Trầm cảm ở phụ nữ mang thai và một số yếu tố liên quan tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội

Trầm cảm trong thai kỳ là một rối loạn tâm thần phổ biến ảnh hưởng

đến sức khỏe của mẹ và thai nhi. Mục tiêu của nghiên cứu là xác định

tỷ lệ trầm cảm trong mang thai và một số yếu tố liên quan đến trầm cảm

trong mang thai.

Phương pháp: Nghiên cứu sử dụng thiết kế nghiên cứu thuần tập với

1274 phụ nữ mang thai tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Những

phụ nữ này được phỏng vấn hai lần: lần đầu khi thai dưới 24 tuần và lần

thứ hai khi thai được 30 đến 34 tuần.

Kết quả: Tỷ lệ trầm cảm trong mang thai là 5% (95%CI: 3,77-6,16).

Các yếu tố liên quan với trầm cảm trong mang thai bao gồm bạo lực gia

đình, tiền sử thai lưu, lo âu trong mang thai và hỗ trợ gia đình trong khi

mang thai.

Kết luận: Những phát hiện này nhấn mạnh sự cần thiết phải sàng lọc

trầm cảm và các yếu tố nguy cơ trong khi mang thai ở những nơi chăm

sóc sẵn có để cải thiện sức khỏe bà mẹ và thai nhi.

pdf 6 trang phuongnguyen 240
Bạn đang xem tài liệu "Trầm cảm ở phụ nữ mang thai và một số yếu tố liên quan tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Trầm cảm ở phụ nữ mang thai và một số yếu tố liên quan tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội

Trầm cảm ở phụ nữ mang thai và một số yếu tố liên quan tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội
TRẦN THƠ NHỊ, NGUYỄN THỊ THÚY HẠNH, NGÔ VĂN TOÀN, NGUYỄN ĐỨC HINH
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
62
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Trần Thơ Nhị, Nguyễn Thị Thúy Hạnh, Ngô Văn Toàn, Nguyễn Đức Hinh
Trường Đại học Y Hà Nội
TRẦM CẢM Ở PHỤ NỮ MANG THAI 
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
TẠI HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 
Tóm tắt
Trầm cảm trong thai kỳ là một rối loạn tâm thần phổ biến ảnh hưởng 
đến sức khỏe của mẹ và thai nhi. Mục tiêu của nghiên cứu là xác định 
tỷ lệ trầm cảm trong mang thai và một số yếu tố liên quan đến trầm cảm 
trong mang thai. 
Phương pháp: Nghiên cứu sử dụng thiết kế nghiên cứu thuần tập với 
1274 phụ nữ mang thai tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Những 
phụ nữ này được phỏng vấn hai lần: lần đầu khi thai dưới 24 tuần và lần 
thứ hai khi thai được 30 đến 34 tuần. 
Kết quả: Tỷ lệ trầm cảm trong mang thai là 5% (95%CI: 3,77-6,16). 
Các yếu tố liên quan với trầm cảm trong mang thai bao gồm bạo lực gia 
đình, tiền sử thai lưu, lo âu trong mang thai và hỗ trợ gia đình trong khi 
mang thai.
Kết luận: Những phát hiện này nhấn mạnh sự cần thiết phải sàng lọc 
trầm cảm và các yếu tố nguy cơ trong khi mang thai ở những nơi chăm 
sóc sẵn có để cải thiện sức khỏe bà mẹ và thai nhi.
Từ khóa: Trầm cảm ở phụ nữ mang thai, yếu tố liên quan, yếu tố nguy 
cơ, tỷ lệ.
Abstract 
DEPRESSION AMONG PREGNANT WOMEN 
AND SOME RELATED FACTORS IN DONG ANH 
DISTRICT, HANOI CITY
Background: Depression during pregnancy is a common psychiatric 
disorder affecting health of both the mother and the unborn child. The 
objectives of this study were to estimate the prevalence of depression 
during pregnancy among pregnant women and to examine the 
associated risk factors.
Methods: The study was designed as a cohort study which included 
a total of 1274 pregnant women in Dong Anh district, Hanoi city. The 
women were interviewed in two surveys. The first one was conducted 
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Trần Thơ Nhị, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 15/03/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
10/04/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 20/04/2016
Từ khoá: Trầm cảm ở phụ nữ 
mang thai, yếu tố liên quan, yếu 
tố nguy cơ, tỷ lệ. 
Keywords: Depression during 
pregnancy, related factors, risk 
factors, prevalence.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Địa điểm, đối tượng, cỡ mẫu và 
thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại huyện Đông 
Anh, thành phố Hà Nội. Đây là một huyện ngoại 
thành, nằm trong vùng quy hoạch phát triển công 
nghiệp, đô thị, dịch vụ và du lịch và là đấu mối 
giao thông quan trọng nối Thủ đô với các tỉnh phía 
Bắc. Huyện có 23 xã, 1 thị trấn và hai bệnh viện 
Bắc Thăng Long và bệnh viện đa khoa Đông Anh. 
Đa số phụ nữ đến hai bệnh viện này để khám thai 
và sinh con. Theo thống kê từ hai bệnh viện năm 
2012, có 11.600 phụ nữ mang thai đến chăm sóc 
tiền sản và sinh con tại đây. 
Nghiên cứu này là một phần của nghiên cứu 
thuận tập, với tổng số 1.337 phụ nữ mang thai đã 
được mời tham gia nghiên cứu, và có 1.274 phụ nữ 
hoàn thành các cuộc phỏng vấn. Cỡ mẫu này được 
dùng để phân tích số liệu. 
2.2. Quy trình chọn mẫu
Tất cả phụ nữ mang thai từ 23 xã và 1 thị trấn 
thuộc huyện Đông Anh được mời tham gia nghiên 
cứu từ tháng 5/2014 đến tháng 5/2015. Những 
người tham gia nghiên cứu này được phỏng vấn 
hai lần: a) Tại thời điểm mời tham gia nghiên cứu 
khi thai được dưới 24 tuần; b) Khi thai nhi được 30 
đến 34 tuần.
Lần phỏng vấn 1: Danh sách phụ nữ mang thai 
dưới 24 tuần được các cộng tác viên dân số lập 
hàng tháng và gửi cho 6 điều tra viên của nghiên 
cứu. Họ là các cộng các viên dân số thuộc Trung 
tâm Dân số huyện Đông Anh và có kinh nghiệm 
làm nghiên cứu trước đó và có kỹ năng phỏng 
vấn và khai thác thông tin tốt. Họ sẽ liên hệ và 
mời những phụ nữ lên hai bệnh viện để khám thai 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 62 - 67, 2016
63
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
1. Đặt vấn đề
Trầm cảm là một rối loạn tâm thần thường gặp, 
đặc trưng bởi nỗi buồn, mất hứng thú hoặc niềm 
vui, ngủ không yên giấc hoặc chán ăn, cảm giác 
mệt mỏi, và kém tập trung [1]. Trầm cảm ở phụ nữ 
mang thai là khá phổ biến. Theo dự báo của Tổ 
chứ Y tế thế giới (WHO), vào năm 2020, rối loạn 
tâm thần sẽ là nguyên nhân đứng hàng thứ hai 
gánh nặng cho y tế toàn cầu [2]. Tỷ lệ trầm cảm 
trong mang thai dao động từ 9.1% đến 14.2% [3], 
[4]. Các nghiên cứu gần đây cho thấy trầm cảm 
trong mang thai có liên quan đến sinh non và nhẹ 
cân [5],[6]. Mặt khác, trầm cảm trong mang thai 
không được phát hiện và điều trị, có thể làm tăng 
nguy cơ bị bệnh tâm thần nặng, trầm cảm sau sinh 
và ảnh hưởng đến sự phát triển tinh thần và tính 
cách của trẻ trong tương lai [2], [7].
Hiện tại, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào 
trầm cảm sau sinh. Có một số nghiên cứu về trầm 
cảm ở phụ nữ mang thai, tuy nhiên nghiên cứu 
về trầm cảm và một số yếu tố liên quan còn hạn 
chế, chủ yếu là tập trung đo lường một yếu tố như 
bạo lực bạn tình trong mang thai [8], hoặc yếu tố 
sản khoa [9] hoặc một số yếu tố liên quan nhưng 
thực hiện trên các đối tượng khác nhau như phụ 
nữ mang thai ở vùng động đất [10] hay thực hiện 
ở phụ nữ mang thai bị HIV [11], hay ở vùng dân 
tộc thiểu số [12], và thực hiện ở bệnh viện [13]. 
Ở Việt Nam, có nhiều nghiên cứu về trầm cảm 
sau sinh, các nghiên cứu về trẩm cảm ở phụ mang 
thai và một số yếu tố liên quan còn hạn chế. Vì 
vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm 
xác định tỷ lệ trầm cảm ở phụ nữ mang thai và 
một số yếu tố liên quan, từ đó đề xuất các khuyến 
nghị thích hợp nhằm cải thiện sức khỏe sinh sản 
phu nữ và trẻ em.
when participants were at least 24 weeks gestation and the second when participants were from 30 
to 34 weeks gestation.
Results: The prevalence of depression during pregnancy was 14.2% (95%CI: 10.7-18.5) and 
associated factors included: domestic violence, history of stillbirth, anxiety during pregnancy and 
family support during pregnancy. 
Conclusions: The findings suggest the need of screening for depression and its risk factors during 
pregnancy settings where care is needed to improve the health of mothers and unborn child.
Key words: Depression during pregnancy, related factors, risk factors, prevalence.
TRẦN THƠ NHỊ, NGUYỄN THỊ THÚY HẠNH, NGÔ VĂN TOÀN, NGUYỄN ĐỨC HINH
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
64
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
và phỏng vấn. Nếu thai phụ nào không thể đến 
hai bệnh viện hoặc nhà quá xa hai bệnh viện thì 
nhóm nghiên cứu sẽ đến từng trạm y tế xã để tiến 
hành thu thập số liệu. Tại lần phỏng vấn này, thu 
thập các thông tin về tuổi, trình độ học vấn, nghề 
nghiệp, dân tộc, tôn giáo, nơi sinh, và lịch sử sinh 
sản và lo âu trong mang thai và các hành vi bạo 
lực do chồng. Kết thúc cuộc phỏng vấn, các điều 
tra viên hẹn các thai phụ cho lần phỏng vấn thứ 2. 
Tại lần phỏng vấn thứ 2: Thu thập các thông tin 
về trầm cảm, sức khỏe của thai phụ và hỗ trợ xã 
hội và gia đình.
2.3. Thang đo trầm cảm
Thang đo trầm cảm (EPDS) bao gồm 10 câu 
hỏi, mỗi câu hỏi gồm 4 lựa chọn trả lời, tính theo 
thang điểm từ 0 đến 3, trong đó: câu 1, 2 và 4: 
cách tính điểm cho các đáp án tăng dần từ 0 cho 
đáp án đầu tiên đến 3 cho đáp án cuối cùng; câu 
3, 5 -10 được cho điểm ngược lại, điểm số cho 
câu trả lời giảm dần từ 3 điểm cho đáp án đầu 
tiên đến 0 điểm cho đáp án cuối. Tổng điểm từ 0 
đến 30 điểm, điểm càng cao thì mức độ trầm trọng 
của trầm cảm càng tăng. Thang đo EPDS lần đầu 
tiên được dịch sang tiếng Việt và được đánh giá 
trên cộng đồng người Việt di cư ở Úc và cho điểm 
cắt 9/10 với độ nhạy là 100% và độ đặc hiệu là 
68,5% [14]. Gần đây, thang đo EPDS một lần nữa 
được thực hiện ở Việt Nam do Trung tâm nghiên 
cứu và đào tạo phát triển cộng đồng (RTCCD) thực 
hiện và đưa ra điểm cắt thấp hơn rất nhiều là 3/4 
với độ nhạy, độ đặc hiệu tương ứng là 69,7% và 
72,9% [15]. Ở nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng 
điểm cắt 9/10 là điểm cắt đã được khuyến nghị tại 
một số quốc gia có những nét tương đồng về văn 
hóa Việt Nam [16], [17], và cũng là điểm cắt đã 
được khuyến nghị cho cộng đồng người Việt Nam 
sống ở Úc [14].
2.4. Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu đã được thông qua Hội đồng đạo 
đức nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Y Hà 
Nội (Số 137, ngày 29 Tháng 11 năm 2013). Đối 
tượng tham gia nghiên cứu là hoàn toàn tự nguyện 
sau khi đã được thông báo về mục đích nghiên cứu 
và ký vào bản chấp thuận tham gia nghiên cứu. 
Những phụ nữ có dấu hiệu trầm cảm đã được cung 
cấp địa chỉ phòng khám, liên hệ với các bác sĩ tâm 
thần để giới thiệu họ đến tư vấn, khám và điều trị. 
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Đặc điểm chung của đối tượng 
tham gia nghiên cứu
Kết quả bảng 1 cho thấy: tuổi trung bình của 
phụ nữ là 26 tuổi (giao động từ 17 đến 47 tuổi). 
Hầu hết phụ nữ đã kết hôn và sống với chồng 
Các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu Số lượng (n) Tỷ lệ (%) 
Tuổi (n=1,274)
16-24 573 45,0
25-34 620 48,7
≥ 35 81 6,4
Nơi sinh (n=1,272)
Cùng xã thuộc huyện Đông Anh 610 47,9
Khác xã thuộc huyện Đông Anh 350 27,5
Khác huyện/tỉnh/thành phố 312 24,6
Nghề nghiệp (n=1,273)
Công chức/ viên chức/ nhân viên công ty tư nhân 408 32,0
Công nhân 349 27,4
Nông dân 166 13,0
Buôn bán nhỏ 181 14,2
Thất nghiệp/nội trợ/sinh viên 169 13,3
Trình độ học vấn (n=1,274)
Mù chữ/tiểu học 24 1,9
PTCS 228 17,9
PTTH 465 36,5
Trung cấp/cao đẳng/đại học 557 43,7
Tình trạng hôn nhân (n=1,273)
Đã kết hôn và sống cùng với nhau 1,267 99,5
Đã kết hôn nhưng sống riêng 3 0,2
Chưa kết hôn nhưng sống cùng nhau 2 0,2
Có quan hệ tình dục nhưng không sống cùng 1 0,1
Điều kiện sống (n=1,274)
Sống riêng 356 27,9
Sống cùng bố mẹ đẻ 62 4,9
Sống cùng bố mẹ chồng 856 67,2
Lịch sử sinh sản:
Tuổi mang thai lần đầu (n=1,273)
<20 258 20,3
20-29 973 76,4
≥30 42 3,3
Số lần mang thai (n=1273)
1 lần 515 40,5
2 lần 345 27,1
3 lần 232 18,2
>4 lần 181 14,2
Thai lưu (n=715)
Có 124 17,3
Không 591 82,7
Nạo thai (n=729)
Có 190 26,1
Không 539 73,9
Mang thai ngoài ý muốn (n=1273)
Có 344 27,0
Không 929 73,0
Bảng 1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
(99,5%); hơn một nửa đã hoàn thành giáo dục 
cơ bản (56,3%) và 73,2% phụ nữ có việc làm. 
Về lịch sử sinh sản: tuổi mang thai lần đầu từ 
20 đến 29 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất 76,4%. Tỷ 
lệ thai lưu là 17,3% và tỷ lệ nạo thai và mang 
thai ngoài ý muốn chiếm tỷ lệ lần lượt là 26,1% 
và 27%.
3.2. Tỷ lệ trầm cảm trong mang thai
Tỷ lệ trầm cảm trong mang thai là 5%. Các dấu 
hiệu chủ yếu của trầm cảm trong mang thai được 
phụ nữ báo cáo là: lo âu và lo sợ một cách vô cớ; 
tự đỗ lỗi cho bản thân khi sự việc xảy ra không như 
mong muốn; cảm giác buồn rầu đến mức khó ngủ; 
cảm thấy công việc ngập đầu. 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 62 - 67, 2016
65
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Các yếu tố Trầm cảm 
Không 
trầm 
cảm
Phân tích đơn biến Phân tích đa biến
OR (95%CI) p AOR (95%CI) p
Bạo lực gia đình (n=1.274) 
Có 34 (54,0) 416 (34,5) 2.2 (1,34-3,71) 0.002 2,5 (1,19-5,34) 0.016
Không 29 (46,0) 790 (65,5) 1 1
Tuổi của phụ nữ (năm) (n=1269) 
<24 25 (39,7) 420 (34,8) 1,3 (0,67-2,41) 0,469 1,2 (0,43-3,31) 0,737
25-29 22 (34,9) 445 (36,9) 1,1 (0,54-2,04) 0,877 1,2 (0,51-2,78) 0,684
≥30-34 16 (25,4) 341 (28,3) 1 1
Nghề nghiệp (n=1268)
Công chức/ viên chức nhà nước 7 (11,1) 195 (16,2) 1 1
Nhân viên công ty tư nhân 13 (20,6) 191 (15,9) 1,9 (0,74-4,86) 0,182 1,5 (0,40-5,82) 0,534
Công nhân 16 (25,4) 330 (27,4) 1,4 (0,55-3,34) 0,515 1,1 (0,29-4,46) 0,844
Nông dân 11 (17,5) 155 (12,9) 2,0 (0,75-5,22) 0,169 1,5 (0,35-6,69) 0,567
Buôn bán nhỏ 7 (11,1) 174 (14,4) 1.1 (0,39-3,26) 0,834 0,8 (0,16-4,19) 0,818
Thất nghiệp/nội trợ/sinh viên 9 (14,3) 160 (13,4) 1,6 (0,57-4,30) 0,383 1,2 (0,25-5,89) 0,812
Trình độ học vấn (n=1,269)
Mù chữ/tiểu học 1 (1,6) 23 (1,9) 1,0 (0,67-2,15) 0.967 1,1 (0,46-2,69) 0,811
PTCS 14 (22,2) 214 (17,7) 1,4 (0,73-2,84) 0,290 0,9 (0,32-2,74) 0,912
PTTH 24 (38,1) 440 (36,5) 1,2 (0,67-2,15) 0,533 0,6 (0.06-6,23) 0,664
Trung cấp/cao đẳng/đại học 24 (38,1) 529 (43,9) 1 1
Lịch sử sinh sản
Thai lưu
Có 14 (32,6) 110 (16,4) 2,5 (1,26-4,79) 0,009 3,3 (1,47-7,60) 0,004
Không 29 (67,4) 559 (83,6) 1 1
Nạo thai (n=726)
Có 9 (21,4) 181 (26,5) 0,8 (0,36-1,61) 0.473 0,6 (0,25-1,61) 0,335
Không 33 (78,6) 503(73,5) 1 1
Sảy thai (n=743)
Có 6 (14,6) 158 (22,5) 0,6 (0,24-1,43) 0,242 0,8 (0,32-2,11) 0,682
Không 35 (85,4) 544 (77,5) 1 1
Lo âu trong mang thai (n=1269)
≥8 30 (47,6) 215 (17,8) 4,2 (2.50-7.01) 0.000 3,3 (1,57-6,95) 0,002
<8 33 (52.4) 991 (82,2) 1 1
Hỗ trợ của gia đình (n=1,266) 
Không 14 (22,2) 46 (3,8) 7.19 (3.70-13.95) 0.000 5,7 (2,22-14,42) 0,000
Có 49 (77,8) 1157(96,2) 1 1
Bảng 2. Một só yếu tố liên quan đến trầm cảm trong mang thai
3.3. Một sô yếu tố liên quan đến trầm 
cảm trong mang thai
Bảng 2 chỉ ra mối liên quan giữa một số yếu 
tố nguy cơ và trầm cảm trong mang thai. Kết quả 
phân tích đa biến cho thấy những thai phụ bị bạo 
lực trong mang thai thì nguy cơ bị trầm cảm trong 
mang thai cao gấp gần 3 lần khi so sánh với những 
thai phụ không bị bạo lực (OR: 2,5; 95%CI: 1,19-
5,34). Nghiên cứu còn cho thấy, những thai phụ 
có tiền sử bị thai lưu thì nguy cơ bị trầm cảm trong 
mang thai cao gấp hơn 3 lần khi so sánh với những 
thai phụ không bị tiền sử thai lưu (OR: 3,3; 95%CI: 
1,47-7,60). Mặt khác, những thai phụ có lo âu 
trong mang thai thì nguy cơ bị trầm cảm cao gấp 
hơn 3 lần so với những thai phụ không lo âu trong 
mang thai (OR: 3,3; 95%CI: 1,57-6,95). Những 
thai phụ không được gia đình hỗ trợ trong mang 
thai thì nguy cơ bị trầm cảm cao gấp gần 6 lần so 
với những thai phụ được gia đình hỗ trợ (OR: 5,7; 
95%CI: 2,22-14,42).
4. Bàn luận
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trầm cảm 
trong mang thai là 5%. Tỷ lệ này nằm trong khoảng 
4% đến 23,1% phụ nữ mang thai bị trầm cảm [18], 
[19]. Tỷ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu được 
tiến hành ở Malaysia và Brazil cho tỷ lệ trầm cảm 
trong mang thai lần lượt là 9,1% và 14% [13], [20]. 
Sở dĩ có sự khác nhau về tỷ lệ trầm cảm là do khác 
nhau về phương pháp nghiên cứu, khác nhau về 
lựa chọn đối tượng nghiên cứu ở cộng đồng hay 
bệnh viện và khác nhau về thời gian đo lường trầm 
cảm trong mang thai. Mặt khác, các nghiên cứu sử 
dụng cùng một thang đo trầm cảm (EPDS) nhưng 
sử dụng điểm cắt khác nhau. 
Một phát hiện thứ hai trong nghiên cứu của 
chúng tôi về một số yếu liên quan đến trầm cảm 
trong mang thai bao gồm: yếu tố bạo lực gia đình, 
tiền sử thai lưu, lo âu trong mang thai và hỗ trợ gia 
đình trong khi mang thai. Kết quả phân tích đa 
biến chỉ ra rằng các yếu tố này kết hợp mạnh mẽ 
với trầm cảm trong mang thai. Phát hiện này phù 
hợp với các nghiên cứu phân tích và tổng hợp về 
các yếu tố nguy cơ liên quan đến trầm cảm trong 
mang thai [18], [19], [21]. 
Theo một số nghiên cứu cho thấy, bạo lực gia 
đình/bạo lực bạn tình trong mang thai ảnh hưởng 
TRẦN THƠ NHỊ, NGUYỄN THỊ THÚY HẠNH, NGÔ VĂN TOÀN, NGUYỄN ĐỨC HINH
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
66
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
mạnh mẽ đến trầm cảm ở thai phụ. Nếu phụ nữ 
mang thai bị bạo lực bạn tình thì nguy cơ bị trầm 
cảm cao hơn những phụ nữ không bị bạo lực trong 
mang thai [22], [23], [24]. 
 Mặt khác, các nghiên cứu cũng chỉ ra một yếu 
tố quan trọng khác là thiếu sự hỗ trợ xã hội, hỗ trợ 
của gia đình ảnh hưởng đến trầm cảm trong mang 
thai. Nếu thai phụ không được hỗ trợ trong khi 
mang thai thì nguy cơ bị trầm cảm cao hơn những 
phụ nữ được hỗ trợ từ xã hội, gia đình [19], [25], 
[26]. Đặc biệt trong bối cảnh văn hóa Việt Nam, 
mang thai là giai đoạn nhạy cảm và phụ nữ cần 
được hỗ trợ nhiều từ xã hội và các thành viên trong 
gia đình đặc biệt là chồng hoặc bạn tình. 
Một yếu tố quan trọng khác kết hợp mạnh mẽ 
với trầm cảm trong mang thai là lo âu trong mang 
thai. Kết quả của chúng tôi chỉ ra những thai phụ 
có lo âu trong mang thai thì nguy cơ bị trầm cảm 
cao gấp hơn 3 lần so với những thai phụ không lo 
âu trong mang thai. Phát hiện này phù hợp với kết 
quả của một nghiên cứu phân tích tổng hợp cho 
thấy lo âu trong mang thai kết hợp mạnh mẽ với 
trầm cảm trước sinh kể cả phân tích đơn biến và 
đa biến [25].
Ngoài các phát hiện trên, nghiên cứu của 
chúng tôi còn chỉ ra yếu tố tiền sử thai lưu kết hợp 
mạnh mẽ với trầm cảm trong mang thai. Kết quả 
này giống như trong nghiên cứu của Abiodun trên 
phụ nữ mang thai ở Nigerian [26]. Phụ nữ có tiền 
sử thai lưu thì nguy cơ bị trầm cảm cao gấp 8 lần 
khi so sánh với phụ nữ không bị thai lưu (OR: 8,0, 
95%CI: 1,70–37,57).
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy không có 
mối liên quan giữa các yếu tố như trình độ học 
vấn thấp, thất nghiệp và tuổi của thai phụ và trầm 
cảm trong mang thai. Phát hiện này cũng tương tự 
như một nghiên cứu hệ thống chỉ ra không có mối 
tương quan này khi phân tích đa biến [25]. Trong 
một nghiên cứu phân tích tổng hợp khác lại cho 
kết quả những thai phụ trẻ tuổi thì nguy cơ bị trầm 
cảm trước sinh cao hơn khi so với những thai phụ 
lớn tuổi hơn [19].
Hạn chế của nghiên cứu: Trầm cảm là chủ đề 
nhạy cảm mà có khả năng sẽ làm cho một số phụ 
nữ không tiết lộ kinh nghiệm của họ dẫn đến có 
thể ảnh hưởng đến việc ước lượng tỷ lệ. Mặt khác, 
việc đánh giá trầm cảm ở phụ nữ mang thai là dựa 
vào phụ nữ tự báo cáo chứ không phải là đánh giá 
lâm sàng. 
5. Kết luận
Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng trầm 
cảm là khá phổ biến ở phụ nữ mang thai, với 
một tỷ lệ tương đương với các nước trong khu 
vực. Một số yếu tố liên quan chặt chẽ với trầm 
cảm ở thai kỳ bao gồm bạo lực gia đình, tiền sử 
thai lưu, lo âu trong mang thai và hỗ trợ gia đình 
trong khi mang thai. 
Tài liệu tham khảo
1. World Health Organization. ICD-10, international statistical 
classification of diseases and related health problems, tenth revision. 
World Health Organization; 1992. 
2. World Health Organisation Staff. World Health Report, 2001: Mental 
Health: New Understanding, New Hope. Albany, NY, USA: World Health 
Organization; 01. 
3. Ajinkya S, Jadhav P, Srivastava N. Depression during pregnancy: 
Prevalence and obstetric risk factors among pregnant women attending 
a tertiary care hospital in Navi Mumbai. Ind. Psychiatry J. 2013;22:37–40. 
4. Pereira PK, Lovisi GM, Pilowsky DL, Lima LA, Legay LF. Depression 
during pregnancy: prevalence and risk factors among women attending a 
public health clinic in Rio de Janeiro, Brazil. Cad. Saúde Pública [Internet]. 
2009 [cited 2016 Mar 30];25:2725–2736. Available from: 
scielo.br/scielo.php?pid=S0102-311X2009001200019&script=sci_arttext
5. Grote NK, Bridge JA, Gavin AR, Melville JL, Iyengar S, Katon WJ. 
A meta-analysis of depression during pregnancy and the risk of preterm 
birth, low birth weight, and intrauterine growth restriction. Arch. Gen. 
Psychiatry. 2010;67:1012–24. 
6. Vigod S, Villegas L, Dennis C-L, Ross L. Prevalence and risk factors for 
postpartum depression among women with preterm and low-birth-weight 
infants: a systematic review: Risk of postpartum depression in mothers 
of preterm and low-birth-weight infants. BJOG Int. J. Obstet. Gynaecol. 
[Internet]. 2010 [cited 2016 Mar 30];117:540–50. Available from: 
wiley.com/10.1111/j.1471-0528.2009.02493.x
7. Gaillard A, Le Strat Y, Mandelbrot L, Keïta H, Dubertret C. Predictors 
of postpartum depression: Prospective study of 264 women followed 
during pregnancy and postpartum. Psychiatry Res. [Internet]. 2014 [cited 
2015 Nov 28];215:341–6. Available from: 
retrieve/pii/S0165178113006513
8. Jackson CL, Ciciolla L, Crnic KA, Luecken LJ, Gonzales NA, Coonrod 
DV. Intimate Partner Violence Before and During Pregnancy Related 
Demographic and Psychosocial Factors and Postpartum Depressive 
Symptoms Among Mexican American Women. J. Interpers. Violence 
[Internet]. 2015 [cited 2015 Oct 4];30:659–679. Available from: 
sagepub.com/content/30/4/659.short
9. Ajinkya S, Jadhav PR, Srivastava NN. Depression during pregnancy: 
Prevalence and obstetric risk factors among pregnant women attending 
a tertiary care hospital in Navi Mumbai. Ind. Psychiatry J. [Internet]. 2013 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 62 - 67, 2016
67
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
[cited 2016 Mar 29];22:37–40. Available from: 
gov/pmc/articles/PMC3895310/
10. Depression and its risk factors among pregnant women in 2008 
Sichuan earthquake area and non-earthquake struck area in China. J. 
Affect. Disord. 2013;151:566. 
11. Yu L, Li W-Y, Chen RY, Tang Z-R, Pang J, Gui X-Z, et al. Pregnancy 
outcomes and risk factors for low birth weight and preterm delivery among 
HIV-infected pregnant women in Guangxi, China. Chin. Med. J. (Engl.). 
2012;125:403–9. 
12. Shakeel N, Eberhard-Gran M, Sletner L, Slinning K, Martinsen EW, 
Holme I, et al. A prospective cohort study of depression in pregnancy, 
prevalence and risk factors in a multi-ethnic population. BMC Pregnancy 
Childbirth [Internet]. 2015 [cited 2016 Mar 30];15:5. Available from: http://
www.biomedcentral.com/1471-2393/15/5
13. Fadzil A, Balakrishnan K, Razali R, Sidi H, Malapan T, Japaraj RP, 
et al. Risk factors for depression and anxiety among pregnant women 
in H ospital T uanku B ainun, I poh, M alaysia. Asia-Pacific Psychiatry. 
2013;5:7–13. 
14. Barnett B, Matthey S, Gyaneshwar R. Screening for postnatal 
depression in women of non-English speaking background. Arch. Womens 
Ment. Health [Internet]. 1999 [cited 2015 Oct 2];2:67–74. Available from: 
15. Tran TD, Tran T, La B, Lee D, Rosenthal D, Fisher J. Screening for 
perinatal common mental disorders in women in the north of Vietnam: A 
comparison of three psychometric instruments. J. Affect. Disord. [Internet]. 
2011 [cited 2015 Oct 31];133:281–93. Available from: 
elsevier.com/retrieve/pii/S0165032711001376
16. Edingburgh Depression Scale Translated Gov Western Australia 
Dept Health copy.pdf. 
17. Gibson J, McKenzie-McHarg K, Shakespeare J, Price J, Gray 
R. A systematic review of studies validating the Edinburgh Postnatal 
Depression Scale in antepartum and postpartum women. Acta Psychiatr. 
Scand. [Internet]. 2009 [cited 2015 Nov 13];119:350–64. Available from: 
18. Mosack V, Shore ER. Screening for Depression Among Pregnant and 
Postpartum Women. J. Community Health Nurs. [Internet]. 2006 [cited 
2016 Mar 30];23:37–47. Available from: 
abs/10.1207/s15327655jchn2301_4
19. Schatz DB, Hsiao M-C, Liu C-Y. Antenatal Depression in East Asia: 
A Review of the Literature. Psychiatry Investig. [Internet]. 2012 [cited 
2016 Apr 13];9:111. Available from: 
php?id=10.4306/pi.2012.9.2.111
20. Pereira PK, Lovisi GM, Pilowsky DL, Lima LA, Legay LF. Depression 
during pregnancy: prevalence and risk factors among women attending a 
public health clinic in Rio de Janeiro, Brazil. Cad. Saúde Pública [Internet]. 
2009 [cited 2016 Mar 29];25:2725–2736. Available from: 
scielo.br/scielo.php?pid=S0102-311X2009001200019&script=sci_arttext
21. Gavin NI, Gaynes BN, Lohr KN, Meltzer-Brody S, Gartlehner 
G, Swinson T. Perinatal depression: a systematic review of 
prevalence and incidence. Obstet. Gynecol. [Internet]. 2005 [cited 
2016 Mar 30];106:1071–1083. Available from: 
com/greenjournal/Abstract/2005/11000/Perinatal_Depression__A_
Systematic_Review_of.27.aspx
22. Ludermir AB, Lewis G, Valongueiro SA, de Araújo TVB, Araya R. 
Violence against women by their intimate partner during pregnancy and 
postnatal depression: a prospective cohort study. The Lancet [Internet]. 
2010 [cited 2015 Oct 4];376:903–910. Available from: 
sciencedirect.com/science/article/pii/S0140673610608872
23. Godoy-Ruiz P, Toner B, Mason R, Vidal C, McKenzie K. Intimate 
Partner Violence and Depression Among Latin American Women in 
Toronto. J. Immigr. Minor. Health [Internet]. 2014 [cited 2015 Oct 2]; 
Available from: 
24. Rodriguez M, Heilemann M, Fielder E, Ang A, Nevarez F, Mangione 
C. Intimate partner violence, depression, and PTSD among pregnant 
Latina women. Ann. Fam. Med. 2008;6:44–52. 
25. Lancaster CA, Gold KJ, Flynn HA, Yoo H, Marcus SM, Davis MM. 
Risk factors for depressive symptoms during pregnancy: a systematic 
review. Am. J. Obstet. Gynecol. [Internet]. 2010 [cited 2016 Mar 
30];202:5–14. Available from: 
S000293780901014X
26. Adewuya AO, Ola BA, Aloba OO, Dada AO, Fasoto OO. Prevalence 
and correlates of depression in late pregnancy among Nigerian women. 
Depress. Anxiety [Internet]. 2007 [cited 2016 Apr 9];24:15–21. Available 
from: 

File đính kèm:

  • pdftram_cam_o_phu_nu_mang_thai_va_mot_so_yeu_to_lien_quan_tai_h.pdf