Tuyến giáp và vô sinh nam

Tuyến giáp là tuyến nội tiết lớn nhất trong cơ thể. Hormone tuyến giáp tham gia vào các quá trình chuyển hóa quan trọng. Bệnh tuyến giáp là bệnh nội tiết phổ biến nhất ảnh hưởng đến phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. Những thay đổi về chức năng tuyến giáp ảnh hưởng xấu đến sức khỏe sinh sản nữ trước, trong và sau khi thụ thai. Ngoài ra, bệnh tuyến giáp từ lâu đã được coi là một yếu tố nguy cơ gây sẩy thai và có thể có ảnh hưởng không tốt tới kết quả thai kỳ và tử vong chu sinh. Do đó, gần đây đã có tác giả đề cập đến việc sàng lọc bệnh lý tuyến giáp ở những phụ nữ có vấn đề về sinh sản, sảy thai tái phát ngay khi bắt đầu bước vào thai kỳ. Ngược lại với quan điểm cho rằng hormone tuyến giáp rất quan trọng đối với khả năng sinh sản của nữ, tác động của hormon tuyến giáp đến chức năng sinh sản của nam giới phần lớn chưa rõ và hiếm khi được đề cập. Mối quan hệ giữa chức năng tuyến giáp và sự sinh tinh trùng ở nam giới trưởng thành và cách hormon tuyến giáp tác động lên chức năng tinh hoàn vẫn còn gây nhiều tranh cãi. Đã có một vài nghiên cứu cho thấy tác động tiêu cực của cường giáp và suy giáp lên các thông số tinh dịch đồ. Người ta thấy cường giáp có mối liên hệ ngược với số lượng tinh trùng và sự vận động của tinh trùng. Suy giáp lại có ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng vận động của tinh trùng, hình thái học tinh trùng và thể tích tinh dịch

pdf 10 trang phuongnguyen 220
Bạn đang xem tài liệu "Tuyến giáp và vô sinh nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Tuyến giáp và vô sinh nam

Tuyến giáp và vô sinh nam
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
94 
TUYẾN GIÁP VÀ VÔ SINH NAM 
Nguyễn Thị Thanh Hương1, Vũ Bích Nga2 
1. Bệnh viện Đại học Y Hà Nội; 
2. Trường Đại học Y Hà Nội 
DOI: 10.47122/vjde.2020.43.14 
ABSTRACT 
Thyroid and male infertility 
The thyroid is the largest endocrine gland 
in the body. The thyroid hormones play an 
important role in many metabolic processes. 
Thyroid diseaseis the most common 
endocrine disease affecting women of 
reproductive age. Change sinthyroidfunction 
adversely affect female reproductive 
healthbefore, during and after conception. In 
addition, thyroid disease has long been 
considered a risk factor for miscarriage and 
may adversely affect perinatal outcome and 
mortality. Therefore, the author recently 
mentioned screening for thyroid disease in 
women with reproductive problems, recurrent 
miscarriages at the onset ofpregnancy. 
Incontrast to that, the effects of thyroid 
hormones on male reproductive function are 
largely unknown andrarely mentioned. The 
relationship between thyroid function and 
spermatogenesis in adult men and the way 
thyroid hormones affect testicular function 
remains controversial. There have been a few 
studies showing negative effects of 
hyperthyroidism and hypothyroidism on 
semen parameters. Hyperthyroidism has been 
found to be inversely related to sperm count 
and motility. Hypothyroidism has a negative 
effect on sperm motility, sperm morphology 
and semenvolume. 
Key words: Thyroid, male infertility 
TÓM TẮT 
Tuyến giáp là tuyến nội tiết lớn nhất trong 
cơ thể. Hormone tuyến giáp tham gia vào các 
quá trình chuyển hóa quan trọng. Bệnh tuyến 
giáp là bệnh nội tiết phổ biến nhất ảnh hưởng 
đến phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. Những 
thay đổi về chức năng tuyến giáp ảnh hưởng 
xấu đến sức khỏe sinh sản nữ trước, trong và 
sau khi thụ thai. Ngoài ra, bệnh tuyến giáp từ 
lâu đã được coi là một yếu tố nguy cơ gây sẩy 
thai và có thể có ảnh hưởng không tốt tới kết 
quả thai kỳ và tử vong chu sinh. Do đó, gần 
đây đã có tác giả đề cập đến việc sàng lọc 
bệnh lý tuyến giáp ở những phụ nữ có vấn đề 
về sinh sản, sảy thai tái phát ngay khi bắt đầu 
bước vào thai kỳ. Ngược lại với quan điểm 
cho rằng hormone tuyến giáp rất quan trọng 
đối với khả năng sinh sản của nữ, tác động 
của hormon tuyến giáp đến chức năng sinh 
sản của nam giới phần lớn chưa rõ và hiếm 
khi được đề cập. Mối quan hệ giữa chức năng 
tuyến giáp và sự sinh tinh trùng ở nam giới 
trưởng thành và cách hormon tuyến giáp tác 
động lên chức năng tinh hoàn vẫn còn gây 
nhiều tranh cãi. Đã có một vài nghiên cứu cho 
thấy tác động tiêu cực của cường giáp và suy 
giáp lên các thông số tinh dịch đồ. Người ta 
thấy cường giáp có mối liên hệ ngược với số 
lượng tinh trùng và sự vận động của tinh 
trùng. Suy giáp lại có ảnh hưởng tiêu cực đến 
khả năng vận động của tinh trùng, hình thái 
học tinh trùng và thể tích tinh dịch. 
Từ khóa: tuyến giáp, vô sinh nam 
Chịu trách nhiệm chính: Vũ Bích Nga 
Ngày nhận bài: 05/8/2020 
Ngày phản biện khoa học: 07/11/2020 
Ngày duyệt bài: 13/12/2020 
Email: [email protected] 
Điện thoại: 0913544622 
1. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Tuyến giáp là tuyến nội tiết lớn nhất trong 
cơ thể. Tuyến giáp bài tiết các hormone tham 
gia vào các quá trình chuyển hóa quan trọng. 
Bệnh tuyến giáp là bệnh nội tiết phổ biến nhất 
ảnh hưởng đến phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. 
Cường giáp gặp ở 2,3% phụ nữ có vấn đề về 
sinh sản[1], [11], suy giáp gặp ở khoảng 2 - 
4% phụ nữ trong độ tuổi sinh sản[1], [12], 
trong khi suy giáp cận lâm sàng gặp ở khoảng 
11% những người bị rối loạn rụng trứng[13]. 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
95 
Những thay đổi về chức năng tuyến giáp ảnh 
hưởng xấu đến sức khỏe sinh sản nữ trước, 
trong và sau khi thụ thai [1], [2], [3]. Ngoài 
ra, bệnh tuyến giáp từ lâu đã được coi là một 
yếu tố nguy cơ cho sẩy thai và có thể có ảnh 
hưởng không tốt tới kết quả thai kỳ và tử 
vong chu sinh [3], [4]. Do đó, gần đây đã có 
tác giả đề cập đến việc sàng lọc bệnh lý tuyến 
giáp ở những phụ nữ có vấn đề về sinh sản, 
sảy thai tái phát ngay khi bắt đầu bước vào 
thai kỳ[1]. 
Ngược lại với quan điểm cho rằng 
hormone tuyến giáp rất quan trọng đối với 
khả năng sinh sản của nữ, tác động của 
hormon tuyến giáp đến chức năng sinh sản 
của nam giới phần lớn chưa rõ và hiếm khi 
được đề cập. Điều này có thể do tỷ lệ rối loạn 
chức năng tuyến giáp ở nam giới thấp hơn 
hoặc do tác động của hormon tuyến giáp lên 
chức năng sinh sản ít hơn so với các tác dụng 
toàn thân của chúng. 
Trong vài thập kỷ gần đây, người ta đã bắt 
đầu nghiên cứu sâu về vai trò của hormone 
tuyến giáp đối với chức năng sinh sản nam 
giới. Chúng được xem như là các yếu tố thiết 
yếu điều hòa các chức năng sinh sản của nam 
giới và đóng vai trò quan trọng trong sự phát 
triển của tuyến sinh dục nam. Cả cường giáp 
và suy giáp đều ảnh hưởng đến chức năng 
tinh hoàn và ảnh hưởng đến sự điều hòa thần 
kinh nội tiết đối với chức năng sinh sản thông 
qua con đường chéo giữa trục dưới đồi-tuyến 
yên-tuyến giáp và trục hạ đồi-tuyến yên-tuyến 
sinh dục [14]. Những thay đổi hormone sinh 
dục nam do thay đổi hormone tuyến giáp có 
thể gây giảm nồng độ testosterone và suy 
giảm chất lượng tinh dịch. 
Bài viết này nhằm mục đích cập nhật các 
kiến thức về vai trò của hormone tuyến giáp 
trong điều hòa các chức năng sinh sản của 
nam giới và cơ chế rối loạn tuyến giáp có thể 
làm thay đổi chức năng tinh hoàn và chất 
lượng tinh dịch. 
2. SINH LÝ TUYẾN GIÁP VÀ HỆ 
SINH SẢN NAM 
Hormone tuyến giáp được điều hòa bài tiết 
theo cơ chế feedback ngược, liên quan đến 
vùng dưới đồi, tuyến yên, tuyến giáp. TRH 
được bài tiết ở vùng dưới đồi và điều hòa bài 
tiết TSH. TSH là hormone của thùy trước 
tuyến yên, điều hòa tổng hợp và bài tiết 
hormone T3, T4 của tuyến giáp. TSH, TRH 
và các hormone tuyến giáp tạo nên trục dưới 
đồi - tuyến yên - tuyến giáp. Khi nồng độ 
hormone tuyến giáp trong máu tăng sẽ ức chế 
giải phóng TRH và TSH, ngược lại khi 
hormone tuyến giáp giảm sẽ kích thích bài tiết 
TRH và TSH. Ở tuyến giáp, T4 được tổng 
hợp nhiều hơn T3, tuy nhiên T3 có hoạt tính 
sinh học mạnh hơn, vì các thụ thể của 
hormone tuyến giáp (TRs) có ái lực với T3 
lớn hơn nhiều so với T4. Do vậy, khoảng 
80% T4 do tuyến giáp tổng hợp được chuyển 
đổi thành T3. 
Trong máu T3, T4 tồn tại chủ yếu dưới 
dạng gắn với protein huyết tương (> 99%), 
chỉ 0.04% T4 và 0.4% T3 là ở dạng tự do – 
dạng có hoạt tính sinh học. Dạng tự do T3, T4 
được vận chuyển vào trong tế bào đích nhờ cơ 
chế khuếch tán hoặc nhờ các protein mang 
đặc hiệu trên màng tế bào: MCT8, MCT10 và 
Oatp1a. Trong các tế bào đích, T4 được 
chuyển thành T3 nhờ men deiodinase type 1 
(D1) và type 2 (D2). Deiodinase type 3 (D3) 
chịu trách nhiệm bất hoạt hormon tuyến giáp 
bằng cách chuyển T4 và T3 thành rT3 và T2 
tương ứng. T3 đi vào nhân tế bào và hoạt hóa 
receptor nhân trên DNA, kích thích hoặc kìm 
hãm sự biểu hiện của các gen phiên mã phụ 
thuộc vào đồng phân hóa receptor axit 
retinoic X (RXR) và / hoặc bổ sung thêm các 
chất đồng hoạt hóa, chẳng hạn như chất đồng 
hoạt hóa thụ thể steroid (SRC). Ngoài các 
receptor nhân, các hormon tuyến giáp cũng có 
thể hoạt động bằng cách liên kết với αvβ3 
Integrarin, có trong màng tế bào và kích hoạt 
dòng truyền tín hiệu qua MAPK và ERK1/2 
để điều chỉnh quá trình phiên mã và 
phosphoryl hóa của các thụ thể nhân của 
nó.Sau khi hoạt hóa receptor, hormon tuyến 
giáp thực hiện chức năng điều hòa quá trình 
chuyển hóa carbohydrate, protein và lipid 
trong tất cả các tế bào, cũng như điều chỉnh 
sự biệt hóa và tăng sinh tế bào. Do đó, sự thay 
đổi nồng độ hormon tuyến giáp trong huyết 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
96 
tương có thể ảnh hưởng đến tất cả các cơ 
quan bao gồm cả tác dụng trên hệ thống sinh 
sản [15]. 
Người ta đã xác định được cả hai thụ thể 
hormone tuyến giáp TRα [3] và TRβ [8–10] 
trong tinh hoàn người. Hai gen (TRα và TRβ) 
mã hóa năm đồng phân thu được bằng cách 
ghép xen kẽ (TRα1, TRα2, TRα3, TRβ1 và 
TRβ2). TRα2 và TRα3 không có vùng gắn 
với hormone và cạnh tranh với T3 về sự gắn 
kết của yếu tố đáp ứng hormone tuyến giáp 
(TRE), ức chế quá trình sao chép. Đặc biệt, 
TRα1 là dạng đồng phân chính trong tế bào 
mầm và trong tế bào Sertoli. Sự phát triển của 
tế bào mầm và tế bào Sertoli cũng được điều 
hòa bởi TRβ1 và TRβ2[15], [16]. 
Hình 1. Tóm tắt vai trò của tuyến giáp trên sự phát triển và sinh tinh của tinh trùng và khả năng 
tương tác giữa trục dưới đồi - tuyến yên - tuyến sinh dục (HPG) và trục dưới đồi - tuyến yên - 
tuyến giáp (HPT): trục HPG biểu hiện bởi mũi tên xanh lá cây (kích thích) và mũi tên đỏ (ức 
chế). Trục HPT biểu hiện bởi mũi tên xanh da trời (kích thích) và mũi tên cam (ức chế). Màu tím 
tượng trưng cho cơ chế hoặc vai trò chưa rõ [16]. 
Vùng dưới đồi 
Tuyến yên 
Tuyến giáp 
Gan 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
97 
Ảnh hưởng trên các tế bào không phải tế 
bào mầm 
T3 tác động trên các tế bào không phải tế 
bào mầm bằng cách điều chỉnh sự tăng sinh 
và biệt hóa của chúng(Hình 1). Hormone 
tuyến giáp có tác động kép lên tế bào Sertoli. 
Nó ức chế sự tăng sinh tế bào Sertoli do kích 
thích tổng hợp hai chất ức chế kinase phụ 
thuộc cyclin (p27kip1 và p21cip1), và do đó 
ngăn chặn chu trình tế bào ở G1 [17]. 
Hormone tuyến giáp cũng thúc đẩy quá trình 
biệt hóa tế bào Sertoli [6], và ức chế sự tổng 
hợp các điểm nối giữa các tế bào Sertoli và 
tinh nguyên bào bằng cách giảm tổng hợp 
phân tử kết dính tế bào thần kinh (NCAM) ở 
chuột con. 
Sau tuổi dậy thì, tế bào Sertoli ngừng tăng 
sinh, nhưng lại bắt đầu quá trình biệt hóa. Do 
đó, T3 góp phần xác định số lượng tế bào 
Sertoli ở tuổi dậy thì, tương ứng với thể tích 
tinh hoàn và số lượng tinh trùng ở tuổi trưởng 
thành [14], [19]. Hơn nữa, T3 điều hòa làm 
giảm thụ thể estrogen, và tăng thụ thể 
androgen, và bằng cách ức chế hoạt động của 
men aromatase làm giảm chuyển đổi 
testosterone thành 17β-estradiol [20]. 
Gần đây, các thụ thể hormone tuyến giáp 
cũng được tìm thấy trong tế bào Leydig [21]. 
Trong tế bào Leydig của chuột thí nghiệm, 
T3 có ảnh hưởng đến sự tổng hợp steroid 
dựa trên thời gian tiếp xúc: tiếp xúc ngắn, T3 
làm tổng hợp thụ thể hormone luteinizing 
(LH) và steroid, trong khi tiếp xúc kéo dài, 
nó ức chế cả hai [22], [23]. T3 tác động trực 
tiếp và gián tiếp lên tế bào Leydig. Nó điều 
hòa tổng hợp yếu tố sinh steroid 1 và protein 
điều hòa tổng hợp steroid trong giai đoạn cấp 
tính (StAR). T3 tác động gián tiếp thông qua 
con đường kế cận liên quan đến các tế bào 
Sertoli [19, 24]. 
Hơn nữa, T3 điều hòa sự biệt hóa tế bào 
Leydig [19, 25]. Tế bào Leydig cũng biểu 
hiện thụ thể estrogen, điều hòa tổng hợp 
testosterone và ức chế sự tăng sinh tế bào 
Leydig [26]. Nhìn chung, T3 điều chỉnh sự 
tăng sinh và biệt hóa tế bào Sertoli và tế bào 
Leydig. 
Ảnh hưởng trên tinh trùng 
Hormone tuyến giáp tác động trực tiếp lên 
tinh trùng theo cơ chế ngoài gen ở các mức độ 
khác nhau: màng tế bào chất (trên kênh canxi), 
tế bào chất, bộ xương tế bào và ti thể [27], [28]. 
Trong một nghiên cứu gần đây, Mendeluk và 
đồng nghiệp thấy rằng bổ sung T4 nhanh vào 
quá trình chuẩn bị tinh trùng (sau 20 phút) và 
thấy có cải thiện đáng kể khả năng vận động 
tinh trùng và cũng làm tăng số lượng tinh trùng 
hồi phục bằng kỹ thuật “bơi lên”. Các tác giả đề 
ra giả thuyết rằng T4 tác động trực tiếp trên các 
kênh canxi, tăng hấp thu canxi và tăng tổng hợp 
cAMP, và gây hoạt hóa protein kinase, ngược 
lại gây ra các chuyển động hình sao dẫn đến cái 
gọi là "tăng động". Nhìn chung, T4 dường như 
cải thiện hoạt động tinh trùng nhiều hơn 
pentoxifylline, một chất ức chế 
phosphodiesterase cAMP thường được sử dụng 
trong môi trường nuôi cấy để tăng số lượng tinh 
trùng được phục hồi [28]. Dựa trên bằng chứng 
này, T4 dường như điều chỉnh tăng khả năng di 
chuyển của tinh trùng. 
Ảnh hưởng trên các protein gắn hormon 
sinh sản 
Trước khi phát hiện vai trò quan trọng 
của các receptor hormon tuyến giáp, người ta 
đã thừa nhận rằng LH, FSH và testosteron 
điều hòa quá trình sản sinh tinh trùng. 
Testosteron có vai trò quan trong đảm bảo 
cho quá trình sinh tinh thành công. Nếu 
không có testosteron, quá trình phân chia từ 
tinh nguyên bào thành tiền tinh trùng sẽ bị 
rối loạn. 
Hormon tuyến giáp cũng ảnh hưởng tới 
globulin gắn hormon sinh sản (SHBG) và 
protein gắn androgen (ABP). SHBG và ABP 
có cùng một trình tự axit amin, vì chúng được 
mã hóa bởi cùng một gen SHBG nhưng có 
thay đổi sau quá trình phiên mã và được tổng 
hợp ở các vị trí khác nhau. SHBG được sản 
xuất ở gan và ABP tạo ra ở tế bào Sertoli. 
Người ta cho rằng ABP được bài tiết cả trong 
máu và ống dẫn tinh. Cả hai đều là chất mang 
vận chuyển testosteron và estradiol. ABP có 
liên quan đến việc duy trì môi trường 
androgen trong tinh hoàn cần cho sự biệt hóa 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
98 
và trưởng thành của tế bào mầm. T3 là chất 
kích thích tổng hợp SHBG và có thể được 
xem là một dấu ấn sinh học cho tác dụng của 
hormon tuyến giáp. Ở chuột suy giáp, nồng 
độ SHBG giảm trong khi ở chuột cường giáp, 
nồng độ SHBG lại tăng. Bổ sung T3 làm 
giảm sản xuất ABP ở các tế bào Sertoli [15], 
[16]. Người ta thấy tế bào của chuột cường 
giáp 28 ngày tuổi giảm sản xuất ABP [29]. 
Ngược lại, theo JN Rao và cộng sự, ở chuột 
suy giáp trước tuổi dậy thì có giảm đáng kể 
nồng độ mRNA ABP [30]. Tương tự, nồng độ 
TR alpha mRNA tăng đáng kể ở chuột suy 
giáp 21 ngày tuổi và bị ức chế ở chuột cường 
giáp, không thấy có thay đổi trong trường hợp 
bình giáp. Người ta cho rằng hormon tuyến 
giáp có chức năng điều hòa sự trưởng thành 
của tế bào Sertoli sau sinh ở chuột trước giai 
đoạn dậy thì. Vì vậy, hormon tuyến giáp kiểm 
soát sự biểu hiện ABP ở các tế bào Sertoli 
nhưng bằng cách nào thì người ta còn chưa rõ 
[31]. Một trong các tác dụng của hormon 
tuyến giáp trên quá trình sinh tinh có thể là 
thông qua điều hòa tổng hợp SHBG. 
Tác dụng trên hệ thống oxi hóa khử của 
tinh hoàn 
Hormone tuyến giáp cũng điều hòa hệ 
thống oxi hóa khử tinh hoàn. Quá trình sản 
sinh tinh trùng và tổng hợp steroid là hai quá 
trình tiêu thụ nhiều năng lượng. Hơn thế nữa, 
tinh hoàn rất giàu axit béo không bão hòa, các 
axit này có thể bị peroxide hóa bởi các chất 
tiền oxi hóa. Ngược lại, các gốc oxi hóa tự do 
gây rối loạn quá trình tổng hợp steroid. Để 
cân bằngquá trình tạo các gốc oxi hóa tự do, 
tinh hoàn được trang bịmột loạt hệ thống 
chống oxy hóa phức tạp, bao gồm các enzym 
(chẳng hạn như superoxide dismutase, 
glutathione peroxidase, glutathione-S-
transferase và gamma-glutamyltransferase), 
và các phân tử / phần tử không phải enzym 
(chẳng hạn như kẽm, cytochrome C, 
melatonin và vitamin C và E) [32]. Ví dụ, 
tăng biểu hiện quá mức của gamma-glutamyl 
t ...  làm rỗng túi tinh và nồng độ fructose 
trong túi tinh. So với những bệnh nhân suy 
giáp dưới lâm sàng, ở bệnh nhân cường giáp 
dưới lâm sàng, sự khác biệt giữa thể tích túi 
tinh trước và sauxuất tinh cao hơn đáng kể. 
Điều này cho thấy vai trò quan trọng 
củahormone tuyến giáp trên chức năng của 
tuyến phụ của nam giới. Ngoài ra, các thông 
số về tinh dịch và hormone không tương 
quanvới chức năng tuyến giáp. Tuy nhiên, 
hạn chế lớn của nghiên cứu này là số lượng 
đối tượng nghiên cứu ít, không cho phép đưa 
ra kết luận chắc chắn về ảnh hưởng của rối 
loạn chức năng tuyến giáp trên khả năng sinh 
sản của nam giới [42] 
Tóm lại, cường giáp ảnh hưởng đến khả 
năng sinh sản nam giới ở mức độ hormone và 
tinh dịch đồ. 
3.2. Suy giáp 
Trong mô hình chuột được gây suy giáp, 
người ta thấy có sự giảm đáng kể nồng độ 
testosterone trong huyết thanh, mất hoạt động 
tình dục và xuất tinh, và giảm khối lượng mào 
tinh và tiền liệt tuyến. Hơn nữa, suy giáp thai 
kỳ gây ra ở con đực: (i) thay đổi khả năng di 
chuyển của tinh trùng, (ii) giảm hoạt tính sinh 
học androgen (iii) giảm biểu hiện và chức 
năng của thụ thể androgen và (iv) giảm hoạt 
động bài tiết mào tinh hoàn [43], [44]. Suy 
giáp cũng làm thay đổi trạng thái oxy hóa khử 
ở chuột trưởng thành, như tăng đáng kể các 
chỉ điểm stress oxy hóa (như hàm lượng 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
100 
protein carbonyl) và các chỉ điểm peroxide 
hóa lipid (ước tính bằng cách theo dõi sự tạo 
thành chất phản ứng với axit thiobarbituric), 
trong khi giảm nồng độ superoxide dismutase 
và catalase. Khi điều trị bằng T3, nồng độ 
catalase tăng,trong khi các chỉ điểm stress oxy 
hóa vẫn ở mức cao trong phân đoạn sau ti lạp 
thể của tinh hoàn [14], [15]. Ngoài ra,suy giáp 
cũng liên quan đến giảm 
glutathioneperoxidase ở chuột trưởng thành. 
Ở nam giới trưởng thành, suy giáp gây ra 
những thay đổi hormone một phần theo 
hướng ngược lại so với nhiễm độc giáp: giảm 
nồng độ SHBG, testosterone toàn phần, 17β-
estradiol và hormone hướng sinh dục trong 
huyết thanh, trong khi làm tăng nồng độ 
prolactin. Sự thay đổi này có thể hồi phục khi 
điều trị thay thế hormone tuyến giáp. 
Ở chuột đực suy giáp, sản xuất tinh trung 
giảm trong khi thời gian vận chuyển tinh 
trùng qua mào tinh tăng. Hơn nữa, tương tự 
như nhiễm độc giáp, suy giáp cũng làm giảm 
chức năng tinh trùng chuột. Ở người người ta 
thấy có sự giảm có hồi phục tinh trùng với 
hình thái bình thường (bảng 1). Ở bệnh nhân 
suy giáp, dị dạng tinh trùng có tương quan 
nghịch với nồng độ T4 [18]. Hơn nữa, bất kể 
thời gian suy giápbao lâu, chức năng tuyến 
phụ cũng bị ảnh hưởng vì làm giảm nồng độ 
glucose, sialic acid, và fructose tinh dịch. Vì 
đủ T3 là cần thiết để ức chế sự tăng sinh tế 
bào Sertoli và Leydig và gây biệt hóa của 
chúng, ở bệnh nhân suy giáp trước tuổi dậy 
thì thể tích tinh hoàn tăng, trong khi tinh trùng 
trưởng thành trong ống dẫn tinh giảm. 
Giống như nhiễm độc giáp, suy giáp ảnh 
hưởng đến chức năng cương dương và xuất 
tinh, vì bệnh nhân suy giáp có thể phàn nàn 
về rối loạn cương dương và đôi khi phàn nàn 
về xuất tinh chậm và giảm ham muốn tình 
dục [14], [18]. 
Dựa trên bằng chứng này và tương tự như 
nhiễm độc giáp, người ta thấy suy giáp ảnh 
hưởng đến khả năng sinh sản của nam giới ở 
các các cấp độ khác nhau. 
Bất kể chức năng tuyến giáp, ở bệnh nhân 
trưởng thành có viêm tuyến giáp tự miễn mãn 
tính, tỷ lệ kháng thể peroxidase tuyến giáp 
(TPOAb) dương tính ở nhóm bệnh nhân có 
tinh trùng yếu hoặc dị dạng cao hơn. Người ta 
vẫn chưa biết liệu TPOAb có tác động trực 
tiếp hay gián tiếp trên tinh trùng hay không. 
4. SỰ TƯƠNG TÁC GIỮA HORMONE 
TUYẾN GIÁP VỚI CÁC HORMONE 
KHÁC VÀ YẾU TỐ TĂNG TRƯỞNG 
TRONG ĐIỀU HÒA CHỨC NĂNG HỆ 
SINH SẢN NAM. 
4.1. Prolactin 
Người ta thấy dùng liều sinh lý prolactin 
trên tế bào Sertoli có ảnh hưởng trực tiếp làm 
tăng tổng hợp ABP, đóng vai trò quan trọng 
trong tăng sinh và chuyển hóa tế bào Sertoli 
[81]. Một nghiên cứu của Koivisto và cộng sự 
trên Beagles đực thấy tăng đáng kể nồng độ 
prolactin khi tiêm tĩnh mạch 1 mũi thyroxin 
trong tăng prolactin máu ngắn hạn do 
metoclopramide. Lưu ý, không có thay đổi về 
chất lượng tinh dịch, LH, và nồng độ 
testosterone. Tuy nhiên, mức prolactin cao 
hơn rõ rệt ở bệnh nhân suy giáp so với nhóm 
chứng (P <0,001) [45]. 
4.2. Growth hormone 
Tăng nồng độ hormone tăng trưởng và 
chứng to đầu chi có thể liên quan đến rối loạn 
chức năng tuyến giáp. Tỷ lệ rối loạn chức 
năng cương dương ở 57 bệnh nhân to đầu chi 
là 42,1%, đặc biệt trong trường hợp mắc bệnh 
kéo dài [46]. 
4.3. Insulin-like growth factor (IGF)-1 
Bằng cách tăng hoạt tính sinh học của 
IGF3 thông qua việc chặn các protein gắn 
IGF, người ta thấy T3 và IGF-3 kích thích sự 
tăng sinh và biệt hóa chủ yếu của loại tinh 
nguyên bào không biệt hóa type A [47]. 
4.4. Leptin 
Suy giáp có thể gây tăng cân và béo phì 
[46]. Leptin được sản xuất bởi các tế bào mỡ 
và được cho là có các tác động trung tâm và 
ngoại vi lên các mô sinh sản. Người ta thấy 
biểu hiện của các receptor leptin trong các tế 
bào Leydig, tuyến tiền liệt và các túi tinh, ảnh 
hưởng đến chức năng sinh sản của nam giới 
[47]. Người ta thấy Leptin ức chế testosterone 
trong tinh hoàn [39]; Tuy nhiên, nó có một tác 
động gián tiếp là điều hòa chức năng GnRH 
[32]. Tăng leptin máu gây bộc lộ tín hiệu 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
101 
cytokine-3, ức chế bộ chuyển đổi tín hiệu 
phosphoryl hóa, và kích hoạt biểu hiện phiên 
mã-3. Điều này dẫn đến giảm trọng lượng và 
khối lượng của tinh hoàn cũng như đường 
kính của các ống dẫn tinh và số lượng tế bào 
sinh tinh [33], [34]. Đồng thời cũng có sự 
tương tác giữa hormone tuyến giáp và leptin; 
người ta thấy có mối tương quan thuận giữa 
TSH và leptin và chỉ số khối cơ thể. Ở bệnh 
nhân suy giáp, nồng độ leptin huyết thanh có 
thể tăng lên để khắc phục tình trạng tăng 
trọng lượng cơ thể do suy giáp [36]. 
4. KẾT LUẬN 
Mối tương tác giữa chức năng tuyến giáp 
và chức năng tinh hoàn đã được chứng minh 
trong các nghiên cứu in vitro và in vivo, cả ở 
động vật và ở người. Tuy nhiên, cơ chế tương 
tác xảy ra hoàn toàn không rõ. Cả cường giáp 
và suy giáp đều có tác động lớn trên khả năng 
sinh sản, có thể gây ảnh hưởng thoáng qua 
hoặc vĩnh viễn. Xác định và điều trị vô sinh 
có liên quan với cường giáp hoặc suy giáp 
cần có sự kết hợp giữa các nhà nam học, nội 
tiết, sản khoa và các bác sĩ đa khoa. Cần có 
các nghiên cứu lớn hơn trên đối tượng bệnh 
nhân phù hợp để hiểu thêm về cơ chế rối loạn 
khả năng sinh sản ở người có rối loạn chức 
năng tuyến giáp. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Vanderpump M, Jefferys A, Yasmin E 
(2015). Thyroid dysfunction and 
reproductive health. Obstet Gynaecol, 17, 
39 - 45. 
2. Thangaratinam S, Tan A, Knox E et al 
(2011). Association between thyroid 
autoantibodies and miscarriage and 
preterm birth: meta-analysis of evidence. 
Br Med J,342, d2616. 
3. Van den Boogaard E, Vissenberg R , Land 
JA et al (2011). Significance of 
(sub)clinical thyroid dysfunctionand thyroid 
autoimmunity before conception and in 
early pregnancy: a systematic review. Hum 
Reprod Update,17, 605–619. 
4. Cignini P, Cafa` EV, Giorlandino C et al 
(2012). Thyroid physiology and common 
diseases in pregnancy: review ofliterature. 
J Prenat Med, 6, 64–71. 
5. Rajender S, Monica MG, Walter L, 
Agarwal A (2011). Thyroid, 
spermatogenesis, and male infertility. 
Front Biosci,3, 843–855. 
6. Krassas GE, Poppe K, Glinoer D (2010). 
Thyroid function and human 
reproductivehealth. Endocr Rev, 31, 702 
– 755. 
7. Krajewska-Kulak E, Sengupta P (2013). 
Thyroid function in male infertility. Front 
Endocrinol (Lausanne), 4, 1 - 2. 
8. Krassas GE, Perros P (2003). Thyroid 
disease and male reproductive function. J 
Endocrinol Invest, 26, 372 - 380 
9. Krassas GE, Pontikides N, Deligianni V, 
Miras K (2002). A prospective controlled 
study of the impact of hyperthyroidism on 
reproductive function in males. J Clin 
Endocrinol Metab,87, 3667–3671. 
10. Krassas GE, Papadopoulou F, Tziomalos 
K et al (2008). Hypothyroidism has an 
adverse effect on human 
spermatogenesis: a prospective, 
controlled study. Thyroid, 18, 1255 –
1259. 
11. Van Steirteghem A, Glinoer D Poppe K, 
Tournaye H et al (2002). Thyroid 
dysfunction and autoimmunity ininfertile 
women. Thyroid, 12, 997 –1001. 
12. Wang C, Crapo LM (1997). The 
epidemiology of thyroid disease and 
implications forscreening. Endocrinol 
Metab Clin North Am, 26, 189 – 218. 
13. Whitted WA, Strickland DM, Wians FH 
Jr (1990). Screening infertile women for 
subclinical hypothyroidism.Am J Obstet 
Gynecol, 163, 262–263. 
14. Sandro La Vignera, Roberto Vita et al 
(2017). Impact of thyroid disease on 
testicular function. Endocrine, 
15. Singh Rajender1, Marie Gray Monica, 
Lee Walter, Ashok Agarwal (2011). 
Thyroid, spermatogenesis, and male 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
102 
infertility. Frontiers in Bioscience E3, 
843-855. 
16. Ahmed Alahmar1, Sulagna Dutta, Pallav 
Sengupta (2019). Thyroid hormones in 
male reproduction and infertility. Asian 
Pacific Journal of Reproduction, 8(5): 
203-210 
17. D.R. Holsberger, P.S. Cooke, 
Understanding the role of 
thyroidhormone in Sertoli cell 
development: a mechanistic 
hypothesis.Cell. Tissue Res. 322, 133–
140 (2005) 
18. G.E. Krassas, K. Poppe, D. Glinoer, 
Thyroid function and humanreproductive 
health. Endocr. Rev. 31, 702–755 (2010) 
19. R. Singh, A.J. Hamada, A. 
Agarwal(2011). Thyroid hormones 
inmale reproduction and fertility. Open 
Reprod. Sci. J 3, 98–104 
20. S. Andò, R. Sirianni, P. Forastieri et al 
(2001). Aromataseexpression in 
prepuberal Sertoli cells: effect of thyroid 
hormone.Mol. Cell Endocrinol. 178, 11–
21 
21. J.J. Buzzard, J.R. Morrison, M.K. 
O’Bryan, Q. Song, N.G. Wreford(2000). 
Developmental expression of thyroid 
hormone receptors inthe rat testis. Biol. 
Reprod. 62, 64–69 
22. P.R. Manna, J. Kero, M. Tena-Sempere, 
et al (2001). Assessment of mechanisms 
of thyroidhormone action in mouse 
Leydig cells: regulation of the 
steroidogenicacute regulatory protein, 
steroidogenesis, and luteinizinghormone 
receptor function. Endocrinology 142, 
319–331 
23. P.R. Manna, M. Tena-Sempere, I.T. 
Huhtaniemi(1999). 
Molecularmechanisms of thyroid 
hormone-stimulated steroidogenesis 
inmouse leydig tumor cells. Involvement 
of the steroidogenic acuteregulatory 
(StAR) protein. J. Biol. Chem. 274, 5909–
5918 
24. R.R. Maran, J. Arunakaran, M.M. 
Aruldhas (2000). T3 directly 
stimulatesbasal and modulates LH 
induced testosterone and 
oestradiolproduction by rat Leydig cells 
in vitro. Endocr. J. 47, 417–428 
25. S.M. Mendis-Handagama, H.B. 
Ariyarante(2001). Differentiation of 
theadult Leydig cell population in the 
postnatal testis. Biol. Reprod.65, 660–
671. 
26. A.M. Nakhla, J.P. Mather, O.A. Jänne, 
C.W. Bardin (1984). Estrogen 
andandrogen receptors in Sertoli, Leydig, 
myoid, and epithelial cells:effects of time 
in culture and cell density. Endocrinology 
115,121–128 
27. P.J. Davis, F. Goglia, J.L. Leonard(2016). 
Nongenomic actions ofthyroid hormone. 
Nat. Rev. Endocrinol. 12, 111–121 
28. G.R. Mendeluk, M. Rosales(2016). 
Thyroxin is useful to improve 
spermmotility. Int. J. Fertil. Steril. 10, 
208–214 
29. S Palmero, M de Marchis, G Gallo, E 
Fugassa(1989). Thyroid hormone affects 
the development of Sertoli cell function 
in the rat. J Endocrinol 123, 105-11 
30. JN Rao, JY Liang, P Chakraborti, P Feng 
(2003). Effect of thyroid hormone on the 
development and gene expression of 
hormone receptors in rat testes in vivo. J 
Endocrinol Invest 26, 435-443 
31. E. Fugassa, S. Palmero, G. Gallo(1987). 
Triiodothyronine decreases the 
production of androgen binding protein 
by rat Sertoli cells. Biochem. Biophys. 
Res. Commun. 143, 241–247 
32. W. Li, Z.Q. Wu, S. Zhang, R. Cao, J. 
Zhao, Z.J. Sun, W. Zou (2016). 
Augmented expression of gamma-
glutamyl transferase 5 (GGT5)impairs 
testicular steroidogenesis by deregulating 
local oxidative stress. Cell. Tissue. Res. 
366, 467–481 
33. D.H. Holben, A.M. Smith(1999). The 
diverse role of selenium within 
selenoproteins: a review. J. Am. Assoc. 
99, 836–843 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
103 
34. L.H. Duntas, S. Benvenga(2015). 
Selenium: an element for life. Endocrine 
48, 758–775 
35. E.J. van Zuuren, A.Y. Albusta, Z. 
Fedorowicz, B. Carter, H. Pijl(2014). 
Selenium supplementation for 
Hashimoto’s thyroiditis: summary of a 
cochrane systematic review. Eur. 
Thyroid. J 3, 25–31 
36. E. Rijntjes, A.T. Wientjes, H.J. Swarts, 
D.G. de Rooij, K.J. Teerds(2008). 
Dietary-induced hyperthyroidism 
marginally affects neonatal testicular 
development. J. Androl. 29, 643–653 
37. S. Choudhury, G.B. Chainy, M.M. 
Mishro (2003). Experimentally induced 
hypo- and hyper-thyroidism influence on 
the antioxidant defence system in adult 
rat testis. Andrologia 35, 131–140 
38. R.W. Hudson, A.L. Edwards(1992). 
Testicular function in hyperthyroidism. J. 
Androl. 13, 117–124 
39. G.E. Krassas(2005). The male and female 
reproductive system in thyrotoxicosis. 
Thyroid 9, 621–628 
40. M. Abalovich, O. Levalle, R. Hermes, H. 
Scaglia et al (1999). 
Hypothalamicpituitary- testicular axis and 
seminal parameters in hyperthyroid 
males. Thyroid 9, 857–863 
41. G.E. Krassas, N. Pontikides, V. 
Deligianni, K. Miras(2002). A 
prospective controlled study of the impact 
of hyperthyroidism on reproductive 
function in males. J. Clin. Endocrinol. 
Metab. 87, 3667–3671 
42. F. Lotti, E. Maseroli, N. Fralassi (2016). 
Is thyroid hormones evaluation of clinical 
value in the work-up of males of infertile 
couples? Hum. Reprod. 31, 518–529 
43. J. Anbalagan, A.M. Sashi, G. Vengatesh, 
J.A. Stanley (2010). Mechanism 
underlying transient gestational-onset 
hypothyroidism-induced impairment of 
posttesticular sperm maturation in adult 
rats. Fertil. Steril. 93, 2491–2497 
44. M.M. Aruldhas, N. Ramalingam, A. 
Jaganathan et al (2010). Gestational and 
neonatal-onset hypothyroidism alters 
androgen receptor status in rat prostate 
glands at adulthood. Prostate 70, 689–
700 
45. Nikoobakht MR, Aloosh M, Nikoobakht N 
et al (2012). The role of hypothyroidism in 
male infertility and erectiledysfunction. 
Urol J; 9(1): 405-409. 
46. Lotti F, Rochira V, Pivonello R, Santi D, 
Galdiero M, Maseroli E, et al (2015). 
Erectile dysfunction is common among 
men with acromegaly and isassociated 
with morbidities related to the disease. J 
Sex Med; 12(5): 1184-1193. 
47. Safian D, Morais RDVS, Bogerd J, 
Schulz RW (2016). Igf binding proteins 
protect undifferentiated spermatogonia in 
the zebrafish testis againstexcessive 
differentiation. Endocrinology; 157(11): 
4423-4433. 

File đính kèm:

  • pdftuyen_giap_va_vo_sinh_nam.pdf