Tồn tại động mạch hông và các bệnh lý liên quan

Tồn tại động mạch hông là một bất thường giải phẫu hiếm gặp, tần suất khoảng 0,025- 0,04% dân số. Ở thời kỳ phôi thai học, động mạch hông chỉ xuất hiện trong quá trình phát triển ở thời kỳ sớm của phôi thai và thoái triển hoàn toàn khi xuất hiện động mạch đùi nông. Nghiên cứu này thông báo hai trường hợp tồn tại động mạch hông đã gặp tại bệnh viện Việt Đức giai đoạn 2012-2013 nhằm mục đích đánh giá về đặc điểm hình ảnh, triệu chứng lâm sàng, bệnh lý liên quan đến sự tồn tại của động mạch hông và chiến lược điều trị các bệnh lý đó

pdf 7 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Tồn tại động mạch hông và các bệnh lý liên quan", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Tồn tại động mạch hông và các bệnh lý liên quan

Tồn tại động mạch hông và các bệnh lý liên quan
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 6 - THÁNG 2/2014 
 26
TỒN TẠI ĐỘNG MẠCH HÔNG VÀ CÁC BỆNH LÝ LIÊN QUAN 
 Trần Văn Lượng *, Lê Thanh Dũng *, Đoàn Quốc Hưng ** 
TÓM TẮT: Tồn tại động mạch hông là một bất 
thường giải phẫu hiếm gặp, tần suất khoảng 0,025-
0,04% dân số. Ở thời kỳ phôi thai học, động mạch 
hông chỉ xuất hiện trong quá trình phát triển ở thời 
kỳ sớm của phôi thai và thoái triển hoàn toàn khi 
xuất hiện động mạch đùi nông. Nghiên cứu này 
thông báo hai trường hợp tồn tại động mạch hông 
đã gặp tại bệnh viện Việt Đức giai đoạn 2012-2013 
nhằm mục đích đánh giá về đặc điểm hình ảnh, triệu 
chứng lâm sàng, bệnh lý liên quan đến sự tồn tại 
của động mạch hông và chiến lược điều trị các bệnh 
lý đó. 
Từ khóa: Sciatic, Persistent Sciatic Artery 
ABSTRACT: A persistent sciatic artery (PSA) is 
a rare vascular anomaly with an estimated indicence 
of 0,025-0,04 %. During early embryonic 
development, the sciatic artery usually disappears 
when the superficial femoral artery has developed 
properly. This study review 2 cases diagnosed this 
disorder in 2012-2013 at Viet Duc Hospital in order to 
assess the features of imaging, the clinical 
presentation of persistent sciatic artery and stratagies 
of treatment. 
1. Đặt vấn đề 
Tồn tại động mạch (ĐM) hông ở người trưởng 
thành (PSA) là một bất thường giải phẫu của hệ ĐM 
chi dưới được biết đến lần đầu tiên năm 1832 [1] và 
được mô tả trên phim chụp mạch máu năm 1960 bởi 
Cowie [2]. ĐM hông (Sciatic Artery-SA) là một 
nhánh của ĐM rốn, có vai trò cấp máu chính cho việc 
hình thành và phát triển chi dưới ở thời kỳ phôi thai, 
sau đó ĐM này dần bị thoái triển và thay thế bởi ĐM 
chậu và ĐM đùi [3]. Sự bất thường trong quá trình 
thoái triển của ĐM hông sẽ tạo nên sự tồn tại ĐM này 
ở người trưởng thành, có thể có những biến đổi giải 
phẫu của ĐM đùi kèm theo như giảm sản ĐM đùi, teo 
hoặc không có ĐM đùi nông và ĐM hông trở thành 
ĐM chính cấp máu cho toàn bộ hệ thống chi dưới. Sự 
bất thường có tồn tại ĐM này được gọi chung là sự 
tồn tại động mạch hông (PSA) [4],[5],[6]. 
Nhiều nghiên cứu của các tác giả nước ngoài đã 
chỉ ra rằng, đi kèm với sự tồn tại của ĐM hông có một 
tỷ lệ cao dị dạng phình mạch hoặc hình thành huyết 
khối trong lòng động mạch gây nên tình trạng thiếu 
máu chi dưới [7], [8],[9]. Ngoài ra, các bất thường 
khác có thể gặp như bất sản ống Muller (là dị dạng 
không có tử cung và bất thường phần trên của âm đạo: 
âm đạo ngắn) [10], dị dạng thông động tĩnh mạch 
[11], quá sản chi dưới hay có thể kèm giãn tĩnh mạch 
tinh ở người trẻ [12],[13]. 
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 
Nghiên cứu được thực hiện tại Khoa Chẩn đoán 
hình ảnh và Khoa Phẫu thuật tim mạch Bệnh viện Việt 
Đức từ tháng 12/2012 đến tháng 6/2013. 
2.1. Đối tượng nghiên cứu 
Tất cả những bệnh nhân được chẩn đoán bất 
thường động mạch chi dưới với sự tồn tại của động 
mạch hông trên chụp mạch CLVT 64 dãy chi dưới. 
Được điều trị phẫu thuật hoặc can thiệp nội mạch. 
2.2. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả 
cắt ngang chùm bệnh. * 
3. Kết quả nghiên cứu 
3.1. Bệnh án 1 
Bệnh nhân NGÔ THỊ X., nữ, 64 tuổi (MHS: 
I74/7599), không có tiền sử bệnh lý tim mạch. Bệnh 
nhân đau chân bên phải kéo dài hơn 1 năm, đau 
tăng khi đi lại, hai ngày trước khi vào viện thấy đau 
tăng lên từ hông trở xuống và kèm cảm giác tê bì 
bàn chân phải. 
Khám lâm sàng: 
- Huyết áp 120/70mm Hg, nhịp tim 90 chu 
kỳ/phút 
- Mạch mu chân phải bắt rõ 
- Không thấy loét hoặc hoại tử vùng cẳng, bàn 
chân hai bên 
Chẩn đoán lâm sàng: Thiếu máu mạn tính chân 
phải, giai đoạn Fontaine III 
* Khoa Chẩn đoán hình ảnh 
** Khoa Phẫu thuật tim mạch Bệnh viện Việt Đức 
Người chịu trách nhiệm khoa học: PGS.TS Đoàn Quốc Hưng 
Ngày nhận bài: 15/01/2014 - Ngày Cho Phép Đăng: 17/02/2014 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 GS.TS. Bùi Đức Phú 
TỒN TẠI ĐỘNG MẠCH HÔNG VÀ CÁC BỆNH LÝ LIÊN QUAN 
 27
b) 
c) 
d) 
e) 
a) 
Hình 1. Hình ảnh CLVT 64 dãy động mạch chi dưới 
a). Hình ảnh 3D hệ thống động mạch chi dưới (không có động mạch 
đùi nông hai bên), cấp máu cho chi dưới là ĐM chậu trong hai bên 
(ĐM hông). 
b, c). Đường đi của động mạch chậu trong và đoạn đi qua khuyết ngồi 
lớn hai bên. 
d). Huyết khối gây hẹp >50% ĐM chậu trong đoạn chạy ở mặt sau 
vùng đùi phải. 
e). Động mạch đi ở vùng đùi sau hai bên. 
Hình ảnh CLVT 64 dãy động mạch chi dưới: 
Không có ĐM đùi hai bên, ĐM chậu trong chạy ra sau qua khuyết ngồi lớn đến cấp máu cho toàn bộ chi 
dưới. Vữa xơ và huyết khối gây hẹp >50% lòng mạch của ĐM chậu trong đoạn chạy ở vùng đùi sau bên phải. 
Chẩn đoán xác định: Thiếu máu mạn tính giai đoạn III chân phải do huyết khối bán phần ĐM chậu trong 
đoạn đi qua vùng đùi sau/ Bất thường giải phẫu ĐM chi dưới thể tồn tại ĐM hông hoàn toàn hai bên 
Điều trị: Mở động mạch chậu trong đoạn đùi lấy được nhiều huyết khối cũ và mới (12/2012). Bệnh nhân 
hết đau chân phải sau 3 ngày. 
3.2. Bệnh án 2 
Lâm sàng: 
Bệnh nhân VŨ THỊ TH. nữ, 37 tuổi, khám bệnh ngoại trú, đau tức vùng tiểu khung bên phải, kiểm tra siêu 
âm ổ bụng phát hiện khối vùng tiểu khung bên phải, có nhiều cấu trúc mạch máu bên trong. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 6 - THÁNG 2/2014 
 28
Hình 2. Hình ảnh CLVT 64 dãy tiểu khung - chi dưới hai bên 
Chẩn đoán trên CLVT 64 dãy: 
Hình ảnh dị dạng thông động tĩnh mạch buồng trứng bên phải có cuống mạch đến xuất phát từ các nhánh 
của ĐM hông (đoạn chạy ở tiểu khung-ĐM chậu trong) / Bất thường giải phẫu ĐM chi dưới thể tồn tại ĐM 
hông hai bên. 
Điều trị: Bệnh nhân được dự kiến can thiệp nội mạch nút đường thông sau đó phẫu thuật nhưng bệnh nhân 
không đồng ý can thiệp (vì lý do kinh tế) yêu cầu được mổ. Bệnh nhân được phẫu thuật loại bỏ ổ dị dạng và cắt 
buồng trứng phải tháng 6/2013. 
4. Bàn luận 
4.1. Sự thường gặp về tồn tại động mạch hông 
Bất thường giải phẫu liên quan đến sự tồn tại của động mạch hông ở người trưởng thành rất hiếm gặp. Đây 
là 2 trường hợp đầu tiên được thông báo tại bệnh viện Việt Đức. Theo nghiên cứu của các tác giả nước ngoài: 
+ Tần suất gặp trong dân cư là 0,025 – 0,04% [14] 
+ 50% bên phải, 20% bên trái và 30% gặp ở hai bên [15] 
+ Không có sự khác biệt về giới, nam/nữ = 1 
+ Có thể gặp ở bất cứ lứa tuổi nào, trung bình là 44 tuổi 
4.2. Giải phẫu động mạch hông thời kỳ phôi thai và khi trưởng thành 
ĐM hông (SA) là một nhánh xuất phát từ ĐM rốn và là ĐM gốc cấp máu cho sự phát triển của chi dưới ở 
giai đoạn phôi thai, khi phôi thai có kích thước được khoảng 6mm. Đến tháng thứ 3, phần trên của ĐM này bị 
teo đi và thay vào đó là sự hình thành ĐM đùi xuất phát từ ĐM chậu ngoài còn ĐM rốn thì phát triển thành động 
mạch chậu trong. Phần còn lại của ĐM hông sẽ tồn tại đến khi đứa trẻ ra đời và phát triển thành: động mạch 
mông trên, phần xa của động mạch khoeo và động mạch mác [3]. Khi có sự bất thường tồn tại động mạch hông: 
TỒN TẠI ĐỘNG MẠCH HÔNG VÀ CÁC BỆNH LÝ LIÊN QUAN 
 29
ĐM này thường giãn lớn và chạy ngoằn ngoèo, ĐM chậu trong lúc này to hơn ĐM chậu ngoài và cấp máu cho 
chi dưới. ĐM đùi nông có thể có đường kính bình thường hoặc giảm sản hoặc không có động mạch đùi nông. 
Hình 3. Hệ thống động mạch cấp máu cho chi dưới bên trái thời kỳ phôi thai 
A. ĐM hông là một nhánh của động mạch rốn; B. ĐM hông thoái triển và hình thành ĐM chậu ngoài 
(có nhánh nối giữa ĐM hông và ĐM khoeo đoạn trên gối); C. ĐM hông bị teo hoàn toàn 
Đường đi của động mạch hông: ĐM hông chạy tiếp theo ĐM chậu trong và qua khuyết ngồi lớn, chạy phía 
trong so với thần kinh hông to, sau đó tiếp tục chạy phía trong cơ mông to và chạy dọc đường đi của cơ khép, 
cuối cùng nối với ĐM khoeo và nằm trong hố khoeo, nằm cạnh cơ khép lớn. 
Trong kết quả nghiên cứu của chúng tôi [Hình 1a] ĐM hông chạy tiếp theo ĐM chậu trong đi qua khuyết 
ngồi lớn, giãn lớn và chạy ngoằn ngoèo trên đường đi của chúng. 
4.3. Phân loại sự tồn tại bất thường của động mạch hông 
4.3.1. Phân loại dựa trên bất thường đơn thuần động mạch hông 
+ Không hoàn toàn: không có đường nối ĐM chậu trong và ĐM khoeo. 
+ Hoàn toàn: có đường nối trực tiếp giữa động mạch chậu trong với động mạch chày trước, chày sau và 
động mạch mác [3],[4],[6],[16]. 
4.3.2. Phân loại dựa trên bất thường của động mạch hông kèm theo bất thường động mạch đùi (phân loại 
của Pillet): Chia bất thường giải phẫu động mạch hông thành 5 thể: 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 6 - THÁNG 2/2014 
 30
Hình 4. Phân loại về sự tồn tại của ĐM hông theo Pillet et al [17],[ 18] 
Type I: tồn tại ĐM hông hoàn toàn và ĐM đùi bình thường. Type II: tồn tại ĐM hông hoàn toàn và kèm bất 
thường phát triển của ĐM đùi (2a: có ĐM đùi nhưng không nối với ĐM khoeo, 2b: không có ĐM đùi). Type III: 
tồn tại ĐM hông không hoàn toàn. Type IV: tồn tại ĐM hông không hoàn toàn 1 bên. Type V: ĐM hông phát 
triển từ ĐM trực tràng giữa (5a: ĐM đùi nông bình thường, 5b: ĐM đùi nông không phát triển) 
4.3.3. Bệnh lý liên quan đến sự tồn tại của 
động mạch hông, triệu chứng và chẩn đoán 
ĐM hông tồn tại, trở thành ĐM chính cấp 
máu cho chi dưới và thường không gây nên triệu 
chứng lâm sàng nếu đủ cấp máu cho chi dưới. 
Tồn tại ĐM hông chỉ biểu hiện triệu chứng 
lâm sàng khi xuất hiện: 
¾ Phình mạch và hoặc huyết khối lòng 
mạch: Biểu hiện lâm sàng là các khối phồng trên 
đường đi của mạch, hoặc dấu hiệu thiếu máu chi 
dưới với triệu chứng sớm là cơn đau cách hồi. 
¾ Dị dạng bẩm sinh khác phối hợp: bất sản 
ống Muller, là bất thường không có tử cung và dị 
dạng phần cao của âm đạo (âm đạo ngắn) [10], 
dị dạng thông động-tĩnh mạch vùng tiểu khung 
[11], phì đại chi dưới hay kèm với giãn tĩnh mạch 
tinh ở người trẻ tuổi [12],[13]. 
Vể chẩn đoán, chụp ĐM chi dưới bằng kỹ 
thuật số hóa xóa nền là phương pháp chẩn đoán 
chính xác và được xem là tiêu chuẩn vàng trong 
chẩn đoán. Tuy nhiên, đây là phương pháp chẩn 
đoán có tính chất xâm lấn, liên quan đến thuốc cản 
quang và mức độ tia xạ. Ngày nay, nhờ có máy 
chụp CLVT đa dãy đầu thu, việc tiếp cận chẩn đoán 
bằng chụp mạch CLVT là phương pháp chẩn đoán 
không xâm lấn, nhanh, chính xác và có thể dựng 
hình 3D toàn bộ hệ thống động mạch chi dưới. 
TỒN TẠI ĐỘNG MẠCH HÔNG VÀ CÁC BỆNH LÝ LIÊN QUAN 
 31
4.3.4. Chỉ định và kỹ thuật điều trị biến 
chứng của tồn tại ĐM hông 
Đối với các tổn thương phình mạch hoặc 
huyết khối lòng mạch: phình mạch ít có các biểu 
hiện lâm sàng, ngược lại các tổn thương huyết 
khối trong lòng mạch tiến triển tăng dần thường 
gây triệu chứng lâm sàng của thiếu máu chi dưới. 
Nguyên tắc điều trị là tái thông tuần hoàn qua vị 
trí tổn thương. Hai phương pháp điều trị được sử 
dụng là phẫu thuật và can thiệp nội mạch. Điều trị 
phẫu thuật thường gặp khó khăn khi khó tiếp cận 
với ĐM do đường đi của ĐM hông nằm ở vùng 
mông và vùng đùi sau. Can thiệp nội mạch là 
phương pháp điều trị ít xâm lấn, tỷ lệ thành công 
cao và hiệu quả điều trị tốt. Do đó điều trị bằng 
can thiệp nội mạch trong những trường hợp này 
thường có ưu thế hơn. Tuy nhiên, có cũng có hạn 
chế khi điều trị bằng can thiệp nội mạch đó là 
đường vào động mạch để tiếp cận với tổn thương. 
Little và cộng sự [19] đã tiến hành điều trị nội 
mạch thành công ở bệnh nhân thiếu máu chi dưới 
mạn tính bằng đường vào là ĐM khoeo cùng bên. 
Bệnh nhân Ngô thị X do khó khăn về đường vào 
can thiệp nên chúng tôi lựa chọn phẫu thuật lấy 
huyết khối, mặc dù mổ cũng không đơn giản do 
vị trí mạch chi dưới thay đổi, nằm sâu trong cơ, 
tuy nhiên kết quả lấy huyết khối cũng rất tốt 
Gabelman và cộng sự [20] cho rằng điều trị 
can thiệp nội mạch có tỷ lệ thành công cao, sử 
dụng đường vào tiếp cận tổn thương là động 
mạch khoeo cùng bên hoặc động mạch đùi nông 
bên đối diện. 
Đối với các tổn thương dị dạng mạch máu 
khác phối hợp như dị dạng thông động tĩnh mạch 
hay giãn tĩnh mạch tinh thì điều trị can thiệp là 
phương pháp được lựa chọn ban đầu cho phép 
điều trị triệt để các tổn thương hoặc được sử dụng 
để hạn chế chảy máu trước khi phẫu thuật đối với 
các dị dạng thông động-tĩnh mạch lớn phức tạp 
với nhiều cuống động mạch cấp máu. Tuy nhiên, 
cũng giống như các trường hợp phình mạch và 
huyết khối, lựa chọn đường vào để can thiệp vào 
tổn thương cũng gặp khó khăn do biến đổi giải 
phẫu. Bệnh nhân Vũ thị H có chỉ định rất tốt để 
nút mạch, tuy nhiên bệnh nhân lại không đồng 
thuận chủ yếu do sợ nếu can thiệp nội mạch 
không thành công, vừa mất tiền rồi lại cũng vẫn 
phải mổ, đồng thời can thiệp nội mạch lại chưa 
được thanh toán bảo hiểm. Đây là nét hết sức đặc 
thù tại Việt Nam 
 (a) (b) (c) 
Hình 5. Hẹp nặng ĐM hông bên trái đoạn chạy ở vùng đùi sau (a), (b). Điều trị bằng can thiệp nội mạch với 
đường vào là ĐM khoeo cùng bên (c) [19]. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 6 - THÁNG 2/2014 
 32
5. Kết luận 
Sự tồn tại của ĐM hông là một bất thường giải 
phẫu hiếm gặp. Thường kèm theo bất thường của 
động mạch đùi như giảm sản hoặc không có động 
mạch đùi nông. Bệnh lý liên quan đến sự tồn tại của 
ĐM hông có thể gặp là huyết khối trong lòng mạch 
gây thiếu máu chi dưới mạn tính hay phình mạch, 
thông động tĩnh mạch. Chỉ định điều trị khi có biểu 
hiện lâm sàng liên quan đến các loại bệnh lý kể trên. 
Hai phương pháp được áp dụng điều trị các bệnh lý 
liên quan đến sự tồn tại của ĐM hông là phẫu thuật và 
can thiệp nội mạch, lựa chọn phương pháp điều trị tuỳ 
thuộc vào hình thái tổn thương, kinh nghiệm điều trị 
và sự phối hợp giữa các chuyên khoa, hiểu rõ biến đổi 
giải phẫu của động mạch góp phần quan trọng vào 
thành công của điều trị. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Green P. (1832), “On a new variety of the 
femoral artery”, Lancet, p.1730–1732. 
2. Cowie T.N., Mckellar N.J., McLean N., Smith 
G., (1960), “Unilateral congenital absence of the 
external iliac and femoral arteries”, Br J Radiol, 
33:520–522. 
3. Sidway A.N. (2005), “Embryology of the vascular 
system In: Rutherford R.B., editor. Vascular surgery. 
6th ed. Elsevier”, Philadelphia, p. 53–63. 
4. Kritsch D., Hutter H.P., Hirschl M., 
Katzenschlager R. Persistent sciatic artery 
(2006), “An uncommon cause of intermittent 
claudication”. Int Angiol 25(3):327–329. 
5. Patel S.N., Reilly J.P. (2007), “Persistent sciatic 
artery – a curious vascular anomaly”, Catheter 
Cardiovasc Interv, 70(2):252–255. 
6. Brancaccio G., Falco E., Pera M., Celoria G., 
Stefanini T., Puccianti F. (2004), “Symptomatic 
persistent sciatic artery”. J Am Coll Surg, 
198(1):158. 
7. Hiki T., Okada Y., Wake K., Fujiwara A., Kaji 
Y. (2007), “Embolization for a bleeding pelvic 
fracture in a patient with persistent sciatic 
artery”, Emerg Radiol, 14(1):55–57. 
8. Littler P., Blair S.D., Lea S. (2007), “Angioplasty 
via retrograde popliteal approach in a stenosed 
persistent sciatic artery”, Eur J Vasc Endovasc 
Surg. 34(6):719–722. 
9. Shiwan K.S., Nghi B.P., Snehal D., Richardson 
C.J. (2008), “Symptomatic persistent sciatic 
artery in a newborn”, J Pediatr Surg, 
43(9):1741–1744. 
10. Agrawal AK., Gupta SK., Khanna S., Goel AK 
(1982), “Perisistent primitive sciatic artery 
associated with Mullerian agenens and solitary 
kidney”, Int Surg, 67(3) 277-8. 
11. Kurtoglu Z., Uluutku H. (2001), “Persistent 
sciatic vessels associated with an arteriovenous 
malformation”, J Anat, 199(3) 349-51. 
12. Wright FW. (1964), “Persistent axial sciatic 
artery of the lower limb in association with 
hemihypertrophy”, Clin Radiol, (15) 291-2. 
13. Williams LR., Flangian DP., O’Connor RJ., 
Schuler JJ. (1983), “Persistent sciatic artery. 
Clinical aspects and operative mangement”, Am J 
Surg, 145(5) 687-93. 
14. Donovn D.L., Sharp W.V. (1984), “Persistent sciatic 
artery: two cases reports with emphasis on 
embryologic development”, Surgery,95(3):363–366. 
15. SreeKumar K.P., Prabhu N.K., Moorthy S. 
(2004), “Bilateral persistent sciatic artery: 
demonstration of the anomaly and its 
complications with intra arterial contrast 
enhanced spiral CT”, Indian J Radiol Imaging, 
14:205–207. 
16. Como J.J., Cooper C., Mirvis S.E., Scalea T.M. 
(2005), “Penetrating trauma to a persistent sciatic 
artery”, J Trauma,59(1):246–248. 
17. Pillet J, Abaret P, Toulemonde JL., Cronier P., 
Raimbeau G., Chevalier JM. (1980), “Tronc 
Artériel ischiopoplite, persistance de l’artère 
axiale”, Bull Assoc Anat, 64:109-22. 
18. Gauffre S., Lasjaunias P., Zerah M. (1994), “ 
Sciatic artery a case, review of literature and 
attempt of systematization”, Surg Radiol Anat, 
16(1):105-9. 
19. Littler P., Blair S.D. and Lea S. (2007), 
“Angioplasty via Retrograde Popliteal approach 
in a stenosed persistent sciatic artery”, Eur J Vasc 
Endovasc Surg, 34, 719-722. 
20. Gabelman A., Kramer S., Wisianowski C., 
Tomczak R., Pamler R., Gorich J. (2001), 
“Endovascular interventions on persistent sciatic 
arteries”, J Endovasc Ther, 8, 622-628. 

File đính kèm:

  • pdfton_tai_dong_mach_hong_va_cac_benh_ly_lien_quan.pdf