Triệu chứng đau ở bệnh nhân Parkinson khởi phát sớm: tần suất, đặc điểm và các yếu tố liên quan

Đặt vấn đề: Đau là một triệu chứng ngoài vận động thường gặp ở bệnh nhân Parkinson nhưng thường

không được nhận biết và điều trị đầy đủ. Hiện tại chưa có nghiên cứu nào về đau ở phân nhóm bệnh nhân

Parkinson khởi phát sớm.

Mục tiêu: Xác định tần suất, độ nặng của triệu chứng đau, các loại đau và các yếu tố liên quan đến triệu

chứng đau ở phân nhóm bệnh nhân Parkinson khởi phát sớm.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang trên 89 bệnh nhân được chẩn đoán bệnh

Parkinson khởi phát sớm theo tiêu chuẩn của MDS 2015, tại bệnh viện Đại học Y Dược TP. HCM từ tháng

11/2019 đến tháng 06/2020.

pdf 7 trang phuongnguyen 580
Bạn đang xem tài liệu "Triệu chứng đau ở bệnh nhân Parkinson khởi phát sớm: tần suất, đặc điểm và các yếu tố liên quan", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Triệu chứng đau ở bệnh nhân Parkinson khởi phát sớm: tần suất, đặc điểm và các yếu tố liên quan

Triệu chứng đau ở bệnh nhân Parkinson khởi phát sớm: tần suất, đặc điểm và các yếu tố liên quan
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 
Chuyên Đề Thần Kinh - Da Liễu 129 
TRIỆU CHỨNG ĐAU Ở BỆNH NHÂN PARKINSON KHỞI PHÁT SỚM: 
TẦN SUẤT, ĐẶC ĐIỂM VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN 
Đặng Thị Huyền Thương1, Nguyễn Mạnh Tuấn2, Hà Ngọc Lê Uyên1, Võ Ngọc Chung Khang1, 
Trần Ngọc Tài1 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Đau là một triệu chứng ngoài vận động thường gặp ở bệnh nhân Parkinson nhưng thường 
không được nhận biết và điều trị đầy đủ. Hiện tại chưa có nghiên cứu nào về đau ở phân nhóm bệnh nhân 
Parkinson khởi phát sớm. 
Mục tiêu: Xác định tần suất, độ nặng của triệu chứng đau, các loại đau và các yếu tố liên quan đến triệu 
chứng đau ở phân nhóm bệnh nhân Parkinson khởi phát sớm. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang trên 89 bệnh nhân được chẩn đoán bệnh 
Parkinson khởi phát sớm theo tiêu chuẩn của MDS 2015, tại bệnh viện Đại học Y Dược TP. HCM từ tháng 
11/2019 đến tháng 06/2020. 
Kết quả: 74,2% bệnh nhân có triệu chứng đau. Điểm KPPS (the King’s Parkinson’s Disease Pain Scale) 
trung bình là 10,78 ± 14,20 (0-69). Đau cơ xương là loại đau phổ biến nhất (49,4%), theo sau đó là đau rễ thần 
kinh (31,5%). Điểm MDS-UPDRS phần III cao hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm bệnh nhân có triệu chứng đau. 
Điểm KPPS tổng cộng không liên quan đến độ nặng của bệnh nhưng độ nặng của đau ban đêm và đau rễ thần 
kinh cao hơn ở nhóm bệnh nhân giai đoạn trung bình - nặng. Nghiên cứu ghi nhận mối tương quan trung bình 
giữa điểm NMSS phần mệt mỏi/giấc ngủ với điểm KPPS. 
Kết luận: Đau là triệu chứng phổ biến ở bệnh nhân Parkinson khởi phát sớm. Các rối loạn về giấc ngủ và sự 
mệt mỏi liên quan đến độ nặng của đau. 
Từ khóa: đau trong bệnh Parkinson, bệnh Parkinson 
ABSTRACT 
PAIN IN YOUNG ONSET PARKINSON’S DISEASE: PREVALENCE, CHARACTERISTICS AND 
ASSOCIATED FACTORS 
Dang Thi Huyen Thuong, Nguyen Manh Tuan, Ha Ngoc Le Uyen, Vo Ngoc Chung Khang, 
Tran Ngoc Tai * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No. 2 - 2021: 129 - 135 
Background: Pain is the common non-motor symtom of Parkinson disease but it is frequently under-
recognized and is often inadequately treated. No study assessing pain is performed in young onset Parkinson’s 
disease subgroup. 
Objectives: To determine the prevalence of pain, pain intensity, pain types, and associated factors in 
patients with young onset Parkinson’s disease (YOPD). 
Methods: This is a cross-sectional study on 89 subjects with the diagnosis of young onset Parkinson’s 
disease according to MDS’s criteria in 2015, at University Medical Center of Ho Chi Minh city from November 
2019 to June 2020. 
Results: The percentage of patients having at least one type of pain was 74.2%. The mean KPPS (the King’s 
1Khoa Thần kinh, BV Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
2BM Thần kinh, Trường Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
Tác giả liên lạc: ThS.BS. Đặng Thị Huyền Thương ĐT: 0907587738 Email: [email protected] 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Thần Kinh - Da Liễu 130 
Parkinson’s Disease Pain Scale) score was 10.78 ± 14.20 (range 0-69). Musculoskeletal pain was the most 
common type (49.4%), followed by radicular pain (31.5%). MDS-UPDRS part III is significantly higher 
(p=0.02) in patients with pain. KPPS total score was not related to the disease severity but nocturnal pain and 
radicular pain increased in moderate-advanced stage. We noted moderate correlations between NMSS 
sleep/fatigue domain score with the KPPS score. 
Conclusion: Pain is a frequent problem in YOPD patients. Sleep/fatigue disturbances are related to the pain 
severity in YOPD. 
Keywords: Parkinson’s disease, pain in Parkinson’s disese 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Đau là một trong số các triệu chứng ngoài 
vận động phổ biến nhất của bệnh Parkinson, với 
tỉ lệ hiện mắc được ghi nhận trong các nghiên 
cứu là 40% đến 85%(1,2,3). Triệu chứng đau gây 
ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người 
bệnh nhưng thường không được nhận biết và 
điều trị đầy đủ. Các yếu tố liên quan đến triệu 
chứng đau không đồng nhất trong các nghiên 
cứu. Một số nghiên cứu ghi nhận giới tính, biến 
chứng vận động, mất ổn định tư thế và rối loạn 
dáng đi, trầm cảm, mệt mỏi và rối loạn giấc ngủ 
có liên quan đến triệu chứng đau(4,5,6). Có nhiều 
thang điểm được sử dụng để nhận biết và phân 
loại đau ở bệnh nhân Parkinson, tuy nhiên thang 
điểm KPPS mới được đưa ra gần đây là thang 
điểm đầu tiên chuyên biệt cho đánh giá đau 
trong bệnh Parkinson. Có nhiều nghiên cứu trên 
thế giới đánh giá đau ở bệnh nhân Parkinson, 
tuy nhiên chúng tôi chưa ghi nhận nghiên cứu 
nào khảo sát đau ở phân nhóm bệnh nhân 
Parkinson khởi phát sớm. Mục tiêu của nghiên 
cứu này là xác định tần suất của triệu chứng đau 
và các yếu tố liên quan đến triệu chứng đau dựa 
theo thang điểm đánh giá đau KPPS ở phân 
nhóm bệnh nhân Parkinson khởi phát sớm. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Tuổi khởi bệnh 21-40 tuổi. Bệnh nhân được 
chẩn đoán bệnh Parkinson theo tiêu chuẩn của 
MDS-2015 từ tháng 11 năm 2019 đến hết tháng 6 
năm 2020, tại phòng khám Bệnh Parkinson và 
rối loạn vận động, Bệnh viện Đại học Y Dược Tp. 
Hồ Chí Minh. Triệu chứng cần phải có để chẩn 
đoán bệnh Parkinson theo MDS-2015 là chậm cử 
động và ít nhất một trong hai triệu chứng run 
khi nghỉ, đơ cứng(7). 
Tiêu chẩn loại ra 
Điểm MMSE (Mini-Mental State 
Examination) ≤23(8). 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu cắt ngang mô tả. 
Biến số nghiên cứu 
Thang điểm KPPS được sử dụng để đánh giá 
triệu chứng đau(9). Thang điểm này bao gồm 07 
loại đau được ghi nhận ở bệnh nhân Parkinson 
là: đau cơ xương, đau rễ thần kinh, đau ban 
đêm, đau mạn tính, đau liên quan đến dao động 
vận động, đau do phù hoặc sưng và đau miệng 
mặt. Điểm của mỗi loại đau được tính bằng cách 
nhân tần suất đau (0-3) với độ nặng của đau (0-
4); điểm tối đa của mỗi loại đau là 12 điểm. Điểm 
KPPS tổng cộng là tổng điểm của 07 loại đau (0-
84 điểm). Người bệnh được xác định là có triệu 
chứng đau nếu có ít nhất một loại đau. Thang 
điểm MDS-UPDRS phần III và phần IV 
(Movement Disorder Society Unified 
Parkinson's Disease Rating Scale) giúp đánh giá 
các triệu chứng vận động và biến chứng vận 
động, thang điểm NMSS (Non-Motor Symtoms 
Scale) giúp đánh giá các triệu chứng ngoài vận 
động và thang điểm trầm cảm BECK (Beck 
Depression Inventory) được sử dụng để đánh 
giá mức độ trầm cảm của người bệnh(10,11,12). 
Thu thập và xử lý đữ liệu 
Các dữ liệu được thu thập là tuổi, tuổi khởi 
bệnh, giới, thời gian bệnh, triệu chứng, thuốc 
điều trị, và tình trạng biến chứng vận động. 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 
Chuyên Đề Thần Kinh - Da Liễu 131 
Các biến định tính bao gồm giới tính, giai 
đoạn bệnh (chia thành giai đoạn bệnh nhẹ và 
giai đoạn bệnh trung bình - nặng), điều trị 
levodopa, điều trị đồng vận dopamine và sự 
hiện diện của biến chứng vận động được phân 
tích dựa vào phép kiểm chi bình phương. Các 
biến định lượng bao gồm tuổi, tuổi khởi bệnh, 
thời gian bệnh, điểm MDS-UPDRS, NMSS, 
KPPS, BECK được phân tích dựa vào phép kiểm 
student. Hệ số tương quan hạng Spearman giữa 
điểm KPPS tổng cộng với các biến được phân 
tích. Đối với phân tích tương quan phần NMSS, 
mục đau được loại ra để tránh gây nhiễu. Phân 
tích hồi qui đa biến được tiến hành để đánh giá 
hệ số tương quan hiệu chỉnh. 
Y đức 
Nghiên cứu đã được thông qua Hội đồng 
Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại học Y 
Dược TP. Hồ Chí Minh, số 744/, ký ngày 12 
tháng 12 năm 2019. 
KẾT QUẢ 
Đặc điểm của dân số nghiên cứu 
Có 89 bệnh nhân tham gia nghiên cứu với 
52,8% nam và 47,2% nữ. Tuổi trung bình của dân 
số nghiên cứu là 42,15 ± 5,84 tuổi, tuổi khởi bệnh 
trung bình là 35,46 ± 3,96 tuổi (24-40 tuổi) và thời 
gian bệnh trung bình là 6,68 ± 4,48 năm. Điểm 
MDS-UPDRS phần III trung bình là 36 ± 13,7. 
34,8 % bệnh nhân ở giai đoạn bệnh nhẹ (giai 
đoạn Hoehn & Yarh 1 hoặc 2), 65,2 % bệnh nhân 
ở giai đoạn bệnh trung bình - nặng (giai đoạn 
Hoehn & Yarh ≥3). Tất cả các bệnh nhân đều 
đang được điều trị với các thuốc dopaminergic 
(91% có uống levodopa và 95,5% có uống đồng 
vận dopamine). 85,4% bệnh nhân có dao động 
vận động và 30,3% bệnh nhân có loạn động 
Tần suất đau, độ nặng của đau và các loại đau 
74,2% bệnh nhân có ít nhất một loại đau. Tần 
suất bệnh nhân có 01 loại, 02 loại, 03 loại và trên 
4 loại đau lần lượt là 21,3%, 21,3%, 13,5% và 
17,9%. Đau cơ xương phổ biến nhất (49,4%), tiếp 
theo đó là đau rễ thần kinh (31,5%), đau ban 
đêm (30,3%), đau mạn tính (28,1%), đau liên 
quan đến dao động vận động (21,3%), đau do 
sưng hoặc phù (18%) và đau miệng mặt (11,2%) 
(Bảng 1). Điểm KPPS trung bình của mẫu nghiên 
cứu là 10,78 ± 14,20 (0-69). 
Các yếu tố liên quan đến đau 
Tỉ lệ bệnh nhân có triệu chứng đau ở nhóm 
giai đoạn nhẹ và nhóm giai đoạn trung bình - 
nặng lần lượt là 67,7% và 79,3%. Phép kiểm chi 
bình phương ghi nhận không có mối liên quan 
giữa tần suất đau và giai đoạn bệnh (p=0,2). 
Bảng 1 mô tả sự phân bố của các loại đau dựa 
theo giai đoạn bệnh. Không có sự khác biệt về 
tần suất của từng loại đau theo giai đoạn bệnh. 
Điểm KPPS trung bình của nhóm giai đoạn 
nhẹ là 7,5 ± 12,4 và điểm KPPS trung bình của 
nhóm giai đoạn trung bình-nặng là 12,5 ± 14,9. 
Phân tích student ghi nhận không có sự tương 
quan có ý nghĩa thống kê giữa điểm KPPS và giai 
đoạn bệnh (p=0,11). Bảng 3 mô tả điểm KPPS của 
mỗi loại đau và so sánh điểm KPPS trung bình 
theo giai đoạn bệnh. Điểm KPPS của đau ban đêm 
(p=0,01) và đau rễ thần kinh (p=0,01) khác biệt có ý 
nghĩa thống kê theo giai đoạn bệnh. 
Bảng 1: Tần suất các loại đau của mẫu nghiên cứu 
chung và so sánh tần suất các loại đau theo độ nặng 
của bệnh 
Các loại đau 
Tần suất các loại đau 
P Tất cả bệnh 
nhân, n=89 
HY 1-2: 
Nhẹ, 
n=31 
HZ ≥3: 
Trung bình-
nặng, n=58 
Đau cơ xương 49,4 % 54,8% 46,6% 0,46 
Đau mạn tính 28,1% 29,0% 27,6% 0,89 
Đau liên quan đến 
dao động vận động 
21,3% 12,9% 25,8% 0,16 
Đau ban đêm 30,3% 19,4% 32,6% 0,18 
Đau miệng mặt 11,2% 9,7% 12,1% 0,73 
Đau do sưng hoặc 
phù 
18,0% 19,4% 17,2% 0,81 
Đau rễ thần kinh 31,5% 19,4% 37,9% 0,72 
Bảng 2: So sánh tần suất các loại đau theo giới tính 
Các loại đau 
Tần suất các loại đau 
theo giới tính P 
Nam, n=47 Nữ, n=42 
Đau cơ xương 51,1% 47,6% 0,8 
Đau mạn tính 27,7% 37,5% 0,9 
Đau liên quan đến dao 
động vận động 
25,5% 16,7% 0,3 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Thần Kinh - Da Liễu 132 
Các loại đau 
Tần suất các loại đau 
theo giới tính P 
Nam, n=47 Nữ, n=42 
Đau ban đêm 31,9% 23,8% 0,4 
Đau miệng mặt 10,6% 11,9% 0,9 
Đau do sưng hoặc phù 21,3% 14,3% 0,2 
Đau rễ thần kinh 36,2% 26,2% 0,3 
Bảng 4 so sánh các đặc điểm ở nhóm bệnh 
nhân có triệu chứng đau và nhóm bệnh nhân 
không có triệu chứng đau. Phân tích chi bình 
phương và student ghi nhận không có sự khác 
biệt ở hai nhóm bệnh nhân này về giới tính 
(p=0,8), tuổi (p=0,3), tuổi khởi bệnh (p=0,5), thời 
gian bệnh (p=0,5), giai đoạn Hoehn và Yard 
(p=0,1), sử dụng levodopa (p=0,99) và sử dụng 
đồng vận dopamine (p=0,3), dao động vận động 
(p=0,7), loạn động (p=0,4), MSD-UPDRS phần IV 
và điểm BECK (p=0,1). Tuy nhiên, điểm MDS-
UPDRS phần III cao hơn có ý nghĩa thống kê ở 
nhóm bệnh nhân có triệu chứng đau (p=0,02). 
Bên cạnh đó tần suất của các loại đau cũng 
không khác biệt ở nam và nữ (Bảng 2). 
Bảng 3: Điểm KPPS trung bình của từng loại đau và điểm KPPS chung theo giai đoạn bệnh 
Các loại đau 
Điểm KPPS trung bình 
P 
Tất cả bệnh nhân, n=89 
HY 1-2: 
Nhẹ, n=31 
HZ ≥3: 
Trung bình-nặng, n=58 
Đau cơ xương 2,6 ± 3,7 (0-12) 2,5 ± 3,3 2,7 ± 3,8 0,85 
Đau mạn tính 1,6 ± 3,2(0-13) 1,5 ± 3,0 1,6 ± 3,3 0,94 
Đau liên quan đến dao động vận động 1,8 ± 4,8 (0-32) 1,2 ± 3,7 2,2 ± 5,2 0,35 
Đau ban đêm 2,1 ± 4,1 (0-24) 0,9 ± 2.2 2,8 ± 4,8 0,01 
Đau miệng mặt 0,7 ± 2,6 (0-17) 0,5 ± 1,7 0,8 ± 2,9 0,53 
Đau do sưng hoặc phù 0,7 ± 2,0 (0-10) 0,5 ± 1,3 0,9 ± 2,3 0,36 
Đau rễ thần kinh 1,4 ± 2.6 (0-12) 0,6 ± 1.3 1,8 ± 3.0 0,01 
Tổng điểm KPPS 10,8 ± 14,2 (0-69) 7,5 ± 12,4 12,5 ± 14,9 0,11 
Bảng 4: So sánh các đặc điểm ở nhóm bệnh nhân đau và không đau 
Đặc điểm 
Nhóm có triệu chứng đau 
n=67 
Nhóm không có triệu chứng đau 
n=22 
P 
Giới 
Nam 
Nữ 
36 
31 
11 
11 
0,77 
Tuổi 42,5 ± 5,3 41,1 ± 5,3 0,30 
Tuổi khởi bệnh 35,6 ± 3,9 35,0 ± 4,2 0,49 
Thời gian bệnh 6,9 ± 4,4 6,2 ± 4,5 0,54 
Điều trị levodopa 
Có 
Không 
61 
6 
20 
2 
0,99 
Sử dụng đồng vận dopamine 
Có 
Không 
65 
2 
20 
2 
0,25 
Hoehn và Yahr 2,7 ± 0,6 2,5 ± 0,7 0,13 
Dao động vận động 
Có 
Không 
58 
9 
18 
4 
0,73 
Loạn động 
Có 
Không 
22 
45 
5 
17 
0,37 
MDS-UDPRS III 37,9 ± 12,9 30,2 ± 14,7 0,02 
MDS-UDPRS IV 3,2 ± 4,6 3,1 ± 5,7 0,96 
BECK 0,6 ± 0,5 0,4 ± 0,5 0,1 
Bảng 5 so sánh điểm KPPS trung bình theo 
giới, biến chứng vận động và điều trị thuốc. 
Phân tích student ghi nhận không có sự khác 
biệt có ý nghĩa thống kê giữa điểm KPPS theo 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 
Chuyên Đề Thần Kinh - Da Liễu 133 
giới tính, biến chứng vận động và điều trị thuốc 
Parkinson. 
Bảng 5: So sánh độ nặng của đau theo giới, biến 
chứng vận động và thuốc 
Đặc điểm KPPS trung bình P 
Giới 
Nam, n= 47 
Nữ, n= 42 
12,89 ± 17,31 
8,40 ±9,24 
0,126 
Dao động vận động 
Có, n= 76 
Không, n=13 
11,57 ± 14,84 
6,15 ± 8,69 
0,206 
Loạn động 
Có, n=27 
Không, n=62 
16,22 ± 18,99 
8,40 ± 10,87 
0,053 
Điều trị levodopa 
Có, n= 81 
Không, n= 8 
11,06 ± 14,54 
 7,88 ± 10,29 
0,548 
Đặc điểm KPPS trung bình P 
Điều trị đồng vận dopamine 
Có, n=85 
Không, n=4 
11,19 ± 14,39 
2 ± 2,3 
0,208 
Bảng 6 mô tả tương quan Spearman giữa 
điểm KPPS và các biến khác và hệ số tương quan 
hiệu chỉnh. Chúng tôi ghi nhận có mối tương 
quan trung bình giữa điểm NMSS tổng cộng 
(r=0,44), điểm NMSS của giấc ngủ/mệt mỏi 
(r=0,4) với điểm KPPS. Điểm NMSS tim mạch, 
điểm NMSS nhận thức/cảm xúc, điểm NMSS ảo 
giác, điểm NMSS dạ dày ruột và điểm BECK có 
mối tương quan yếu với KPPS. Tuy nhiên những 
biến này không đạt được sự khác biệt có ý nghĩa 
thống kê khi đưa vào mô hình phân tích hồi quy 
đa biến. 
Bảng 6: Hệ số tương quan Spearman với KPPS và hệ số tương quan hiệu chỉnh 
Biến 
Hệ số tương quan giữa KPPS 
 và các biến 
P 
Hệ số tương quan hiệu 
chỉnh 
P hiệu chỉnh 
Tuổi 0,113 0,293 
Tuổi khởi bệnh 0,189 0,076 
Thời gian bệnh -0,33 0,757 
MDS-UDPRS III 0,175 0,101 
MDS-UDPRS IV 0,174 0,104 
NMSS 
Tim mạch 
Giấc ngủ, mệt mỏi 
Nhận thức, cảm xúc 
Ảo giác 
Trí nhớ, tập trung 
Dạ dày ruột 
Tiết niệu 
Sinh dục 
Khác 
NMSS tổng cộng 
0,232 
0,397 
0,286 
0,227 
0,093 
0,279 
0,139 
0,184 
0,444 
0,436 
0,029 
<0,001 
0,007 
0,033 
0,388 
0,008 
0,194 
0,084 
0,06 
<0,001 
-0,30 
0,21 
0,12 
0,10 
0,23 
0,80 
0,08 
0,36 
0,33 
0,052 
Điểm BECK 0,239 0,024 0,20 0,08 
BÀN LUẬN 
Tần suất triệu chứng đau và các loại đau 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 74,2% bệnh 
nhân Parkinson khởi phát sớm có ít nhất 01 loại 
đau. Nghiên cứu tại bệnh viện quân y 103 của 
tác giả Phan Việt Nga ghi nhận tỉ lệ đau ở bệnh 
nhân Parkinson là 76,4%(13) . Một nghiên cứu cắt 
ngang trước đây trên thế giới, ghi nhận tần suất 
có triệu chứng đau ở bệnh nhân Parkinson là 
76%(3). Tần suất đau dao động từ 40% đến 85% 
trong các nghiên cứu một phần do các công cụ 
sử dụng đánh giá đau khác nhau, tần suất đau 
trung bình là 67,6%(1). 
Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận đau cơ 
xương (49,4%) là loại đau thường gặp nhất, theo 
sau đó là đau rễ thần kinh (31,5%). Đau miệng 
mặt (11,2%) là loại đau ít gặp nhất. Hầu hết các 
nghiên cứu trên thế giới cũng báo cáo đau cơ 
xương là loại phổ biến nhất, với tần suất 40% 
đến 75%(2,5,14,15). Bên cạnh đó, các nghiên cứu 
cũng ghi nhận đau rễ thần kinh là loại đau 
thường gặp ở bệnh nhân Parkinson. Tần suất 
đau rễ thần kinh trong nghiên cứu của 
Rodrıguez-Violante M là 34,6% và trong nghiên 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Thần Kinh - Da Liễu 134 
cứu của Broetz D là 36%(6,14). Đau miệng mặt 
cũng được ghi nhận là loại đau ít gặp nhất trong 
một nghiên cứu trước đây(6). 
Các yếu tố liên quan đến triệu chứng đau 
Nghiên cứu của chúng tôi và đa số các 
nghiên cứu trên thế giới đều ghi nhận không có 
sự khác biệt về tần suất đau và độ nặng của đau 
theo giới tính(5,6). Tuy nhiên, một số nghiên cứu 
báo cáo rằng tuần suất đau cao hơn ở nữ giới và 
giới nữ là một yếu tố tiên đoán đau trong bệnh 
Parkinson(16,17). 
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy không có 
mối liên quan giữa tần suất đau và độ nặng của 
đau theo tuổi và tuổi khởi phát. Kết quả này 
cũng tương tự với kết quả của hầu hết các 
nghiên cứu trên thế giới(2,18). Tuy nhiên, cũng có 
vài nghiên cứu ghi nhận nhóm bệnh nhân đau 
có tuổi trung bình thấp hơn và tuổi khởi bệnh 
trước 65 là một yếu tố nguy cơ của đau(4). 
Một điều thú vị là chúng tôi và đa số các tác 
giả không tìm thấy mối liên quan giữa tần suất 
đau cũng như là độ nặng của đau với giai đoạn 
bệnh và thời gian bệnh(2,17). Trong nghiên cứu 
của chúng tôi, tần suất của tất cả các loại đau 
không khác biệt có ý nghĩa theo giai đoạn bệnh, 
nhưng điểm MDS-UPDRS phần III cao hơn ở 
nhóm bệnh nhân có triệu chứng đau. Nghiên 
cứu của chúng tôi ghi nhận độ nặng của đau ban 
đêm (p=0,01) và đau rễ thần kinh (p=0,01) cao 
hơn có ý nghĩa ở nhóm bệnh nhân có giai đoạn 
bệnh trung bình-nặng. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tần suất 
đau và độ nặng của đau không liên quan đến 
biến chứng vận động và điều trị các thuốc 
dopaminergic. Nghiên cứu của tác giả Hanagasi 
M có kết quả tương tự như nghiên cứu của 
chúng tôi, nhưng nghiên cứu của Tinazzi HA 
cho kết quả trái ngược(5,18). 
Liên quan đến triệu chứng trầm cảm, chúng 
tôi ghi nhận không có sự khác biệt về điểm 
BECK ở hai nhóm bệnh nhân có đau và không 
đau. Tuy nhiên chúng tôi nhận thấy có mối 
tương quan yếu nhưng có ý nghĩa thống kê giữa 
độ nặng của đau và độ nặng của trầm cảm. Tác 
giả Rodriguez-Violante M ghi nhận nhóm bệnh 
nhân trầm cảm có điểm KPPS cao hơn nhưng 
nghiên cứu của tác giả Hanagasi M nhận thấy 
không có mối liên quan giữa triệu chứng đau và 
trầm cảm(6,18). Nghiên cứu của chúng tôi ghi 
nhận mối tương quan trung bình giữa điểm 
NMSS mệt mỏi/giấc ngủ với độ nặng của đau. 
Kết quả của chúng tôi tương tự với kết quả của 
tác giả Rodriguez-Violante M, nhưng trái ngược 
với kết quả của tác giả Hanagasi M(6,18). 
KẾT LUẬN 
Đau là một triệu chứng thường gặp ở bệnh 
nhân Parkinson khởi phát sớm. Đau cơ xương 
và đau rễ thần kinh là hai loại đau thường gặp 
nhất. Tuổi, tuổi khởi bệnh, giới tính, thời gian 
bệnh và độ nặng của bệnh không có mối liên 
quan với tần suất đau. Tuy nhiên nhóm bệnh 
nhân đau có điểm MDS-UPDRS phần III cao 
hơn. Độ nặng của đau ban đêm và đau rễ thần 
kinh liên quan với độ nặng của bệnh. Nghiên 
cứu cũng ghi nhận mối tương quan trung bình 
giữa điểm NMSS phần mệt mỏi/giấc ngủ với 
điểm KPPS. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Broen MP, Braaksma MM, Patijn J, et al (2012). Prevalence of 
pain in Parkinson's disease: a systematic review using the 
modified QUADAS tool. Mov Disord, 27(4):480-484. 
2. Lee MA, Walker RW, Hildreth TJ, et al (2006). A Survey of Pain 
in Idiopathic Parkinson's Disease. Journal of Pain and Symptom 
Management, 32(5):462-469. 
3. Valkovic P, Minar M, Singliarova H, et al (2015). Pain in 
Parkinson's Disease: A Cross-Sectional Study of Its Prevalence, 
Types, and Relationship to Depression and Quality of Life. 
PLoS ONE, 10(8):e0136541. 
4. Goetz CG, Tanner CM, Levy M, et al (1986). Pain in 
Parkinson's disease. Mov Disord, 1(1):45-54. 
5. Tinazzi M, Del Vesco C, Fincati E, et al (2006). Pain and motor 
complications in Parkinson's disease. J Neurol Neurosurg 
Psychiatry, 77(7):822-827. 
6. Rodriguez-Violante M, Alvarado-Bolanos A, Cervantes-
Arriaga A, et al (2017). Clinical Determinants of Parkinson's 
Disease-associated Pain Using the King's Parkinson's Disease 
Pain Scale. Mov Disord Clin Pract, 4(4):545-551. 
7. Postuma RB, Berg D, Stern M, et al (2015). MDS clinical 
diagnostic criteria for Parkinson's disease. Mov Disord, 
30(12):1591-601. 
8. Folstein MF, Folstein SE, McHugh PR (1975). A practical 
method for grading the cognitive state of patients for the 
clinician. J Psychiatr Res, 12(3):189-98. 
9. Chaudhuri KR, Rizos A, Trenkwalder C, et al (2015).King's 
Parkinson's disease pain scale, the first scale for pain in PD: An 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 
Chuyên Đề Thần Kinh - Da Liễu 135 
international validation. Mov Disord, 30(12):1623-31. 
10. Martinez-Martin P, Rodriguez-Blazquez C, Alvarez-Sanchez 
M, et al (2013).Expanded and independent validation of the 
Movement Disorder Society-Unified Parkinson's Disease 
Rating Scale (MDS-UPDRS). J Neurol, 260(1):228-36. 
11. Chaudhuri KR, Martinez-Martin P, Brown RG, et al (2007).The 
metric properties of a novel non-motor symptoms scale for 
Parkinson's disease: Results from an international pilot study. 
Mov Disord, 22(13):1901-11. 
12. Beck AT, Baruch E, Balter JM, et al (2004).A new instrument for 
measuring insight: the Beck Cognitive Insight Scale. Schizophr 
Res, 68(2-3):319-29 
13. Phan Việt Nga, Hoàng Thị Dung (2015). Nghiên cứu đặc điểm 
đau ở bệnh nhân Parkinson. Y Dược học Quân sự, 3:37-41. 
14. Broetz D, Eichner M, Gasser T, et al (2007). Radicular and 
nonradicular back pain in Parkinson's disease: a controlled 
study. Mov Disord, 22(6):853-859. 
15. Rana AQ, Kabir A, Jesudasan M, et al (2013). Pain in 
Parkinson's disease: analysis and literature review. Clin Neurol 
Neurosurg, 115(11):2313-2320. 
16. Barone P, Antonini A, Colosimo C, et al (2009). The PRIAMO 
study: A multicenter assessment of nonmotor symptoms and 
their impact on quality of life in Parkinson's disease. Mov 
Disord, 24(11):1641-1650. 
17. Beiske AG, Loge JH, Ronningen A, et al (2009). Pain in 
Parkinson's disease: Prevalence and characteristics. Pain, 141(1-
2):173-180. 
18. Hanagasi HA, Akat S, Gurvit H, et al (2011). Pain is common in 
Parkinson's disease. Clin Neurol Neurosurg, 113(1):11-14. 
Ngày nhận bài báo: 20/11/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 01/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021 

File đính kèm:

  • pdftrieu_chung_dau_o_benh_nhan_parkinson_khoi_phat_som_tan_suat.pdf