Trường hợp lâm sàng cải tiến kỹ thuật vòi voi điều trị bệnh động mạch chủ phức tạp tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức

Bệnh lý nặng cùng lúc ở toàn bộ động mach

chủ ngực, từ đoạn lên đến đoạn xuống là một

trong những bệnh lý động mạch chủ phức tạp

nhất. Phẫu thuật kinh điển thay toàn bộ động

mạch chủ sẽ rất phức tạp và nặng nề. Kỹ thuật vòi

voi là một giải pháp tương đối triệt để và an toàn

hơn phẫu thuật kinh điển. Kỹ thuật vòi voi cải

tiến bằng phương pháp can thiệp nội mạch phổi

hợp, nhờ tính hiệu quả và an toàn cao, nên đã

phát triển mạnh trên thế giới từ hơn 10 năm nay,

tuy nhiên có chi phí lớn nên chưa phổ biến ở Việt

Nam. Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức đã sáng tạo

một kỹ thuật vòi voi cải tiến dựa trên các vật tư

sẵn có, chi phí thấp và khả thi hơn cho người

bệnh Việt Nam. Báo cáo nhằm thông báo ca lâm

sàng bệnh động mạch chủ ngực phức tạp được

điều trị thành công bằng kỹ thuật vòi voi cải tiến

vào tháng 12 năm 2019

pdf 7 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Trường hợp lâm sàng cải tiến kỹ thuật vòi voi điều trị bệnh động mạch chủ phức tạp tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Trường hợp lâm sàng cải tiến kỹ thuật vòi voi điều trị bệnh động mạch chủ phức tạp tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức

Trường hợp lâm sàng cải tiến kỹ thuật vòi voi điều trị bệnh động mạch chủ phức tạp tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 30 - THÁNG 9/2020 
 24 
TRƯỜNG HỢP LÂM SÀNG CẢI TIẾN KỸ THUẬT VÒI VOI ĐIỀU TRỊ BỆNH 
ĐỘNG MẠCH CHỦ PHỨC TẠP TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC 
Phùng Duy Hồng Sơn*, Nguyễn Tùng Sơn*, Nguyễn Hữu Ước* 
TÓM TẮT 
Bệnh lý nặng cùng lúc ở toàn bộ động mach 
chủ ngực, từ đoạn lên đến đoạn xuống là một 
trong những bệnh lý động mạch chủ phức tạp 
nhất. Phẫu thuật kinh điển thay toàn bộ động 
mạch chủ sẽ rất phức tạp và nặng nề. Kỹ thuật vòi 
voi là một giải pháp tương đối triệt để và an toàn 
hơn phẫu thuật kinh điển. Kỹ thuật vòi voi cải 
tiến bằng phương pháp can thiệp nội mạch phổi 
hợp, nhờ tính hiệu quả và an toàn cao, nên đã 
phát triển mạnh trên thế giới từ hơn 10 năm nay, 
tuy nhiên có chi phí lớn nên chưa phổ biến ở Việt 
Nam. Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức đã sáng tạo 
một kỹ thuật vòi voi cải tiến dựa trên các vật tư 
sẵn có, chi phí thấp và khả thi hơn cho người 
bệnh Việt Nam. Báo cáo nhằm thông báo ca lâm 
sàng bệnh động mạch chủ ngực phức tạp được 
điều trị thành công bằng kỹ thuật vòi voi cải tiến 
vào tháng 12 năm 2019. 
Từ khóa: bệnh động mạch chủ ngực, kỹ 
thuật vòi voi, Việt Đức. 
SUMMARY 
 Severe concurrent all thoracic aortic 
disease, from the ascending to the descending 
segment, is one of the most complex diseases of 
the aorta. The classic surgery to replace the entire 
aorta is very complicated and severe. The “frozen 
elephant trunk” technique (FET) is a relatively 
radical and safer solution than conventional 
surgery. FET technique improved by integrated 
endovascular intervention (stent-graft), thanks to 
its high efficiency and safety, has been thriving in 
the world for more than 10 years, but with large 
costs, it is not popular in Vietnam. Viet Duc 
university hospital has created an improved FET 
technique based on readily available, low-cost 
and more feasible materials for Vietnamese 
patients. The report aims to announce a clinical 
case of complex thoracic aortic disease that has 
been successfully treated with an this improved 
technique in December 2019. 
Key words: Thoracic aortic disease, Frozen 
elephant trunk technique, Viet Duc.1 
I. TỔNG QUAN 
Bệnh động mạch chủ ngực có liên quan 
cùng lúc đến đoạn lên và quai động mạch chủ là 
bệnh lý rất nặng và phức tạp, trong đó thường gặp 
nhất là lóc cấp tính động mạch chủ type A 
(Stanford A). Ở một số thể bệnh, thái độ điều trị 
đòi hỏi phải can thiệp đồng thì trên cả động mạch 
chủ lên, quai và chủ xuống. Phương pháp mổ 
thay toàn bộ động mạch chủ bằng mạch nhân tạo 
rất phức tạp với tỷ lệ tử vong cao > 50% 1. Năm 
1983, Borst và cộng sự đề xuất kỹ thuật vòi voi, 
tạo một bước ngoặt lớn nhờ kỹ thuật mổ đơn giản 
hơn và hiệu quả hơn, nên đã nhanh chóng trở 
thành phương pháp chính trong điều trị bệnh lý 
phức tạp này 1. Tuy nhiên, kỹ thuật vòi voi kinh 
điển vẫn có nhiều hạn chế như: miệng nối xa nằm 
sâu - khó cầm máu, thời gian mổ còn khá dài, 
nguy cơ tổn thương thần kinh quặt ngược, và cần 
cuộc mổ lớn thứ 2 để xử lý tổn tương ở động mạch 
chủ xuống. Đã có nhiều cải tiến từ kỹ thuật vòi voi 
kinh điển, nhất là sau khi phát triển kỹ thuật can 
thiệp nội động mạch chủ (StentGraft), đã dần khắc 
phục được các nhược điểm trên với nhiều kỹ thuật 
vòi voi cải tiến khác nhau2–4 (Hình 1), trong đó 
cập nhật nhất là phương pháp mổ Hybrid (phẫu 
thuật đồng thì với can thiệp nội mạch) với kỹ thuật 
vòi voi cải tiến bằng StentGraft nối liền với đoạn 
mạch nhân tạo động mạch chủ có phân nhánh cho 
các động mạch nền cổ (2012 – Hình 1). 
* Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức 
Người chịu trách nhiệm khoa học: Phùng Duy Hồng Sơn 
Ngày nhận bài: 02/08/2020 - Ngày Cho Phép Đăng: 04/09/2020 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 PGS.TS. Đoàn Quốc Hưng 
TRƯỜNG HỢP LÂM SÀNG CẢI TIẾN KỸ THUẬT VÒI VOI ĐIỀU TRỊ BỆNH ĐỘNG MẠCH CHỦ PHỨC TẠP... 
 25 
Hình 1: Cải tiến kỹ thuật vòi voi theo thời gian 2 
Việc ứng dụng các kỹ thuật vòi voi cải tiến 
chuẩn (StentGraft chuyên dụng – ví dụ loại 
Thoraflex) tương đối khó khăn tại điều kiện Việt 
Nam do giá thành rất cao của dụng cụ, trong khi 
nhu cầu của người bệnh ngày càng tăng, nhất là 
bệnh lóc động mạch chủ cấp tính type A có biến 
chứng hoặc bệnh lý phức tạp động mạch chủ 
ngực. Do vậy Trung tâm Tim mạch và Lồng 
ngực, bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, đã cải tiến 
kỹ thuật vòi voi theo cách riêng, bước đầu cho 
kết quả tốt và tiết kiệm chi phí điều trị. Trong 
báo cáo này, chúng tôi miêu tả chi tiết kỹ thuật 
và kết quả phương pháp Hybrid của ca lâm sàng 
đầu tiên ứng dụng thành công kỹ thuật vòi voi 
cải tiến này. 
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
Nghiên cứu mô tả ca lâm sàng bị tổn 
thương loét xuyên thành - máu tụ trong thành 
type A cấp tính kết hợp ổ giả phình động mạch 
chủ xuống, được phẫu thuật thành công bằng 
phẫu thuật Hybrid có sử dụng kỹ thuật vòi voi 
cải tiến bằng vật liệu sẵn có, tại Trung tâm Tim 
mạch và Lồng ngực, bệnh viện Hữu Nghị Việt 
Đức vào tháng 12 năm 2019. 
Qui trình phẫu thuật Hybrid có sử dụng 
kỹ thuật vòi voi cải tiến tại bệnh viện Việt Đức 
Dưới C-arm chuyên dụng hay DSA, chọc 
động mạch (ĐM) đùi phải qua da, luồn 1 dây dẫn 
cứng từ đùi phải – theo lòng thật động mạch chủ 
lên tận động mạch chủ ngực lên. Có thể đặt siêu 
âm thực quản dẫn đường thêm cho những ca khó. 
Cố định dây dẫn. Thì mổ này chỉ cần thiết trong 
trường hợp lóc động mạch chủ type A điển hình. 
Phẫu thuật bắt đầu như mổ tim hở thay quai 
động mạch chủ (ĐMC). Canuyn động mạch nách 
phải qua đoạn mạch nhân tạo Dacron. Mở đường 
giữa xương ức, canuyn tĩnh mạch (1 hoặc 2 tùy 
ca), phẫu tích đặt dây các động mạch (ĐM) nền 
cổ ra từ quai ĐMC. Bắt đầu tuần hoàn ngoài cơ 
thể. Cắt khâu ĐM cảnh chung trái sát gốc, đặt 
canuyn tưới máu não chọn lọc ĐM cảnh chung 
trái. Cắt khâu ĐM dưới đòn trái sát gốc, làm 
miệng nối mạch nhân tạo Dacron số 8 vào động 
mạch dưới đòn. Cặp ĐMC, bảo vệ cơ tim, hạ thân 
nhiệt 280C. Tưới máu não chọn lọc xuôi dòng hai 
bên. Ngừng tuần hoàn, cắt ĐMC lên kiểu thay 
bán phần quai ĐMC. 
Đặt StentGraft ĐMC kiểu ngược dòng từ 
ngang ĐM cảnh chung trái xuống ĐMC ngực 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 30 - THÁNG 9/2020 
 26 
theo dây dẫn có sẵn. StentGraft (kích thước 
“over size” 5-10%) là đoạn phụ Medtronic 
Valiant Captivia, vẫn được dùng thường qui 
trong can thiệp ĐMC – với chi phí chỉ bằng 
1/3 loại StentGraft chuẩn cho kỹ thuật vòi voi. 
Khâu vắt chỉ monofil 5.0 ép StentGraft với 
thành quai ĐMC ở vị trí chân thân ĐM cánh 
tay đầu (Hình 1A). 
A- Đặt stent graft B-Thay ĐMC lên và bán phần 
quai ĐMC 
C – Nối mạch nhân tạo với ĐM 
cảnh chung trái, dưới đòn trái. 
Hình 1. Các bước phẫu thuật Hybrid với kỹ thuật vòi voi cải tiến tại bệnh viện Việt Đức 
Làm miệng nối mạch nhân tạo Dacron 
đường kính 24-30mm với quai ĐMC, phía trong là 
StentGraft, phía ngoài tăng cường bằng dải đệm 
(Hình 1B). Phục hồi lại tưới máu toàn thân qua 
canuyn ĐM nách phải. Làm miệng nối mạch nhân 
tạo với ĐMC lên ngay trên xoang Valsalva bằng 
kỹ thuật “sandwitch” (hoặc với vòng van ĐMC 
kiểu phẫu thuật Bentall – tùy từng ca). Tái tưới 
máu cho tim đập lại. Cắm động mạch nhân tạo số 
8 đã nối với ĐM dưới đòn trái vào ĐMC lên nhân 
tạo (vị trí kim dẫn lưu gốc ĐMC) kiểu tận-bên. 
Nối ĐM cảnh trái vào mạch nhân tạo số 8 kiểu 
tận-bên (Hình 1C). Ngừng tuần hoàn ngoài cơ thể, 
kết thúc cuộc mổ như thường quy. 
III. MÔ TẢ CA LÂM SÀNG 
Bệnh nhân nam 50 tuổi, tiền sử không có 
bệnh mãn tính. Trước vào viện 1 ngày, bệnh nhân 
đột ngột đau ngực, lan ra lưng, lên cổ, được cấp 
cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh, chấn đoán lóc 
ĐMC ngực cấp tính, rồi chuyển cấp cứu đến bệnh 
viện Hữu Nghị Việt Đức. Tình trạng lúc nhập 
viện: người bệnh tỉnh, đau ngực giảm, không khó 
thở, rì rào phế nang rõ, tim đều, huyết áp hai tay 
bằng nhau 140/80mmHg, nhịp tim 90 lần/phút, 
bụng mềm, mạch tứ chi rõ. 
Siêu âm Doppler tim: cấu trúc và chức năng 
tim trong giới hạn bình thường, máu tụ trong 
thành ĐMC lên đoạn sát thân động mạch cánh tay 
đầu, lan sang quai ĐMC và ĐMC xuống. 
Điện tim: nhịp xoang 90 lần phút, trục bình 
thường. 
Các xét nghiêm: tăng nhẹ bạch cầu, các chỉ 
số khác trong giới hạn bình thường. 
Chụp ĐMC cắt lớp vi tính đa dãy (MS-CT) 
có tiêm thuốc cản quang và dựng hình: hình ảnh 
máu tụ rộng trong thành ĐMC - quai ĐMC - 
ĐMC xuống, lan tới ĐMC bụng; đồng thời có ổ 
loét xuyên thành ĐMC 6mm và ổ giả phình kích 
thước 27x16mm ở sau chổ xuất phát ĐM dưới 
đòn trái 26mm (Hình 2). 
TRƯỜNG HỢP LÂM SÀNG CẢI TIẾN KỸ THUẬT VÒI VOI ĐIỀU TRỊ BỆNH ĐỘNG MẠCH CHỦ PHỨC TẠP... 
 27 
Hình 2: Hình ảnh máu tụ trong thành ĐMC, giả phình ĐMC xuống / MS-CT 
Chẩn đoán xác định là: Loét xuyên thành - 
Máu tụ trong thành ĐMC type A cấp tính, ổ giả 
phình ĐMC xuống. Bệnh nhân được chỉ định phẫu 
thuật Hybrid cấp cứu, có sử dụng kỹ thuật vòi voi 
cải tiến của bệnh viện Việt Đức (StentGraft ĐMC 
xuống bằng vật liệu thường qui, thay quai ĐMC và 
ĐMC lên, cắm lại các ĐM nền cổ). 
Quá trình phẫu thuật diễn ra thuận lợi với 
các thì mổ Hybrid bám sát qui trình như đã mô 
tả ở trên (Hình 3). Thời gian tuần hoàn ngoài cơ 
thể là 150 phút, thời gian cặp ĐMC là 100 phút. 
Bệnh nhân được rút nội khí quản sau mổ 5 giờ, 
ra viện sau mổ 10 ngày – không có biến chứng 
gì đặc biệt. 
A- Đặt stent graft B-Làm miệng nối xa B-Kết thúc phẫu thuật 
Hình 3: Hình ảnh trong khi mổ 
Kết quả chụp cắt lớp vi tính (MS-CT) của ĐMC kiểm tra sau mổ cho thấy: StentGraft đúng vị trí 
ở quai ĐMC và ĐMC chủ xuống, không có rò cạnh stent, khối giả phồng đã bịt kín hoàn toàn bởi 
huyết khối, các ĐM vùng nền cổ lưu thông tốt (Hình 4). 
A – Huyết khối hoàn toàn giả phồng B- MSCT dựng hình 3D sau mổ 
Hình 4: MS-CT kiểm tra sau mổ 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 30 - THÁNG 9/2020 
 28 
Kết quả kiểm tra sau mổ 1, 3 và 6 tháng cho 
kết quả tốt và ổn định cả về lâm sàng, xét nghiệm 
và chẩn đoán hình ảnh. 
IV. BÀN LUẬN 
Trong bệnh lý ĐMC ngực thể phức tạp, khi 
tổn thương ĐMC lan tỏa nhiều đoạn, đặc biệt liên 
quan đến quai ĐMC và ĐMC xuống, thì đòi hỏi 
giải pháp điều trị là phải thay thế toàn bộ đoạn 
ĐMC bệnh lý để giải quyết triệt để thương tổn; 
đây là một thách thức lớn cho các bác sĩ và bệnh 
nhân trong thế kỷ 20. Năm 1984, Crawford và 
cộng sự đã công bố các kết quả đầu tiên của kỹ 
thuật thay toàn bộ đoạn ĐMC bệnh lý 5. Tuy 
nhiên, đây là phẫu thuật rất xâm lấn, phức tạp, thời 
gian mổ kéo dài và nhiều biến chứng trong – sau 
mổ, nên không được phổ biến rộng rãi trên trên thế 
giới, đặc biệt đối với các trường hợp cấp tính hay 
phẫu thuật cấp cứu. Ở mức độ ít triệt để hơn nhưng 
mức độ can thiệp nhẹ nhàng hơn, Borst và cộng sự 
đã đề xuất kỹ thuật vòi voi (frozen elephant trunk 
technique), và nhanh chóng được phổ biến rộng rãi 
hơn1. Hạn chế của kỹ thuật này là miệng nối xa ở 
ĐMC xuống vẫn còn nằm rất sâu, khó thực hiện, 
khó cầm máu, dễ tổn thương thần kinh quặt ngược 
khi phẫu tích vùng quai ĐMC; hơn nữa phía ĐMC 
xuống hầu hết cần can thiệp thì hai để giải quyết 
triệt để thương tổn, hoặc có nguy cơ bị biến chứng 
vỡ, huyết khối sau mổ 1,2,4. 
Song hành với sự phát triển rất nhanh của 
can thiệp nội mạch, StentGraft đã trở thành một 
phương pháp điều trị ngày càng phổ biến và an 
toàn cho nhiều bệnh lý ĐMC. Dựa trên nguyên lý 
của StentGraft, từ năm 20034, nhiều tác giả đã đề 
xuất cải tiến kỹ thuật vòi voi bằng cách sử dụng 
StentGraft để điều trị đồng thì (Hybrid) các tổn 
thương cho phần ĐMC xuống. Sản phẩm nổi bật 
nhất là ống mạch Thoraflex (của Terumo) có gắn 
StentGraft và có nhánh để bắc cầu vào các ĐM 
nền cổ (ĐM cảnh và dưới đòn), được sử dụng từ 
20124, với nhiều ưu điểm nổi trội, làm đơn giản 
hóa rất nhiều các qui trình phẫu thuật, tức là giảm 
nhẹ rõ rệt gánh nặng trong giai đoạn hậu phẫu, 
giảm tỷ lệ tử vong và cải thiện chất lượng sống 
nhờ giảm các biến chứng. Tuy nhiên sản phẩm 
vẫn có những hạn chế như kích thước StentGraft 
là cố định, giá thành khá cao – khó phù hợp thực 
tiễn, nên chưa phổ biến tại các nước như Việt 
Nam. Năm 2003, Karch và cộng sự7 đề xuất thay 
đổi kỹ thuật bằng cách không nối ĐM cảnh trái 
vào ĐMC lên nhân tạo, mà là nối vào đoạn ĐM 
dưới đòn nhân tạo, giúp đơn giản hơn nữa kỹ 
thuật (Hình 1C). 
Trong lóc ĐMC type A điển hình, nếu làm 
kỹ thuật đặt StentGraft thấp hơn từ ngang mức 
sau ĐM dưới đòn trái, và thay bán phần quai 
ĐMC theo kỹ thuật Roseli và cộng sự, vẫn có 
nguy cơ bị rò quanh StentGraft, và không thể 
thực hiện được nếu có rách nội mạc ở giữa ĐM 
cánh tay đầu và ĐM cảnh chung trái hay giữa 
ĐM cảnh chung trái và ĐM dưới đòn2 (Hình 5). 
Hình 5: Kỹ thuật vòi voi cải tiến của Roseli và cộng sự 2 
TRƯỜNG HỢP LÂM SÀNG CẢI TIẾN KỸ THUẬT VÒI VOI ĐIỀU TRỊ BỆNH ĐỘNG MẠCH CHỦ PHỨC TẠP... 
 29 
Việc sử dụng đoạn mạch nhân tạo có sẵn 
nhiều nhánh có hạn chế là chi phí lớn, dễ bị gập 
trên đường đi, có quá nhiều mạch nhân tạo trên 
một vùng ngực hạn hẹp, khó bảo tồn tĩnh mạch vô 
danh. Nếu sử dụng kỹ thuật Stent riêng cho gốc 
ĐM dưới đòn trái (kỹ thuật cửa sổ - Hình 5C) cũng 
có hạn chế là kỹ thuật phức tạp, cần máy DSA 
chuyên dụng, đẩy chi phí lên khá lớn và thời gian 
mổ kéo dài. 
Kỹ thuật vòi voi của chúng tôi có một số 
cải tiến cơ bản, dễ áp dụng trong điều kiện Việt 
Nam, cụ thể là: 
- Sử dụng StentGraft bằng đoạn phụ của 
Stent ĐMC ngực thông thường, có sẵn ở hầu hết 
các trung tâm tim mạch can thiệp, và chi phí rất 
thấp – chỉ bằng 1/3 chi phí của các loại StentGraft 
chuyên dụng cho kỹ thuật vòi voi cải tiến trên thế 
giới. Đối với các trường hợp khó, Stent sẽ được 
đặt chính xác vào lòng ĐMC theo sự dẫn đường 
của dây dẫn cứng có sẵn qua đường ĐM đùi. 
Kích thước StentGraft sẽ rất linh hoạt và được 
chọn lựa trước theo các kích thước đo được trên 
MS-CT. 
- Miệng nối giữa mạch nhân tạo (thay cho 
đoạn ĐMC lên và bán phần quai) với ĐMC ở 
mức giữa ĐM thân cánh tay đầu và ĐM cảnh 
chung trái. Vị trí này không quá sâu nên dễ làm 
miệng nối và cầm máu hơn, ít tổn thương thần 
kinh hơn. Sau khi làm xong miệng nối đầu xa 
này, phục hồi lại tưới máu toàn thân, rồi làm 
miệng nối ĐMC đầu gần (gốc ĐMC), và phục hồi 
tưới máu tim. Thứ tự này giúp làm giảm tối đa 
thời gian ngừng tuần hoàn và thời gian cặp ĐMC. 
- Đoạn mạch nhân tạo để thay cho ĐMC 
lên và quai chỉ cần có 1 nhánh, tự tạo bằng đoạn 
mạch nhân tạo Dacron số 8; được nối sẵn đầu xa 
vào ĐM dưới đòn trái. Sau khi xong các miệng 
nối ĐMC, đầu gần được nối vào vị trí ống dẫn 
lưu gốc ĐMC, giúp hạn chế tối đa vị trí có thể 
chảy máu sau mổ. Sau đó làm miệng nối ĐM 
cảnh chung trái với mạch nhân tạo số 8 tận-bên, 
tạo ra thân ĐM cánh tay đầu bên trái. 
Ưu điểm của phương pháp Hybrid và kỹ 
thuật vòi voi cải tiến của bệnh viện Hữu nghị Việt 
Đức là vẫn đảm bảo thay triệt để vùng quai ĐMC, 
hạn chế rò quanh stent, kỹ thuật đơn giản, chi phí 
thấp, ít sử dụng mạch nhân tạo nối vào vùng quai 
ĐMC, dễ cầm máu, và vật tư trang thiết bị sẵn có 
trong các hoạt động chuyên môn thường qui. 
Sau thành công của ca bệnh, Trung tâm 
Tim mạch và Lồng ngực bệnh viện Hữu nghị 
Việt Đức đã triển khai phương pháp điều trị mới 
này một cách thường qui và đã mang lại một số 
kết quả chi tiết hơn nội dung của báo cáo, và sẽ 
được trình bày tại một nghiên cứu khác với cỡ 
mẫu lớn hơn. 
V. KẾT LUẬN 
Phương pháp Hybrid với kỹ thuật vòi voi 
cải tiến tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đức để điều 
trị bệnh lóc ĐMC type A bước đầu cho kết quả 
khả quan, an toàn, dễ thục hiện và chi phí không 
cao, dựa trên các vật tư sẵn có từ các hoạt động 
chuyên môn thường qui. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Borst HG, Walterbusch G, Schaps D. 
Extensive Aortic Replacement using “Elephant 
Trunk” Prosthesis. Thorac Cardiovasc Surg. 
1983;31(1):37-40. doi:10.1055/s-2007-1020290 
2. Roselli EE, Idrees JJ, Bakaeen FG, et al. 
Evolution of Simplified Frozen Elephant Trunk 
Repair for Acute DeBakey Type I Dissection: 
Midterm Outcomes. Ann Thorac Surg. 
2018;105(3):749-755. 
doi:10.1016/j.athoracsur.2017.08.037 
3. Ma W-G, Zheng J, Sun L-Z, Elefteriades 
JA. Open Stented Grafts for Frozen Elephant 
Trunk Technique: Technical Aspects and Current 
Outcomes. AORTA J. 2015;3(4):122-135. 
doi:10.12945/j.aorta.2015.14.062 
4. Di Marco L, Pantaleo A, Leone A, 
Murana G, Di Bartolomeo R, Pacini D. The 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 30 - THÁNG 9/2020 
 30 
Frozen Elephant Trunk Technique: European 
Association for Cardio-Thoracic Surgery Position 
and Bologna Experience. Korean J Thorac 
Cardiovasc Surg. 2017;50(1):1-7. 
doi:10.5090/kjtcs.2017.50.1.1 
5. Total Aortic Replacement for Chronic 
Aortic Dissection Occurring in Patients with and 
without Marfan’s Syndrome. Accessed March 22, 
2020. 
https://insights.ovid.com/crossref?an=00000658-
198403000-00018 
6. Karck M, Chavan A, Hagl C, Friedrich 
H, Galanski M, Haverich A. The frozen elephant 
trunk technique: A new treatment for thoracic 
aortic aneurysms. J Thorac Cardiovasc Surg. 
2003;125(6):1550-1553. doi:10.1016/S0022-
5223(03)00045-X 
7. El-Hamamsy I, Ouzounian M, Demers 
P, et al. State-of-the-Art Surgical Management of 
Acute Type A Aortic Dissection. Can J Cardiol. 
2016;32(1):100-109. 
doi:10.1016/j.cjca.2015.07.736 

File đính kèm:

  • pdftruong_hop_lam_sang_cai_tien_ky_thuat_voi_voi_dieu_tri_benh.pdf