Tuần hoàn Fontan sau nửa thế kỷ
Tim một thất chức năng đã được mô tả từ
cuối thế kỷ XVII. Đây là một nhóm bệnh tim
bẩm sinh đặc biệt cả về sự phức tạp, tính đa
dạng về tổn thương giải phẫu cũng như những
biến đổi về huyết động và sinh lý tim mạch.
Phẫu thuật Fontan được thực hiện lần đầu tiên
vào năm 1968, cách nay đúng nửa thế kỷ, có
thể được xem như một cuộc cách mạng trong
phẫu thuật tim mạch. Phẫu thuật Fontan cùng
với những cải tiến về kỹ thuật, can thiệp, điều
trị nội khoa cũng như những kiến thức mới về
sinh lý tuần hoàn Fontan đã cải thiện một cách rõ
rệt tiên lượng của bệnh nhân mắc bệnh tim một
thất chức năng, kéo dài tuổi thọ, giảm biến
chứng, nâng cao chất lượng cuộc sống
Bạn đang xem tài liệu "Tuần hoàn Fontan sau nửa thế kỷ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Tuần hoàn Fontan sau nửa thế kỷ
TUẦN HOÀN FONTAN SAU NỬA THẾ KỶ 37 TUẦN HOÀN FONTAN SAU NỬA THẾ KỶ Lê Minh Khôi*, Nguyễn Hoàng Định*, Trương Quang Bình* TÓM TẮT Tim một thất chức năng đã đƣợc mô tả từ cuối thế kỷ XVII. Đây là một nhóm bệnh tim bẩm sinh đặc biệt cả về sự phức tạp, tính đa dạng về tổn thƣơng giải phẫu cũng nhƣ những biến đổi về huyết động và sinh lý tim mạch. Phẫu thuật Fontan đƣợc thực hiện lần đầu tiên vào năm 1968, cách nay đúng nửa thế kỷ, có thể đƣợc xem nhƣ một cuộc cách mạng trong phẫu thuật tim mạch. Phẫu thuật Fontan cùng với những cải tiến về kỹ thuật, can thiệp, điều trị nội khoa cũng nhƣ những kiến thức mới về sinh lý tuần hoàn Fontan đã cải thiện một cách rõ rệt tiên lƣợng của bệnh nhân mắc bệnh tim một thất chức năng, kéo dài tuổi thọ, giảm biến chứng, nâng cao chất lƣợng cuộc sống. Tuy vậy BN Fontan vẫn đƣợc xem là nhóm bệnh suy tim còn bù và có thể chuyển sang mất bù vào bất cứ lúc nào. Những biến chứng của tuần hoàn Fontan vẫn luôn đặt ra những thách thức không nhỏ cho thầy thuốc lâm sàng. Bài viết này sẽ điểm qua những cột mốc lịch sử quan trọng trong phẫu thuật và can thiệp tuần hoàn Fontan, sơ bộ nêu lên những thể giải phẫu, sinh lý tim một thất, chiến lƣợc tiếp cận bệnh tim một thất chức năng, những biến chứng của tuần hoàn Fontan và những triển vọng điều trị trong tƣơng lai. Từ khoá: tuần hoàn Fontan, tim một thất, tim bẩm sinh, phẫu thuật tim SUMMARY Functional single ventricle was described at the end of the 17th century. This is a special group of congenital heart disease characterized by the high complexity and diversity of anatomic lesions as well as changes in hemodynamics and cardiovascular physiology. Fontan procedure was succesfully carried out for the first time in 1968, half a century ago, which could be considered as a revolutionary leap in the field of cardiovascular surgery. The Fontan procedure, in parallel with innovation and refinement in surgical techniques, interventional cardiology, medical management as well as breakthrough scientific knowledge in Fontan circulation, has signigficantly improved the outcomes of patients suffering from functional single ventricle increasing lifespan, reducing complications, enhancing quality of life. Fontan patients are, however, still seen as a group of patients with compensated heart failure and constantly are at risk of decompensation at any time. Complications associated with Fontan circulation always put clinicians at tremendous challenges. This review is conceived to briefly outline the important Bệnh viện Nội tiết Trung ƣơng historical milestones in surgery and intervention in patients with Fontan circulation, to describe the anatomic lesions and physiology of functional single ventricle, clinical approach to the management of patients with functional single ventricle, complications related to Fontan circulation and future perspectives.* Keywords: Fontan circulation, single ventricle, congenital heart disease, cardiac surgery. I. GIỚI THIỆU Ngay từ năm 1699, Chemineau đã mô tả *Trung tâm Tim mạch, BV Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh Người chịu trách nhiệm khoa học: PGS.TS. Lê Minh Khôi Ngày nhận bài: 01/04/2018 - Ngày Cho Phép Đăng: 10/04/2018 Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng GS.TS. Lê Ngọc Thành PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 19 - THÁNG 5/2018 38 một trái tim có hai buồng nhĩ nhƣng chỉ có một thất. Từ đó, tim một thất đã ám ảnh cộng đồng y khoa suốt nhiều thế kỷ. Đƣợc đặc trƣng bởi tính phức tạp cao độ cũng nhƣ phổ tổn thƣơng giải phẫu và biến loạn sinh lý tim mạch rất đa dạng, tim một thất đã gây nên những tranh cãi gay gắt về phôi thai học và danh pháp, thách thức những hiểu biết của chúng ta trong lĩnh vực sinh lý và huyết động tim mạch nhƣng đồng thời cũng truyền cảm hứng cho những kỹ thuật phẫu thuật và can thiệp sáng tạo nhất trong lịch sử y học [22]. Tim một thất chức năng là một nhóm bệnh tim bẩm sinh trong đó chỉ có một buồng thất có hoạt động chức năng. Trong tim một thất chức năng chƣa đƣợc sửa chữa, máu tĩnh mạch (TM) hệ thống và máu TM phổi đƣợc trộn lẫn nhau trong một buồng thất chính và sau đó đƣợc bơm đồng thời vào tuần hoàn hệ thống và tuần hoàn phổi. Hậu quả là buồng thất độc nhất tăng tải và bão hoà ôxy máu ngoại biên thấp gây nên biểu hiện tím. Do không thể phẫu thuật theo hƣớng hai thất chức năng nên những bệnh nhân (BN) này sẽ đƣợc điều trị theo hƣớng phẫu thuật một thất, nghĩa là thiết lập tuần hoàn Fontan. Trong tuần hoàn Fontan, toàn bộ lƣợng máu TM hệ thống sẽ đƣợc dẫn trực tiếp về động mạch (ĐM) phổi theo chênh áp thuỷ tĩnh mà không hề đƣợc bơm bởi một buồng thất nào. Trong tim sẽ không có sự hoà trộn giữa máu TM hệ thống và máu TM phổi. Nhờ đó BN đạt đƣợc độ bão hoà ôxy máu ĐM hệ thống trong giới hạn bình thƣờng [17]. Phẫu thuật Fontan đƣợc thực hiện lần đầu tiên vào năm 1968, cách đây đúng nửa thế kỷ, để điều trị BN mắc bệnh tim bẩm sinh teo van ba lá [9]. Phƣơng thức phẫu thuật này sau đó đƣợc mở rộng áp dụng trên một phổ rộng các bất thƣờng bẩm sinh có chung một đặc trƣng là những BN này chỉ có một buồng thất chức năng và việc sửa chữa theo hƣớng hai thất là không thể thực hiện đƣợc. Tuần hoàn Fontan là một minh hoạ sống động về tầm quan trọng của việc đánh giá theo dõi lâu dài nhằm cải thiện việc chọn lựa BN cũng nhƣ phƣơng pháp phẫu thuật [6]. II. TỔNG QUAN VỀ LỊCH SỬ PHẪU THUẬT FONTAN Nền tảng của phẫu thuật Fontan phát triển từ những năm 1940 khi ngƣời ta nhận thấy rằng áp lực ĐM phổi ở cá, động vật lƣỡng cƣ, động vật có vú và chim có trị số khoảng 25/10 mmHg và lực của máu TM hệ thống có thể đủ để đẩy máu về ĐM phổi [7]. Năm 1958, Glenn công bố phẫu thuật nối tận-tận đƣa toàn bộ máu TM chủ trên vào ĐM phổi phải [15]. Phẫu thuật này ngày nay đƣợc gọi là Glenn shunt cổ điển. Tuy nhiên, vì dòng máu nuôi phổi phải chỉ đến từ TM chủ trên nên không có yếu tố gan (hepatic factor). Do vậy, sau một thời gian, các thông nối động-tĩnh mạch phổi sẽ xuất hiện làm giảm bão hoà ôxy máu [8]. Phẫu thuật này sau đó một thời gian bị rơi vào quên lãng. Tuy nhiên, khi chiến lƣợc phẫu thuật Fontan theo hai giai đoạn khẳng định tầm quan trọng của phẫu thuật Glenn shunt trong việc giảm tỉ lệ tử vong và biến chứng, Glenn shunt lại đƣợc sử dụng nhƣng có cải biên thành Glenn shunt hai hƣớng [2], [26]. Năm 1968, Francis Fontan và Eugene Baudet, hai phẫu thuật viên ngƣời Pháp, thực hiện thành công Phẫu thuật Fontan cho BN mắc bệnh teo van ba lá [9]. Phẫu thuật cổ điển này đầu tiên đƣợc tiến hành theo năm bƣớc: (1) tạo Glenn shunt cổ điển vào phổi phải; (2) cắt rời thân ĐM phổi khỏi đƣờng thoát thất phải; (3) nối thân ĐM phổi vào nhĩ phải qua một ống ghép đồng loại có van; (4) đặt một van đồng loại ngay chỗ nối TM chủ dƣới vào nhĩ phải và (5) đóng kín vách liên nhĩ [17]. TUẦN HOÀN FONTAN SAU NỬA THẾ KỶ 39 Hình 1. Phẫu thuật Fontan đƣợc mô tả trong công trình đầu tiên: (1) Glenn shunt cổ điển; (2) Cắt rời thân ĐM phổi khỏi đƣờng thoát thất phải; (3) Nối nhĩ phải vào thân ĐM phổi qua một ống ghép đồng loại có van; (4) Nối TM chủ dƣới vào nhĩ phải qua một ống ghép có van; (5) Vá kín thông liên nhĩ. Những cải tiến ban đầu sau công bố của Fontan bao gồm việc gắn nhĩ phải vào ĐM phổi theo các phƣơng thức khác nhau nhƣ sử dụng ống ghép có van, ống ghép đồng loại, miếng patch hoặc nối trực tiếp [13]. Trong một thập kỷ tiếp theo đó, kỹ thuật Nối trực tiếp nhĩ phải vào ĐM phổi đƣợc sử dụng rộng rãi trong điều trị teo van ba lá và sau đó mở rộng cho các biến thể tim một thất chức năng khác [17]. Ban đầu, ngƣời ta cho rằng nhĩ phải, một buồng tim có chức năng co bóp, sẽ góp phần cải thiện dòng máu từ TM hệ thống lên phổi. Tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm của de Leval & CS đã chứng minh rằng cùng với thời gian, nhĩ phải sẽ bị giãn và mất chức năng co bóp gây nên rối loạn hƣớng dòng máu và đặc biệt là mất năng lƣợng dòng chảy [7]. Một sự kiện khác minh chứng một cách rất thuyết phục rằng toàn bộ máu TM hệ thống (trừ máu TM gan) có thể đƣợc đƣa về ĐM phổi mà không cần phải qua nhĩ phải. Đây chính là trƣờng hợp Phẫu thuật Kawashima ở những BN bị đứt đoạn TM chủ dƣới kèm liên tục TM (bán) đơn thƣờng gặp trong hội chứng đồng phân nhĩ trái [20]. Chính vì phát hiện đó mà các phẫu thuật viên đã bỏ hẳn phƣơng pháp nối NP vào ĐM phổi và thay bằng Kỹ thuật nối toàn bộ TM chủ vào ĐM phổi (Total CavoPulmonary Connection - TCPC). Tác giả de Leval là ngƣời đƣa ra những cơ sở lý luận và thực hiện việc nối trực tiếp các TM chủ vào ĐM phổi mà không đi qua nhĩ phải và thất phải. Tác giả sử dụng một phần mô của thành nhĩ cộng với một miếng mô không phải của nhĩ để tạo Đƣờng hầm bên trong nhĩ (lateral tunnel) đƣa máu từ TM chủ dƣới lên ĐM phổi. Kỹ thuật mới này tạo nên dòng máu từ TM chủ về ĐM phổi hữu hiệu hơn, giảm nguy cơ rối loạn nhịp, huyết khối, thuyên tắc phổi và chèn ép TM phổi do nhĩ phải khổng lồ [5][6][17]. Ngoài ra, sự cải tiến kỹ thuật này cải thiện một cách rõ rệt dự hậu của những BN tim một thất chức năng do hẹp nặng hoặc teo van nhĩ thất bên trái. Với những BN này, đƣờng hầm bên trong nhĩ phải cho phép máu từ TM phổi đổ về thất chính bên phải mà không bị cản trở bởi dòng máu từ TM chủ nhƣ khi sử dụng nhĩ phải làm trung gian giữa TM chủ và ĐM phổi [17]. Với những ƣu điểm trên, cuối những năm 1980, kỹ thuật tạo đƣờng hầm bên trong lòng nhĩ phải để dẫn máu từ TM chủ dƣới lên ĐMP đƣợc sử dụng rộng rãi [18][28]. Một cải tiến quan trọng nữa trong phẫu thuật Fontan là việc sử dụng lại phẫu thuật Glenn shunt vốn đã bị lãng quên. Tuy nhiên, lần này, ĐM phổi không bị cắt rời khỏi thân ĐM phổi mà chỉ thực hiện nối đầu tận của PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 19 - THÁNG 5/2018 40 TMC trên vào mặt bên trên của ĐM phổi phải. Phẫu thuật này đƣợc gọi là Glenn shunt cải biên hay Phẫu thuật Glenn shunt hai hƣớng (Bidirectional Glenn Shunt Operation) hoặc còn có tên gọi khác là Nối TM chủ - ĐM phổi hai hƣớng (Bidirectional Cavo-Pulmonary Shunt-BCPS). Phẫu thuật này đƣợc xem nhƣ là một bƣớc đệm trƣớc khi phẫu thuật Fontan [2]. Lý do đằng sau việc sử dụng BCPS là giảm tải một phần cho thất, tạo điều kiện cho thất tái cấu trúc dần dần để kịp thích nghi với tình trạng thay đổi tải khi phẫu thuật Fontan. Mặc khác, mạch máu phổi cũng có thể đƣợc chuẩn bị tốt hơn. Một lý do khác nữa là sự tăng độ bão hoà ôxy máu nhƣ Glenn shunt hai hƣớng sẽ giúp trẻ phát triển tốt hơn cho đến khi đủ điều kiện để phẫu thuật Fontan. Trên thực tế, sử dụng Glenn shunt hai hƣớng theo cách tiếp cận này làm giảm tỉ lệ tử vong xuống còn 7% so với 16% nếu chỉ thực hiện phẫu thuật Fontan một giai đoạn [26]. Glenn shunt hai hƣớng đƣợc xem là có vai trò quan trọng trong cải thiện dự hậu ở nhóm BN đƣợc xếp vào nhóm Fontan có nguy cơ cao trƣớc đây cũng nhƣ những BN mắc hội chứng tim trái thiểu sản [10]. Vào những năm 1980, Norwood đƣa ra chiến lƣợc Phẫu thuật Norwood theo ba giai đoạn với việc dùng thất phải làm thất hệ thống (bơm máu vào ĐM chủ) ở những trẻ em mắc hội chứng tim trái thiểu sản. Khái niệm này đã dẫn đến việc mở rộng các đối tƣợng đƣợc phẫu thuật theo hƣớng tuần hoàn Fontan [6]. Nhƣ vậy, cả thất trái lẫn thất phải đều có thể đƣợc sử dụng làm thất hệ thống. Đầu những năm 1990, Ống ghép ngoài tim đƣợc sử dụng để nối TM chủ dƣới vào ĐM phổi đƣợc giới thiệu và nhanh chóng đƣợc chấp nhận. Phẫu thuật Fontan với ống ghép ngoài tim đƣợc ƣa chuộng sử dụng rộng rãi vì dễ thực hiện hơn đƣờng hầm trong nhĩ. Một số phẫu thuật viên thậm chí còn thực hiện phẫu thuật Fontan với ống ghép màng ngoài tim mà không có hỗ trợ tuần hoàn ngoài cơ thể [17]. Năm 1990, các tác giả ở Bệnh viện Nhi Boston công bố 20 trƣờng hợp phẫu thuật có Tạo cửa sổ thông thƣơng giữa đƣờng hầm bên với buồng nhĩ ở 20 BN có nguy cơ cao nhƣ rối loạn chức năng thất, kháng lực mạch máu phổi cao. Cửa sổ thông thƣơng này có mục đích làm giảm áp lực nhĩ phải và đảm bảo cung lƣợng tim trái trong giai đoạn sớm sau mổ và chấp nhận độ bão hoà ôxy máu ĐM hệ thống thấp hơn [3]. Cửa sổ này sau đó sẽ tự đóng trong một số trƣờng hợp khi huyết động ở tuần hoàn phổi cải thiện hoặc đƣợc đóng bằng dụng cụ qua da sau khi đƣợc thông tim đánh giá kháng lực phổi. Sau khi đóng, bão hoà ôxy sẽ trở lại giá trị bình thƣờng [16]. Gần đây sự thành công của Đặt stent ống động mạch ở trẻ sơ sinh và nhũ nhi mắc bệnh tim phụ thuộc ống, trong đó có trẻ mắc bệnh tim một thất chức năng [1] đã mở ra một hƣớng mới trong xử trí nhóm bệnh này, làm giảm số lần phẫu thuật. Can thiệp tim mạch cũng đƣợc ứng dụng thành công cùng với phẫu thuật trong điều trị trẻ em mắc hội chứng tim trái thiểu sản. Chiến lƣợc hybrid kết hợp phẫu thuật và can thiệp (banding ĐM phổi, đặt stent ống ĐM và phá vách liên nhĩ bằng bóng) ít xâm lấn hơn nhƣng vẫn đạt đƣợc kết quả nhƣ tiếp cận của Norwood [12]. III. GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ TUẦN HOÀN FONTAN 3.1. Các bệnh tim một thất chức năng Nhóm bệnh này bao gồm (A) Nhóm teo một van nhĩ thất (thƣờng gặp nhất là teo van ba lá, đôi khi teo van hai lá nhƣng không nằm trong hội chứng tim trái thiểu sản), (B) Nhóm bệnh tim có thất chính hai đƣờng vào (thất trái hai đƣờng vào), (C) Nhóm tim trái thiểu sản và (D) Kênh nhĩ thất mất cân bằng (thƣờng gặp trong hồi chứng đồng phân nhĩ phải). Các nhóm bệnh này đƣợc Gewillig sơ đồ hoá trong Hình 2 [13]. Ngoài ra, một số BN thực sự có hai buồng thất nhƣng lại có những đặc điểm giải TUẦN HOÀN FONTAN SAU NỬA THẾ KỶ 41 phẫu đặc thù ngăn trở việc sửa chữa theo hƣớng hai thất. Một ví dụ “tƣơng đƣơng một thất” là BN mắc thất phải hai đƣờng thoát và một lỗ thông liên thất nằm rất xa khỏi van bán nguyệt. Hoặc một trƣờng hợp khác là thất phải hai đƣờng thoát nhƣng lại có hai van nhĩ thất bắt chéo (criss-cross) nên không thể đóng thông liên thất hoặc tạo đƣờng hầm bên trong thất do đó phải phẫu thuật theo hƣớng một thất, tức tuần hoàn Fontan [17]. Hình 2. Sơ đồ hoá các bệnh tim bẩm sinh có thể cần phải phẫu thuật Fontan: A. Teo một van nhĩ thất; B. Thất hai đƣờng vào; C. Thiểu sản một thất và D. Kênh nhĩ thất mất cân bằng [13]. 3.2. Các thể tuần hoàn Fontan 3.2.1. Tuần hoàn Fontan cổ điển Trên những BN đầu tiên của chính Fontan, tác giả sử dụng Glenn shunt cổ điển, sử dụng thất phải làm buồng bơm máu TM chủ dƣới lên ĐM phổi và có sử dụng hai van ở đƣờng vào và đƣờng ra của nhĩ phải [9]. Ngay sau công trình này đƣợc công bố vào năm 1971 nhiều tác giả đã cải tiến để hoàn chỉnh kỹ thuật. Kreutzer tiến hành nối trực tiếp nhĩ phải vào ĐM phổi và không sử dụng van (Hình 3A) [23]. Trong một khoảng thập kỷ sau đó, đây là kỹ thuật đƣợc sử dụng rộng rãi nhất. Tuy nhiên với các biến chứng thƣờng gặp của Fontan cổ điển nhƣ đã trình bày ở trên, ... n Fontan thực sự (failed Fontan). 5.1. Tuần hoàn Fontan diễn tiến xấu 51.1. Chậm tăng trưởng thể chất Nhìn chung, BN Fontan thƣờng thấp hơn quần thể bình thƣờng. Tuy nhiên, ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy chậm tăng cân một cách không giải thích đƣợc có thể là một chỉ dấu sớm của cung lƣợng tim không đạt đƣợc mức bình thƣờng. Trƣớc một trẻ đã đƣợc phẫu thuật Fontan có chậm tăng trƣởng, cần phải tiến hành khảo sát huyết động một cách tỉ mỉ để làm sao tối ƣu hoá huyết động bằng biện pháp can thiệp hoặc phẫu thuật để điều trị những tắc nghẽn tồn lƣu hoặc bất thƣờng về van tim [8]. PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 19 - THÁNG 5/2018 46 5.1.2. Tím Bệnh nhân Fontan thƣờng có tím mức độ rất nhẹ do máu từ xoang vành đƣợc đổ về tuần hoàn hệ thống. Tuy nhiên, bão hoà thấp <90% là một gợi ý của một luồng shunt phải sang trái (trong tim hoặc do thông nối TM-TM) hoặc do thông nối động-tĩnh mạch phổi. Với những bất thƣờng nhƣ vậy, thông tim có thể phát hiện đƣợc và có thể can thiệp để bít tắc những thông nối một cách có hiệu quả. Những BN đƣợc phẫu thuật Glenn shunt cổ điển xuất hiện thông nối động TM trong phổi phải do thiếu yếu tố gan cần phải đƣợc phẫu thuật để tái lập thông thƣơng của ĐM phổi phải với phần còn lại của hệ ĐM phổi. Trƣờng hợp những BN đƣợc phẫu thuật Fontan cổ điển thƣờng có tuần hoàn bàng hệ “giải áp” hoặc shunt ở tầng nhĩ. Phẫu thuật cắt rời TM chủ khỏi nhĩ phải, nối trực tiếp TM chủ vào ĐM phổi và thu nhỏ nhĩ (Fontan conversion) kèm hoặc không kèm phẫu thuật maze điều trị loạn nhịp có thể sẽ giải áp và làm giảm tuần hoàn bàng hệ TM [27]. 5.1.3. Cản trở đường lưu thông của máu và rối loạn chức năng van tim Sự xuất hiện của các bất thƣờng về huyết động thƣờng rất thầm lặng ở BN Fontan và thƣờng đƣợc chẩn đoán muộn cho đến khi rất nặng. Giảm khả năng gắng sức, giảm bão hoà ôxy máu khi nghỉ ngơi hoặc gắng sức, hiện diện âm thổi ở tim, gan to, bóng tim lớn là những chỉ dấu của bất thƣờng về mặt huyết động. Trong tuần hoàn Fontan, một chênh áp 1mmHg cũng đã có ý nghĩa huyết động. Hẹp hoặc hở van nhĩ thất sẽ làm tăng áp nhĩ và do vậy cản trở dòng chảy trong phổi. Tắc nghẽn ở ĐM chủ sẽ làm tăng công thất đƣa đến dày thất và giảm chức năng tâm trƣơng gây ảnh hƣởng đến dòng máu từ phổi về [8]. 5.1.4. Rối loạn nhịp Rối loạn nhịp bao gồm rối loạn chức năng nút xoang (gặp đến 40% ở BN đƣợc phẫu thuật nối nhĩ phải vào ĐM phổi), nhịp bộ nối, block nhĩ thất, rối loạn nhịp trên thất và thất làm tăng nguy cơ đột tử do rối loạn nhịp. Loạn nhịp nhanh sẽ rất nhanh chóng đƣa đến rối loạn huyết động ở BN Fontan chính vì vậy cần đƣợc điều trị một cách tích cực. Điều trị cắt đốt bằng sóng cao tần ở BN Fontan đòi hỏi cao về mặt kỹ thuật tuy nhiên tỉ lệ thành công thấp [21]. Với những BN đƣợc nối trực tiếp nhĩ phải vào ĐM phổi, việc phẫu thuật lại tạo ống ghép ngoài tim kèm với phẫu thuật maze đƣợc tiến hành từ năm 1994 và đạt đƣợc những kết quả rất khích lệ [8]. 5.1.5. Báng Báng bụng có thể là hậu quả của tăng áp nhĩ phải, bệnh ruột mất protein hoặc rối loạn chức năng gan và đồi hỏi cần phải đƣợc khảo sát rất kỹ để xác định đƣợc nguyên nhân mới có thể đƣa ra biện pháp điều trị thích hợp. Báng là một cảnh báo của một tình trạng suy tuần hoàn Fontan thực sự đang đến gần. 5.1.6. Rối loạn đông máu Huyết khối thƣờng có khuynh xuất hiện ở những BN có cung lƣợng tim thấp, đặc biệt những BN có giãn nhĩ phải, ứ trệ dòng máu. Bệnh nhân Fontan cũng có nguy cơ cao xuất hiện những bất thƣờng yếu tố đông máu nhƣ trong bất cứ trƣờng hợp ứ trệ máu ở gan khác: thiếu hụt protein S, protein C và antithrombin III. Nhiễm trùng hoặc mất nƣớc cũng có thể làm tăng nguy cơ xuất hiện huyết khối. Huyết khối trong TM hệ thống có thể gây thuyên tắc ĐM phổi. Thuyên tắc ồ ạt có thể gây nên sốc, rối loạn nhịp và tử vong. Đây là nguyên nhân gây tử vong ngoài bệnh viện thƣờng gặp nhất ở BN Fontan. Vi huyết khối trên diện rộng và tái diễn có thể dẫn đến bệnh mạch máu phổi tắc nghẽn, một biến chứng muộn nhƣng có khả năng gây tử vong ở BN tuần hoàn Fontan [13]. TUẦN HOÀN FONTAN SAU NỬA THẾ KỶ 47 5.1.7. Thai kỳ Hầu hết phụ nữ sau phẫu thuật Fontan đều có chu kỳ kinh nguyệt bình thƣờng do vậy những đối tƣợng này vẫn có khả năng thụ thai. Thai kỳ và chuyển dạ làm tăng tải rõ rệt lên hệ tim mạch. Thai kỳ bình thƣờng làm tăng cung lƣợng lên khoảng 30-40% vào thời điểm 24 tuần thai và làm tăng thể tích máu lên khoảng 30-40% nhƣng làm giảm kháng lực ngoại biên. Thai phụ thƣờng có biểu hiện ứ dịch và có tình trạng tăng đông. Điều này làm tăng nguy cơ huyết khối TM và thuyên tắc phổi. Tuy nhiên, đã có những BN Fontan có thai và sinh nở thành công. Những phụ nữ có huyết động tốt sau phẫu thuật thƣờng có thể dung nạp tốt thai kỳ và chuyển dạ [30]. Nhƣ vậy, nếu một phụ nữ đã đƣợc phẫu thuật Fontan có huyết động cũng nhƣ lâm sàng tốt và rất mong muốn có con thì dƣờng nhƣ không có lý do để chống chỉ định. Tuy nhiên, BN và chồng cùng gia đình phải ý thức đƣợc rằng nguy cơ cho chính mẹ và con đều tăng [13]. 5.2. Suy tuần hoàn Fontan thực sự Suy tuần hoàn Fontan thực sự có thể xem là một thảm hoạ vì BN suy tim xung huyết với biểu hiện phù toàn, giảm cung lƣợng tim gây hạn chế rất nặng khả năng gắng sức, những cơn nhịp nhanh tái diễn, bệnh ruột mất protein hoặc viêm phế quản khạc chất dẻo (plastic bronchitis) [13]. Một số trƣờng hợp hiếm, suy tuần hoàn Fontan thực sự xuất hiện sớm sau mổ và biện pháp điều trị duy nhất là cắt bỏ tuần hoàn Fontan. Suy tuần hoàn Fontan xuất hiện muộn bao gồm những bất thƣờng về huyết động và tổn thƣơng nhiều cơ quan. Trƣờng hợp này thƣờng đề kháng điều trị nội khoa, can thiệp và phẫu thuật. Điều trị chỉ mang tính giảm nhẹ triệu chứng và chờ đợi ghép tim [8]. Biểu hiện của suy tuần hoàn Fontan đƣợc tóm tắt trong Bảng 2. Bảng 2. Những biểu hiện của suy tuần hoàn Fontan thực sự Cơ quan Tần suất Biểu hiện Suy Fontan sớm 3% Cung lƣợng tim thấp, tràn dịch màng phổi, tràn dƣỡng trấp màng phổi, bụng báng, gan lớn. Bệnh ruột mất protein 2-13% Báng bụng, phù ngoại biên, tràn dịch màng phổi, tiêu chảy, kém hấp thu mỡ, giảm albumin máu. Viêm phế quản khạc chất dẻo <2% Thở nhanh, ho, khò khè, khạc ra chất dẻo hình dạng cây phế quản. Rối loạn chức năng thất tiên phát 7-10% Khả năng gắng sức giảm dần, hở van nhĩ thất, gan lớn, báng. Tăng kháng lực phổi tiến triển Không rõ Giảm bão hoà ôxy máu Suy gan thận Suy thận Không rõ Gan lớn, báng, ung thƣ tế bào gan. Cho đến hiện tại, sau nửa thế kỷ tồn tại của tuần hoàn Fontan, chúng ta vẫn chƣa có những biện pháp điều trị một cách triệt để những trƣờng hợp suy tuần hoàn Fontan. Hiện nay chúng ta chỉ mới bắt đầu có đƣợc những dữ kiện từ các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng liên quan đến tối ƣu hoá xử trí nội khoa ở BN Fontan. Xử trí bệnh nhân Fontan còn tuỳ thuộc vào quan điểm của từng thầy thuốc, từng trung tâm và thƣờng dựa trên PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 19 - THÁNG 5/2018 48 những báo cáo không hệ thống hoặc những thử nghiệm lâm sàng chƣa có đủ độ mạnh cần thiết. Liệu chúng ta có thể ngoại suy từ phác đồ điều trị suy tim ở ngƣời lớn có hai buồng thất chức năng cho những BN Fontan hay không? Các thuốc ức chế phosphodiesterase-5 nhƣ sildenafil ngoài việc làm giãn mạch có có tác dụng tăng co bóp cơ tim hay không? Và đâu là cách tiếp cận thận trọng và hiệu quả nhất trong việc giữ cho nhóm BN này không bị ảnh hƣởng của huyết khối, thuyên tắc mạch? Chỉ bằng cách thực hiện những công trình nghiên cứu ngẫu nhiên với số lƣợng bệnh nhân lớn ở các trung tâm có kinh nghiệm mới có thể đƣa ra những câu trả lời chắc chắn đƣợc. Đó là thách thức nhƣng đồng thời cũng là cơ hội của các thầy thuốc trong lĩnh vực tim bẩm sinh và phẫu thuật tim bẩm sinh vào thời điểm nửa thế kỷ sau khi Fontan thực hiện cuộc cách mạng trong điều trị bệnh tim một thất chức năng. VI. KẾT LUẬN Những kiến thức sâu rộng về sinh lý tuần hoàn tim một thất và tuần hoàn Fontan đã đƣa đến những phẫu thuật có tính cách mạng cùng những cải tiến hợp lý trong phẫu thuật và can thiệp ở trẻ em mắc bệnh tim một thất. Điều này đã cải thiện rõ khả năng sống còn, nâng cao chất lƣợng sống của BN, giảm thiểu những biến chứng. Tuy nhiên những yếu tố huyết động không thuận lợi, các yếu tố nguy cơ sẵn có hoặc tồn lƣu vẫn tiếp tục làm tăng những biến chứng ở BN Fontan. Để đảm bảo đƣợc những tiêu chí cho một tuần hoàn Fontan tối ƣu, ngay khi trẻ sinh ra đời, chiến lƣợc xử trí phải nhắm đến đích đảm bảo một kháng lực mạch máu phổi thấp nhất, giải phẫu mạch máu phổi tốt nhất, chức năng các van nhĩ thất bình thƣờng, áp lực thất hệ thống cuối kỳ tâm trƣơng thấp và đƣờng ra của ĐM hệ thống không bị tắc nghẽn. Luôn ý thức rằng những biến chứng sau phẫu thuật Fontan có thể xảy ra vào bất cứ thời điểm nào và ở bất kỳ BN nào là một thái độ thực hành đúng đắn. Một khi có nghi ngờ bất thƣờng thì việc thăm khám lâm sàng, các test gắng sức, chẩn đoán hình ảnh, thông tim can thiệp cần phải đƣợc chỉ định chặt chẽ và kết quả phải đƣợc phân tích một cách tỉ mỉ. Xử trí những trƣờng hợp tuần hoàn Fontan có diễn tiến xấu đòi hỏi phải có sự phối hợp liên chuyên khoa. Tuy nhiên, trong một số trƣờng hợp, biện pháp điều trị duy nhất cho suy tuần hoàn Fontan chỉ là ghép tim. Hiện nay, các nghiên cứu vẫn đang đƣợc tiếp tục đẩy mạnh nhằm tìm hiểu sâu hơn nữa các cơ chế gây suy tuần hoàn Fontan đồng thời đƣa ra những biện pháp xử trí phù hợp và hiệu quả hơn. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Alwi M, Choo KK, Latiff HA, Kandavello G, Samion H, Mulyadi D. Initial results and medium-term follow-up of stent implantation of patent ductus arteriosus in duct- dependent pulmonary circulation. JACC. 2004; 40: 438-445. 2. Bridges N, Jonas RA, Mayer JE, et al. Bidirectional cavopulmonary anastomosis as interim palliation for high-risk Fontan candidates: early results. Circulation. 1990; 82: IV170-IV176. 3. Bridges ND, Lock JE, Castaneda AR. Baffle fenestration with subsequent transcatheter closure; modification of the Fontan operation for patients at increased risk. Circulation.1990; 82:1681-1689. 4. d‟Udekem Y, Iyengar AJ, Cochrane AD, Grigg LE, Ramsay JM, Wheaton GR, Penny DJ, Brizard CP. The Fontan procedure: Contemporary techniques have improved long-term outcomes. Circulation. 2007; 116: S157–S164. TUẦN HOÀN FONTAN SAU NỬA THẾ KỶ 49 5. De Leval MR, Kilner P, Gewillig M, Bull C. Total cavopulmonary connection: a logical alternative to atriopulmonary connection for complex Fontan operations: experimental studies and early clinical experience. J Thorac Cardiovasc Surg. 1988; 96: 682-695. 6. De Leval, M. R. & Deanfield, J. E. Four decades of Fontan palliation. Nat. Rev. Cardiol. 2010; 7: 520-527. 7. De Leval, M.R. The Fontan Circulation: A Challenge to William Harvey. Nat Clin Pract Cardiovasc Med. 2005; 2: 202-208. 8. Deal BJ, Jacobs ML. Management of the failing Fontan circulation. Heart. 2012; 98:1098-1104. 9. Fontan, F. & Baudet, E. Surgical repair of tricuspid atresia. Thorax. 1971; 26: 240-48. 10. Forbess JM, Cook N, Serraf A, et al. An institutional experience with second- and third-stage palliative procedures for hypoplastic left heart syndrome: the impact of the bidirectional cavopulmonary shunt. J Am Coll Cardiol. 1997; 29: 665-670. 11. Fredenburg TB, Johnson TR, Cohen MD. The Fontan procedure: anatomy, complications, and manifestations of failure. Radiographics. 2011; 31: 453-63. 12. Galantowicz M, Cheatham JP, Phillips A, Cua CL, Hoffman TM, Hill SL, Rodeman R. Hybrid approach for hypoplastic left heart syndrome: Intermediate results after the learning curve. Ann Thorac Surg. 2008; 85: 2063-71. 13. Gewillig M. The Fontan circulation. Heart. 2005; 91: 839-846. 14. Gewillig M, Brownb SC, Eyskensa B, Heyinga R, Ganamea J, Budtsa W, La Gerchea A, Gorenfloa M. The Fontan circulation: who controls cardiac output? Interactive CardioVascular and Thoracic Surgery. 2010; 10: 428-433. 15. Glenn WWL. Circulatory bypass of the right side of the heart - Shunt between superior vena cava and distal right pulmonary artery - Report of clinical application. N Engl J Med. 1958; 259:117-12. 16. Goff DA, Blume ED, Bauvreau K, et al. Clincial outcome of fenestrated Fontan patients after closure. Circulation. 2000;102: 2094-2099. 17. Hancock Friesen C.L., Forbess J.M. Surgical management of the single ventricle. Progress in Pediatric Cardiology. 2002; 16: 47-68. 18. Jonas RA, Castaneda AR. Modified Fontan procedure: Atrial baffle and systemic to pulmonary artery anastomotic techniques. J Card Surg. 1988; 3: 91-96. 19. Katogi T. Extracardiac conduit Fontan procedure versus intra-atrial lateral tunnel Fontan procedure. General Thoracic and Cardiovascular Surgery. 2012; 60: 792-795. 20. Kawashima Y, Kitamura S, Matsuda H, et al. Total cavopulmonary shunt operation in complex cardiac anomalies. A new operation. J Thorac Cardiovasc Surg. 1984; 87: 74-81. 21. Khairy P, Poirier N. The extracardiac conduit is not the preferred Fontan approach for patients ƣith univentricular hearts. Circulation. 2012; 126: 2516-2525. 22. Khairy P, Poirier N, Mercier LA. Univentricular Heart. Circulation. 2007; 115: 800-812. 23. Kreutzer G, Galindez E, Bono H, PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 19 - THÁNG 5/2018 50 dePalma C, Laura JP. An operation for the correction of tricuspid atresia. J Thorac Cardiovasc Surg. 1973; 66: 613-621. 24. Le Minh Khoi, Nguyen Hoang Dinh, Vu Tri Thanh, Truong Quang Binh. Cardiopulmonary interaction in patients with heart disease. Journal of Clinical Medicine. 2017; 42: 19-23. 25. Lee JR, Kwak JG, Kim KC, Min SK, Kim WH, Kim YJ, Rho JR. Comparison of lateral tunnel and extracardiac conduit Fontan procedure. Interactive CardioVascular and Thoracic Surgery. 2007; 6: 328-330. 26. Norwood WI, Jacobs ML. Fontan‟s procedure in two stages. Am J Surg. 1993; 166: 548-551. 27. Park HK, Shin HJ, Park YH. Outcomes of Fontan conversion for failing Fontan circulation: mid-term results. Interactive CardioVascular and Thoracic Surgery. 2016; 23:14-17 28. Puga FJ, Chiavarelli M, Hagler DJ. Modification of the Fontan operation applicable to the patients with left atrioventricular valve atresia or single atrioventricular valve. Circulation. 1987; 76: III53-III60. 29. Stern HJ. Fontan „„Ten Commandments‟‟ revisited and revised. Pediatr Cardiol. 2010; 31: 1131-1134. 30. Therrien J, Warnes C, Daliento L, et al. Canadian Cardiovascular Society Consensus Conference 2001 update: recommendations for the management of adults with congenital heart disease part III. Can J Cardiol 2001; 17: 1135-58.
File đính kèm:
tuan_hoan_fontan_sau_nua_the_ky.pdf

