Tổng quan: Vai trò carbetocin trong điều trị dự phòng băng huyết sau sinh
Băng huyết sau sinh là một trong năm tai biến sản khoa, là nguyên nhân hàng đầu của
gây tử vong mẹ, đặc biệt tỷ lệ này cao ở các nước đang phát triển. Một trong những Mục
tiêu phát triển Thiên niên kỷ 2000 là giảm ¾ các trường hợp tử vong mẹ vào năm 2015.
Để thực hiện được mục tiêu đó, điều tất yếu phải đạt được là giảm được tỷ lệ tử vong
mẹ liên quan đến băng huyết sau sinh, và trọng tâm là ở các nước đang phát triển. Một
trong những nguyên nhân hàng đầu gây băng huyết sau sinh là đờ tử cung do vậy các
chiến lược hiện nay đang áp dụng trong dự phòng băng huyết sau sinh chủ yếu là sử
dụng các thuốc tăng cường sự co bóp, co hồi tử cung sau mổ lấy thai và sau sinh đường
âm đạo. Oxytocin hiện là thuốc được sử dụng rộng rãi trên thế giới trong dự phòng và
điều trị băng huyết sau sinh tuy nhiên có thời gian tác dụng ngắn, do vậy bắt buộc phải
sử dụng liên tục. Carbetocin là chất đồng vận của Oxytocin, đã được chúng minh có độ
dung nạp tốt, an toàn và với thời gian tác dụng kéo dài. Các bằng chứng cho thấy liều
sử dụng Carbetocin đơn liều đường tĩnh mạch có hiệu quả trong dự phòng băng huyết
sau sinh ở sản phụ mổ lấy thai và những sản phụ sinh đường âm đạo có nguy cơ đờ tử
cung cao. Với các kết quả đầy hứa hẹn từ các nghiên cứu, Carbetocin có thể trở thành
thuốc được lựa chọn để phòng ngừa Băng huyết sau sinh.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Tổng quan: Vai trò carbetocin trong điều trị dự phòng băng huyết sau sinh
Cao Ngọc Thành/Nguyễn Vũ Quốc Huy/Lê Minh Tâm/Trần Mạnh Linh l 7
TOÅNG QUAN
VAI TRÒ CARBETOCIN TRONG
ĐIỀU TRỊ DỰ PHÒNG BĂNG HUYẾT SAU SINH
*Cao Ngọc Thành*, Nguyễn Vũ Quốc Huy*, Lê Minh Tâm*, Trần Mạnh Linh*
Tóm tắt
Băng huyết sau sinh là một trong năm tai biến sản khoa, là nguyên nhân hàng đầu của
gây tử vong mẹ, đặc biệt tỷ lệ này cao ở các nước đang phát triển. Một trong những Mục
tiêu phát triển Thiên niên kỷ 2000 là giảm ¾ các trường hợp tử vong mẹ vào năm 2015.
Để thực hiện được mục tiêu đó, điều tất yếu phải đạt được là giảm được tỷ lệ tử vong
mẹ liên quan đến băng huyết sau sinh, và trọng tâm là ở các nước đang phát triển. Một
trong những nguyên nhân hàng đầu gây băng huyết sau sinh là đờ tử cung do vậy các
chiến lược hiện nay đang áp dụng trong dự phòng băng huyết sau sinh chủ yếu là sử
dụng các thuốc tăng cường sự co bóp, co hồi tử cung sau mổ lấy thai và sau sinh đường
âm đạo. Oxytocin hiện là thuốc được sử dụng rộng rãi trên thế giới trong dự phòng và
điều trị băng huyết sau sinh tuy nhiên có thời gian tác dụng ngắn, do vậy bắt buộc phải
sử dụng liên tục. Carbetocin là chất đồng vận của Oxytocin, đã được chúng minh có độ
dung nạp tốt, an toàn và với thời gian tác dụng kéo dài. Các bằng chứng cho thấy liều
sử dụng Carbetocin đơn liều đường tĩnh mạch có hiệu quả trong dự phòng băng huyết
sau sinh ở sản phụ mổ lấy thai và những sản phụ sinh đường âm đạo có nguy cơ đờ tử
cung cao. Với các kết quả đầy hứa hẹn từ các nghiên cứu, Carbetocin có thể trở thành
thuốc được lựa chọn để phòng ngừa Băng huyết sau sinh.
Abstract
Carbetocin for preventing postpartum haemorrhage
Postpartum haemorrhage is one of five obstetric complications and it is the most common
cause of maternal mortality, particularly in developing countries. One of the Millennium
Development Goals set by the United Nations in 2000 is to reduce maternal mortality by
three-quarters by 2015. If this is to be achieved, maternal deaths related to postpartum
haemorrhage (PPH) must be signifcantly reduced. In most cases, uterine atony is responsible
TẠP CHÍ PHỤ SẢN - 10(3), 7-15, 2012
8 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
for the occurrence of excessive bleeding during or following childbirth. So, current strategies
for preventing postpartum haemorrhage include the prophylactic use of uterotonic agents
to enhance natural uterine contraction and retraction following caesarean section and in
the third stage of labour for vaginal delivery. Oxytocin is the most widely used uterotonic
agent, but only has a half-life so short and must be administered as a continuous intravenous
infusion. Carbetocin is a long-acting synthetic analogue of oxytocin, safe and well tolerated.
There is evidence to suggest that single-dose intravenous Carbetocin effective in the
prevention of PPH in women undergoing caesarean deliveries and vaginal birth with high
risk of uterine atony. With shoulder promising results from these studies, carbetocin may
become the drug of choice for preventing postpartum haemorrhage
(*) Bộ môn Phụ sản trường Đại học Y Dược Huế
Đặt vấn đề
Băng huyết sau sinh (BHSS) là một
trong năm tai biến sản khoa, là nguyên
nhân của 25% các trường hợp tử vong
mẹ. Theo WHO 2006, thống kê trong
116 nghiên cứu tại 50 quốc gia trong giai
đoạn 1997 – 2000, tỷ lệ BHSS thấp nhất là
0,55% tại Qatar và cao nhất là 17,5% tại
Honduras. Hàng năm có khoảng 529.000
phụ nữ tử vong trong quá trình mang
thai và sinh đẻ trong đó khoảng 100.000
trường hợp tử vong do nguyên nhân
BHSS, đặc biệt trong đó khoảng 99% lại
xẩy ra ở các nước đang phát triển. Thậm
chí ở một số Quốc gia, tỷ lệ tử vong mẹ
do BHSS chiếm hơn 50% so với tỷ lệ tử
vong chung, cụ thể tại Indonesia 43%,
Philippine và Guatemala là 53% [5-14]. Ở
Việt Nam, thống kê Viện Bảo vệ Bà mẹ và
trẻ sơ sinh trong những năm 1986 – 1990
tử vong do BHSS chiếm đến 27%, tỷ lệ
này giảm nhanh xuống còn 1,3% ở các
năm 1996 – 2001[6].
Khoảng 60% các trường hợp tử vong mẹ
trong thai kỳ xẩy ra ở thời kỳ hậu sản và gần
một nửa trong đó là xẩy ra trong vòng 24 giờ
đầu sau sinh liên quan đến giai đoạn 3 của
chuyển dạ (thời kỳ bong, sổ rau) và BHSS.
Ở những sản phụ bình thường, trung bình
lượng máu mất ở giai đoạn này dưới 300ml.
BHSS được định nghĩa là khi lượng máu
mất xuất phát từ ống đẻ lớn hơn hoặc bằng
500ml trong vòng 24 giờ sau sinh, và BHSS
nặng là khi lượng máu mất từ 1.000ml trở
lên. Một trong những Mục tiêu phát triển
Thiên niên kỷ 2000 là giảm ¾ các trường
hợp tử vong mẹ vào năm 2015, tức là tỷ lệ
tử vong mẹ do BHSS giảm còn khoảng 400
trường hợp trên 100.000 sinh sống. Để thực
hiện được mục tiêu đó, điều tất yếu phải
đạt được là giảm được tỷ lệ tử vong mẹ liên
quan đến BHSS, và trọng tâm là ở các nước
đang phát triển [5-14-15].
Dự phòng BHSS là một trong những
trọng tâm của vấn đề. Mặc dù BHSS là một
biến chứng có thể xảy ra có tính bất ngờ, đột
ngột, xảy ra ngay sau khi sổ thai, trong thời
kỳ bong và sổ rau hoặc cả trong thời kỳ hậu
sản tuy nhiên các biện pháp dự phòng BHSS
luôn tỏ ra có hiệu quả. Dự phòng tốt trước
các trường hợp có yếu tố nguy cơ BHSS, xử
trí tích cực ngay giai đoạn bong và sổ rau để
hạn chế tình trạng mất máu sau sinh, phát
hiện và xử trí kịp thời, hữu hiệu các trường
hợp BHSS là những biện pháp để góp phần
giảm tỷ lệ tử vong mẹ do BHSS.
Cao Ngọc Thành/Nguyễn Vũ Quốc Huy/Lê Minh Tâm/Trần Mạnh Linh l 9
Các thử nghiệm có những bằng chứng
hữu ích trong dự phòng BHSS đã được
khuyến cáo áp dụng như xử trí tích cực giai
đoạn 3 chuyển dạ [9]. Bên cạnh đó, các thuốc
sử dụng trong chuyển dạ nhằm phòng ngừa
BHSS cũng không ngừng nghiên cứu và
thử nghiệm. Từ trước đến nay Oxytocin là
lựa chọn hàng đầu vì có tác dụng nhanh,
hiệu quả và giá thành hợp lý, Ergometrin,
Misoprosstol cũng đã được nghiên cứu và
đưa vào sử dụng trong dự phòng và điều
trị BHSS. Carbetocin bắt đầu được áp dụng
trong dự phòng BHSS trên thế giới từ năm
2004 [13], là chất đồng vận của Oxytocin,
đã được chứng minh có độ dung nạp tốt,
an toàn và với thời gian tác dụng kéo dài
Carbetocin hứa hẹn mang lại những hiệu
quả mới trong dự phòng BHSS.
Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ
Băng huyết sau sinh là nguyên nhân phổ
biến nhất trên toàn thế giới tử vong mẹ. Hầu
hết các trường hợp mắc và tử vong do BHSS
thường xảy ra trong 24 giờ đầu sau sinh. Về
mặt thời gian, BHSS được phân loại thành
BHSS nguyên phát tức là chảy máu trong
vòng 24 giờ sau sinh nguyên nhân thường
liên quan đến rối loạn co bóp tử cung, rối
loạn bong sổ rau, chấn thương đường sinh
dục, rối loạn đông chảy máu và lộn lòng tử
cung. BHSS thứ phát là mất máu xảy ra từ
thời điểm sau 24 giờ sau sinh đến 6 tuần,
thường liên quan đến sót tổ chức rau, màng
ối, nhiễm trùng, do bong các mô chết từ ống
đẻ (có thể cổ tử cung, âm đạo, hiếm gặp từ
bàng quang, trục tràng) và do chảy máu từ
các thương tổn cấu trúc do trong mổ lấy
thai, mổ vỡ tử cung bảo tồn [14].
Đờ tử cung là nguyên nhân thường
gặp nhất đã được xác định gây BHSS, đờ
tử cung còn phục hồi khi tình trạng cơ tử
cung bị giảm trương lực, tử cung co hồi kém
nhưng còn đáp ứng với các kích thích cơ học
và thuốc. Đờ tử cung không hồi phục khi
cơ tử cung không còn đáp ứng với các kích
thích cơ học và thuốc. Các yếu tố nguy cơ
đờ tử cung gây BHSS chủ yếu gồm mang
thai lớn và mang thai nhiều lần. Tuy nhiên,
BHSS có thể xảy ra ở bất cứ phụ nữ nào mà
không hề có yếu tố nguy cơ trên lâm sàng
cũng như tiền sử trước đó. Nguy cơ đờ tử
cung ở những trường hợp:
- Sản phụ suy nhược, thiếu máu, tăng
huyết áp, tiền sản giật...
- Nhược cơ tử cung do chuyển dạ kéo
dài.
- Tử cung giãn quá mức do song thai, đa
ối, thai to.
- Tử cung mất trương lực sau khi đẻ quá
nhanh.
- Sót rau, màng rau trong buồng tử cung
- Bất thường tử cung: u xơ, tử cung dị
dạng.
- Đờ tử cung do sử dụng thuốc: Sau gây
mê bằng các thuốc mê họ Halothane, sử
dụng Betamimetic, dùng ôxytôxin không
liên tục sau khi sổ thai.
Các thuốc co hồi tử cung trong dự phòng
và điều trị BHSS
Chiến lược hiện nay đang áp dụng trong
dự phòng BHSS chủ yếu là sử dụng các thuốc
tăng cường sự co bóp, co hồi tử cung sau mổ
lấy thai và sau sinh đường âm đạo [13].
Oxytocin
Oxytocin hiện là thuốc được sử dụng
rộng rãi nhất, từ trước đến nay là lựa chọn
hàng đầu trong dự phòng và điều trị BHSS
vì tác dụng gây co tử cung nhanh, an toàn
và giá thành hợp lý. Oxytocin tổng hợp
hoạt động như hormon tự nhiên được sản
xuất bởi thùy sau của tuyến Yên, nhưng
Oxytocin tổng hợp lại không có các tác dụng
phụ như các chế phẩm tự nhiên. Tác dụng
10 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
Oxytocin dựa trên kích thích gián tiếp lên
co bóp cơ trơn tử cung bằng cách làm tăng
tính thấm natri của sợi tơ cơ tử cung. Sau
khi tiêm tĩnh mạch Oxytocin, tử cung đáp
ứng hầu như ngay lập tức và giảm xuống
trong vòng 1 giờ, đối với tiêm bắp, thời gian
tử cung đáp ứng trong vòng 3 – 5 phút [8-
13]. Khả năng dự phòng và kiểm soát sự chảy
máu do đờ tử cung trong điều trị BHSS ở giai
đoạn 3 chuyển dạ cũng như dự phòng trong
mổ lấy thai đã được khẳng định và áp dụng
rộng rãi trên thế giới. Tuy nhiên, Oxytocine
bị phá huỷ bởi enzym chymotrypsin tại hệ
tiêu hóa nên không được dùng đường uống
và nhược điểm quan trọng là thời gian tác
dụng ngắn nên để đạt được hiệu quả gây co
cơ tử cung cần thiết đòi hỏi phải lặp lại liều
tác dụng hoặc truyền duy trì liên tục trong
quá trình điều trị. Điều đó gây bất lợi và tăng
các nguy cơ như ngộ độc nước, quá tải dịch
truyền. Trong cơ thể Oxytocin cũng dễ bị phá
huỷ bởi enzym peptidase, nên thời gian tác
dụng ngắn. Thời gian bán hủy chỉ từ 4 đến
10 phút, và kéo dài 2 – 3 giờ sau sử dụng [10].
Ergometrin và Prostaglandins
Ergometrin là ergot alkaloids cũng đã
được chứng minh có hiệu quả gây co cơ tử
cung, làm giảm mất máu và ngăn ngừa BHSS
và thời gian tác dụng kéo dài hơn Oxytocin.
Sử dụng Ergometrin tiêm bắp trong xử trí
tích cực giai đoạn 3 chuyển dạ có liên quan
với giảm đáng kể nguy cơ băng huyết sau
sanh nặng (<1000 ml máu mất) so với tiêm
bắp oxytocin [13]. Mặc dù Ergometrin tiêm
bắp cũng không kém phần hiệu quả như
Oxytocin truyền tĩnh mạch. Tuy nhiên, thời
gian bắt đầu tác dụng của Ergometrin chậm
hơn Oxytocin và bị hạn chế sử dụng do có
nhiều tác dụng phụ bao gồm nôn, tăng huyết
áp do sự kích thích co cơ trơn và co mạch đặc
biệt khi sử dụng đường tiêm tĩnh mạch.
Prostaglandins là nhóm hợp chất được
enzyme hóa từ các acid béo, là một chất trung
gian có nhiều hiệu ứng sinh lý như co dãn
các cơ trơn. Sản phẩm hiện này đang được
sử dụng khá phổ biến là Misoprostol, một
chất đồng vận tổng hợp của Prostaglandin
E1( PGDE1), cũng được đề xuất sử dụng
đề phòng BHSS. Tuy nhiên, sử dụng
Misoprosstol đường miệng hoặc đường trực
tràng đã được chứng minh có hiệu quả thấp
hơn so với các thuốc khác trong dự phòng
chảy máu ồ ạt sau sinh đường âm đạo và
liên quan đến tỷ lệ sốt, rét run sau sử dụng
đặc biệt là tình trạng sốt cao [6-13]. Chính
những yếu tố này làm cho Misoprostol
không phù hợp cho dự phòng thường quy
BHSS ở các nước đang phát triển, mặc dù
chi phí thấp và dễ sử dụng.
Carbetocin
Carbetocin là một đồng vận nonapeptide
tổng hợp của Oxytocin tác dụng kéo dài với
các đặc tính của chất chủ vận, được mô tả từ
năm 1987 và hiện đang được áp dụng trong
dự phòng BHSS trên nhiều quốc gia. Các đặc
tính lâm sàng và dược lý học của Carbetocin
giống với các đặc tính của Oxytocin có trong
tự nhiên. Carbetocin gắn vào thụ thể Oxytocin
có trên cơ trơn tử cung, dẫn đến hiện tượng
co cơ tử cung, làm tăng tần số các cơn co hiện
có và làm tăng trương lực tử cung. Thuốc có
thời gian bán hủy dài hơn từ 4 đến 10 lần so
với Oxytocin nên tác dụng co cơ tử cung kéo
dài hơn. Giống như Oxytocin, Carbetocin bắt
đầu có tác dụng co cơ tử cung sau tiêm tĩnh
mạch hoặc tiêm bắp 1 đến 2 phút. Toàn bộ
thời gian tác dụng trên hoạt tính của tử cung
khi tiêm tĩnh mạch một liều đơn Carbetocin
là khoảng 1 giờ, 2 giờ nếu tiêm bắp. Điều
đó cho thấy Carbetocin có thể tác động kéo
dài đủ để ngăn ngừa xuất huyết hậu sản
trong giai đoạn ngay sau khi sinh và so với
Oxytocin. Carbetocin tạo ra đáp ứng co tử
cung kéo dài khi được dùng sau khi sinh, cả
Cao Ngọc Thành/Nguyễn Vũ Quốc Huy/Lê Minh Tâm/Trần Mạnh Linh l 11
về cường độ lẫn tần số các cơn co tử cung.
Liều Carbetocin được sử dụng trong giai
đoạn III là một liều duy nhất 100 microgram
tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch.Với liều đơn
này, Carbetocin có hiệu quả tương tự như
truyền Oxytocin tĩnh mạch liên tục trong
16giờ để phòng ngừa đờ tử cung trong mổ
lấy thai hoặc sau sinh [4-13].
1 - ( { ( 4 R , 7 S , 1 0 S , 1 3 S , 1 6 S , 1 9 R ) - 1 9 - a m i n o -
7 - ( 2 - a m i n o - 2 - o x o e t h y l ) - 1 0 - ( 3 - a m i n o - 3 -
oxopropyl)- 16-(4-hydroxybenzoyl)- 13-[(1S)-1-
methylpropyl]- 6,9,12,15,18-pentaoxo- 1,2-dithia-
5,8,11,14,17-pentaazacycloicosan-4-yl}carbonyl)-
L-prolyl- L-leucylglycinamide
(2S)-1-[(3S,6S,9S,12S,15S)-12-[(2S)-butan-2-yl]-9-
(2-carbamoylethyl)-6-(carbamoylmethyl)-15-[(4-
hydroxyphenyl)methyl]-16-methyl-5,8,11,14,17-
pentaoxo-1-thia-4,7,10,13,16-pentazacycloicosane-3-
carbonyl]-N-[(1S)-1-(carbamoylmethylcarbamoyl)-
3-methyl-butyl]pyrrolidine-2-carboxamide
CarbetocinOxytocin
Hình 1. Cấu trúc phân tử của Carbetocin và Oxytocin
Các hạn chế sử dụng Carbetocin tương
tự như Oxytocin, không dùng trong trường
hợp quá mẫn với Oxytocin, những bệnh
nhân bị bệnh mạch máu, đặc biệt là bệnh
động mạch vành. Sử dụng Carbetocin không
đúng trong khi có thai trên lý thuyết có thể
có các triệu chứng giống quá liều Oxytocin
bao gồm cả quá kích thích tử cung với các
cơn co mạnh, tăng trương lực hoặc kéo dài,
giảm tưới máu tử cung – rau, chậm nhịp tim
thai. Do thời gian tác dụng dài nên không thể
dừng các cơn co tử cung tạo ra do Carbetocin
bằng cách ngừng dùng thuốc. Vì vậy không
được bắt đầu sử dụng Carbetocin trước khi
sinh nhưng có thể được dùng trước hoặc
sau khi sổ rau. Những trường hợp không có
cơn co tử cung đầy đủ sau khi tiêm một liều
đơn Carbetocin, khuyến cáo đưa ra là không
nên dùng lặp lại Carbetocin và có thể điều
trị tích cực hơn bằng cách dùng thêm liều
của các thuốc khác làm tăng trương lực tử
cung như Oxytocin hoặc Ergometrin.
Sử dụng Carbetocin trong dự phòng BHSS
Dự phòng BHSS sau mổ lấy thai
Carbetocin được chấp thuận sử dụng
ở 23 quốc gia trong dự phòng đờ tử cung
và BHSS năng sau mổ lấy thai có gây tê
tủy sống hoặc gây tê ngoài màng cứng.
Một nghiên cứu mù đôi ở Canada trên 57
sản phụ so sánh hiệu quả dự phòng BHSS
và an toàn của Carbetocin và Oxytocin trên
nhóm sản phụ mổ lấy thai. Liều duy nhất
Carbetocin 100 microgram đường tĩnh mạch
và truyền tĩnh mạch Oxytocin trong 16 giờ
(32.5IU Oxytocin) nhằm kiểm soát lượng
máu mất sau mổ. Kết quả không có sự khác
biệt về lượng máu mất trung bình giữa hai
nhóm, tuy nhiên số lượng sản phụ mất
máu ≥ 200ml ở nhóm sử dụng Carbetocin
(53%) ít hơn nhóm sử dụng Oxytocin (79%),
(p=0,041). Một nghiên cứu khác trên 694 sản
phụ cũng tại Canada cho thấy Carbetocin
liều 100 microgram tĩnh mạch có hiệu quả
hơn truyền liên tục Oxytocin 20IU liên
12 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
tục trong 8 giờ để dự phòng BHSS ở sản
phụ mổ lấy thai và cũng giảm đáng kể các
can thiệp hơn Oxytocin [2]. Một nghiên
cứu khác tại Mexico đánh giá vai trò của
Carbetocin và Oxytocin trong dự phòng
BHSS ở nhóm sản phụ mổ lấy thai có nguy
cơ cao đờ tử cung. Yếu tố nguy cơ bao gồm
thai to, đa ối, đa thai, mang thai nhiều lần,
viêm màng ối, chuyển dạ kéo dài, u xơ tử
cung. Có 77 sản phụ sử dụng carbetocin
và 75 sản phụ dùng Oxytocin. Kết quả cho
thấy có giảm đáng kể sản phụ đờ tử cung
ở nhóm dùng Carbetocin (8%) so với nhóm
dùng Oxytocin (19%), (p < 0,0001). Mất
máu trên 500ml chỉ quan sát có ở nhóm
dùng Oxytocin [1-8].
Dự phòng BHSS sản phụ sinh đường
âm đạo
Một nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng
trên 180 sản phụ theo dõi sinh đường âm
đạo có trên một yếu tố nguy cơ đờ tử cung
tại Canada. Nhóm dùng Carbetocin 100
microgram tiêm bắp, 83 sản phụ, và nhóm
dùng Oxtocin truyền tĩnh mạch 2 giờ, 10 đơn
vị, 77 sản phụ. Kết quả không có sự khác biệt
giữ hai nhóm về sử dụng thêm các thuốc
go tử cung nhưng giảm có ý nghĩa nhu cầu
xoa bóp tử cung ở nhóm dùng Carbetocin
(43,4%) so với nhóm dùng Oxytocin (62,3%),
(p <0,025). Các thay đổi khác không có ý
nghĩa về Hemoglobin, hematocrite 24 giờ
sau sinh giữa hai nhóm [3-9].
Tính an toàn
Carbetocin tương tự Oxytocin. Tuy
nhiên, tỷ lệ nhức đầu nhóm dùng Carbetocin
(7,2%) thấp hơn 2 lần với Oxytocin (14,3%).
Không gặp triệu chứng nôn và buồn nôn
ở nhóm dùng Carbetocin. Ngược lại, đau
bụng chỉ được báo cáo ở sản phụ dùng
Carbetocin (6%). So sánh các tác dụng phụ
với Carbetocin, nhóm Ergometrin tăng gấp
ba lần tỷ lệ buồn nôn và nôn. Phừng mặt và
đau ở chỗ tiêm chỉ được báo cáo ở nhóm
dùng Ergometrin (2% và 0,7%). Tăng huyết
áp tại thời điểm 30 và 60 phút sau khi dùng
là 5,3% và 4% ở nhóm Ergometrin, trong khi
tăng huyết áp không quan sát thấy trong
nhóm Carbetocin [2-10]. Một nghiên cứu
mù đôi của tác giả Moertl và cộng sự tiến
hành trên 56 sản phụ mổ lấy thai được gây
tê tủy sống so sánh chi tiết tác động huyết
động của Carbetocin và Oxytocin. Kết quả
cho thấy không có sự khác biệt có nghĩa
thống kê về tác động huyết động của hai loại
thuốc. Tác động tối đa được ghi nhận sau 30-
40 giây: nhịp tim tăng 17,98 ± 2,53 nhịp/phút
ở nhóm Oxytocin và 14,20 ± 2,45 nhịp/phút
ở nhóm Carbetocin. Huyết áp tâm thu giảm
26,80 ± 2,82 mmHg ở nhóm Oxytocin so
với 22,98 ± 2,75 mmHg ở nhóm Carbetocin.
Sau thời điểm tác dụng tối đa, nhịp tim và
huyết áp của bệnh nhân ở nhóm Carbetocin
dần trở về giá trị khởi điểm mà không gây
triệu chứng gì, trong khi ở nhóm bệnh nhân
Oxytocin có ghi nhận nhịp tim chậm (giảm
6,8 ± 1,92 nhịp/phút) ở thời điểm 200 giây
sau khi tiêm. Độ an toàn là tương đương ở
hai nhóm bệnh nhân, không có các tác dụng
bất lợi khác được ghi nhận [8].
Phân tích Cochrane
Để xác đánh giá hiệu quả của chất đồng
vận của Oxytocin sử dụng gây co hồi tử
cung trong phòng ngừa BHSS cũng như
đánh giá đường dùng, liều lượng tối ưu,
phân tích Cochrane 2007 dựa trên dữ liệu
Thư viện Cochrane 2006, Số 2, MEDLINE
từ 1966 đến tháng 6 năm 2006 và EMBASE
từ 1974 đến tháng 6 năm 2006. Bốn nghiên
cứu trên 1.037 phụ nữ trong đó 3 nghiên
cứu ở những trường hợp mổ lấy thai và một
nghiên cứu ở đối tượng sinh thường đường
âm đạo. Nguy cơ BHSS là giống nhau giữa
hai nhóm sử dụng Oxytocin và Carbetocin
ở những đối tượng nghiên cứu. Kết quả sử
Cao Ngọc Thành/Nguyễn Vũ Quốc Huy/Lê Minh Tâm/Trần Mạnh Linh l 13
dụng Carbetocin làm giảm có ý nghĩa thống
kê về nhu cầu sử dụng thêm các liệu pháp
co hồi tử cung trong nhóm mổ lấy thai so
với sử dụng Oxytocin (RR 0.44;KTC 95%,
0.25 to 0.78) tuy nhiên lại không có ý nghĩa
trong nhóm sinh đường âm đạo. Carbetocin
cũng liên quan đến giảm nhu cầu xoa bóp
tử cung ở hai nhóm sinh đường âm đạo và
mổ lấy thai (RR 0.38; 95% CI,18-0,80) và
(RR 0,70; KTC95%, 0,51-0,94). Tuy nhiên,
về liều lượng kết quả nghiên cứu cũng
chỉ ghi nhận trong một nghiên cứu mổ
lấy thai và duy nhất một nghiên cứu sinh
đường âm đạo. Số liệu tổng hợp từ các thử
nghiệm đã không cho thấy sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê về các tác dụng phụ
giữa Carbetocin và Oxytocin. Kết luận đưa
ra là Carbetocin liều lượng 100 microgram
đường tĩnh mạch là hiệu quả tương đương
Oxytocin trong dự phòng BHSS. Tuy nhiên
Carbetocin làm giảm nhu cầu sử dụng
thêm các thuốc gây co hồi tử cung và nhu
cầu xoa bóp tử cung, chưa đủ bằng chứng
về các tác dụng không mông muốn giữa
Oxytocin và Carbetocin [12].
Tiếp tục dựa trên các bằng chứng, phân
tích Cochrance 2012 dựa trên dữ liệu Thư
viện Cochrane 2011, số 4, Issue 1, MEDLINE
từ 1966 đến 1 tháng 3 năm 2011 và EMBASE
từ 1974 đến 1 tháng 3 năm 2011 [12]. Các dữ
liệu lựa chọn là những thử nghiệm ngẫu
nhiên có đối chứng so sánh chất chủ vận
Oxytocin (Carbetocin) với các tác nhân co hồi
tử cung khác hoặc với giả dược hoặc không
điều trị trong dự phòng BHSS. Bao gồm 11
thử nghiệm trên 2.635 phụ nữ. Có sáu thử
nghiệm so sánh Carbetocin và Oxytocin
trong đó gồm bốn thử nghiệm nghiên cứu
trên các đối tượng mổ lấy thai và một thử
nghiệm trên những đối tượng theo dõi sinh
đường âm đạo và một thử nghiệm không nêu
rõ phương thức sinh rõ ràng. Liều Carbetocin
trong các thử nghiệm là 100 microgram
đường tĩnh mạch trong khi đó Oxytocin sử
dụng đường tĩnh mạch với các liều lượng
khác nhau. Bốn thử nghiệm khác so sánh
tiêm bắp Carbetocin đường và tiêm bắp
Ergometrin ở những thai nữ theo dõi chuyển
dạ sinh đường âm đạo. Ba thử nghiệm được
tiến hành trên những sản phụ không có nguy
cơ BHSS và chỉ một thử nghiệm được tiến
hành trên những sản phụ có nguy cơ BHSS.
Một thử nghiệm khác so sánh Carbetocin
đường tĩnh mạch và giả dược.
Kết quả trong 4 thử nghiệm với 1.173
sản phụ, sử dụng Carbetocin là giảm có ý
nghĩa nhu cầu sử dụng các thuốc gây co
hồi tử cung khác ở nhóm mổ lấy thai (RR
0.62; KTC 95%, 0.44 - 0.88). Tuy nhiên lại
không có ý nghĩa ở nhóm sinh đường âm
đạo. So sánh với nhóm sử dụng Oxytocin,
Carbetocin liên quan đến giảm nhu cầu
xoa bóp tử cung ở cả hai nhóm mổ lấy thai
trong (RR 0.54; KTC95%, 0.37 - 0.79, hai thử
nghiệm với 739 sản phụ) và sinh đường âm
đạo (RR 0.70; KTC95%, 0.51 - 0.94, một thử
nghiệm với 160 sản phụ). Số liệu tổng hợp
cũng cho thấy Carbetocin làm giảm nguy
cơ BHSS so với Oxytocin ở những sản phụ
mổ lấy thai (RR 0,55; KTC 95% 0,31-0,95, ba
thử nghiệm với 820 sản phụ). Tuy vậy, vẫn
còn giới hạn về số lượng cũng như nguy cơ
sai lệch trong các nghiên cứu. So sách giữa
Carbetocin và Ergometrin cho thấy nhóm
sử dụng Carbetocin có lượng máu mất
trung bình ít hơn nhóm sử dụng Ergometrin
(MD-mean difference: -48.84ml; KTC 95%,
-94.82 to -2.85, trong bốn thử nghiệm trên
1.030 sản phụ). Nhu cầu sử dụng các thuốc
gây co hồi tử cung là không khác nhau ở hai
nhóm này. Về mức độ an toàn, nguy cơ tác
dụng phụ như buồn nôn và nôn thấp hơn
đáng kể trong nhóm sử dụng Carbetocin:
buồn nôn RR 0,24, KTC 95%, 0,15-0,40,
14 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012
nôn: RR 0.21; KTC 95%, 0,11-0,39, bốn thử
nghiệm, 1.030 phụ nữ. Tỷ lệ tăng huyết áp
sau sinh thấp hơn có ý nghĩa ở những sản
phụ sử dụng Carbetocin với nhóm sử dụng
Ergometrin.
Kết luận
Các kết quả đầy hứa hẹn từ các nghiên
cứu cho thấy rằng Carbetocin có thể trở
thành thuốc được lựa chọn để phòng ngừa
BHSS. Có bằng chứng cho thấy liều sử dụng
Carbetocin 100 microgram đường tĩnh mạch
hiệu quả hơn so với oxytocin để dự phòng
BHSS ở sản phụ mổ lấy thai và những sản
phụ sinh đường âm đạo có nguy cơ đờ tử
cung cao. Carbetocin có liên quan với lượng
máu mất ít hơn so với Ergometrin trong dự
phòng BHSS ở sản phụ theo dõi sinh đường
âm đạo và tác dụng phụ cung ít hơn so với
Ergometrin. Tuy nhiên cần thiết có thêm
những thử nghiệm để củng cố thêm kết
quả này và những nghiên cứu phân tích về
hiệu quả kinh tế của Carbetocin khi áp dụng
trong lâm sàng để dự phòng BHSS.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Attilakos G, Psaroudakis D, Ash
J, Buchanan R, Winter C, Donald
F, Hunt LP, Draycott T, Carbetocin
versus oxytocin for the prevention of
postpartum haemorrhage following
caesarean section: the results of a
double-blind randomised trial. BJOG.
2010;117:929-936.
2. Boucher M, Horbay GLA, Griffin P,
Deschamps Y, Desjardins C, Schulz
M, Wassenar W, Double-blind,
randomized comparison of the
effect of carbetocin and oxytocin on
intraoperative blood loss and uterine
tone of patients undergoing cesarean
section. J Perinatol 1998;18:202–7.
3. Boucher M, Nimrod CA, Tawagi GF,
Meeker TA, Rennicks White RE, Vann J,
Comparison of carbetocin and oxytocin
for the prevention of postpartum
haemorrhage following vaginal delivery:
a double-blind randomized trial. J Obstet
Gynecol Can 2004;26:481-8.
4. Huỳnh Thị Kim Chi, Lê Anh Tài,
So sánh hiệu quả của Duratocin và
Oxytocin trong phòng ngừa băng
huyết sau sinh. Tạp chí Phụ sản.
2011;9(3):35-39
5. Christopher B-Linch, Loius G.Keith,
Andre B.Lalonde, Mahantesh Karosi,
A Texbook of Postpartum hemorrhage.
Sapiens Publishing 2006:2-17
6. Văn Thị Kim Huê, Đánh giá hiệu quả
của phương pháp xử trí tích cực giai
đoạn 3 của chuyển dạ trong dự phòng
băng huyết sau sinh. Tạp chí Phụ sản.
2012.10(1):37-44
7. Leung SW, Ng PS, Wong WY, Cheung
TH. A randomized trial of carbetocin
versus syntometrine in the management
of the third stage of labour. BJOG
2006;113:1459–64.
8. Moertl M.G, Friedrich S, Kraschl J,
Wadsack C, Lang C, Schlembach D,
Haemodynamic effects of carbetocin
and oxytocin given as intravenous
bolus on women undergoing caesarean
delivery: a randomised trial. BJOG 2011;
DOI: 10.1111/j.1471-0528.2011.03022.x.
9. Prendiville W, Elbourne D, Chalmers
I, The effects of routine oxytocic
administration in the management of
the third stage of labor: an overview of
the evidence from controlled clinical
Cao Ngọc Thành/Nguyễn Vũ Quốc Huy/Lê Minh Tâm/Trần Mạnh Linh l 15
trials. Br J Obstet Gynecol. 1988;95:3-16.
10. Rath W, Prevention of postpartum
haemorrhage with the oxytocin
analogue Carbetocin.Eur J
Obstet Gynecol Reprod Biol. 2009
Nov;147(1):15-20.
11. Su LL, Chong YS, Samuel M,
Carbetocin for preventing postpartum
haemorrhage.Cochrane Database Syst
Rev. 2012 Feb 15;2:CD005457.
12. Su LL, Chong YS, Samuel M, Oxytocin
agonists for preventing postpartum
haemorrhage.Cochrane Database Syst
Rev. 2007 Jul; 18(3):CD005457.
13. Werner Rath, Prevention of postpartum
haemorrhage with the oxytocin
analogue carbetocin. European Journal
of Obstetrics & Gynecology and
Reproductive Biology. 2009; 147: 15–20
14. Who, Managing postpartum
haemorrhage. Education material for
teachers of midwifery: midwifery
education modules. 2nd. 2008.
15. Who, WHO guidelines for the
management of postpartum haemorrhage
and retained placenta. 2009.
File đính kèm:
tong_quan_vai_tro_carbetocin_trong_dieu_tri_du_phong_bang_hu.pdf

