bất 
thường: 32,80% KTC 95% (26-39,50); RLĐH 
đói:17,20% KTC 95% (11,70 - 22,60); RLĐH 2 giờ: 
16,68% KTC 95% (11,40- 22,10). 
2. Sau khi phân tích hồi qui đa biến có 05 yếu 
tố nguy cơ độc lập làm tăng nguy cơ bất thường 
NPDNĐ sau sinh đó là: Điều trị insulin trong 
thai kỳ, OR=4,52; KTC 95% (1,70-11,98); Sinh non 
OR=3,28; KTC 95% (1,10 - 9,9); ĐH đói OR=3,49; 
KTC 95% (1,53 – 7,98); ĐH 1 giờ OR=2,98; KTC 
95% (1,35 – 6,59); ĐH 2 giờ OR=3,00; KTC 95% 
(1,31 – 7,06). 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. International Diabetes Federation (2019). IDF Advocacy guide. 
URL: https://idf.org/e-library/advocacy.html. 
2. Torloni MR, Wendland EM, Falavigna M, et al (2012). 
Gestational diabetes and pregnancy outcomes - a systematic 
review of the World Health Organization (WHO) and the 
International ion of Diabetes in Pregnancy Study Groups 
(IADPSG) diagnostic criteria. BMC Pregnancy Childbirth, 12:12-
23. 
3. Bộ Y tế (2018). Hướng dẫn Quốc Gia dự phòng và kiểm soát 
đái tháo đường thai kỳ. Quyết định số: 6173/QĐ-BYT. 
4. Weinert LS (2014). Postpartum glucose tolerance status 6 to 12 
weeks after gestational diabetes mellitus: A Brazilian cohort. 
Arquivos Brasileiros de Endocrinologia e Metabologia, 58(2):197-204. 
5. American College of Obstetricians and Gynecologists (2009). 
Practice Bulletin No.435: Postpartum Screening for Abnormal 
Glucose Tolerance in Women Who Had Gestational Diabetes 
Mellitus. Obtet Gynecol, 113:1419-1421. 
6. Phạm Thị Hải Châu, Ngô Thị Kim Phụng (2012). Tỷ lệ bất 
thường nghiệm pháp dung nạp Glucose sau sanh 6 đến 12 
tuần trên bệnh nhân ĐTĐTK tại BV Hùng Vương. Y học Thành 
phố Hồ Chí Minh, 17(1):41-59. 
7. Ogonowski J (2009). The prevalence of 6 weeks postpartum 
abnormal glucose tolerance in Caucasian women with 
gestational diabetes. Diabetes Research and Clinical Practice, 
84:239-244. 
8. National Institute for Health and Clinical Excellence (2008). 
Guidelines 63: Diabetes in Pregnancy: Management of 
Diabetes and Its Complications from Preconception to the 
Postnatal Period. URL: 
https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/21370515/. 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 250 
9. Reinblatt ST, Morin L, Meltzer SJ (2006). The Importance of a 
Postpartum 75 g Oral Glucose Tolerance Test in Women With 
Gestational Diabetes. Journal of Obstetrics and Gynaecology 
Canada, 28(8):4. 
10. Rivas A, González N, González J (2007). High frequency of 
diabetes in early post-partum assessment of women with 
gestational diabetes mellitus. Diabetes & Metabolic Syndrome, 
1(3):159-165. 
Ngày nhận bài báo: 16/11/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 01/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021

File đính kèm:

  • pdfty_le_bat_thuong_dung_nap_duong_sau_sinh_4_12_tuan_tren_thai.pdf